Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm qua đời, hưởng thọ 87 tuổi

Xin mời  các quý bạn nghe câu chuyện về nhạc sỹ và thưởng thức nhạc phẩm “Gửi người yêu dấu ” qua giọng hát Thanh Hà”.
Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm, tác giả “Gọi Người Yêu Dấu,” vừa qua đời tại San Jose, miền Bắc California, vào sáng Thứ Hai, 24 Tháng Bảy 2017, hưởng thọ 87 tuổi.
Ông Vũ Ngọc Bích, bào đệ của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm cho báo Người Việt biết tin này.
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh ngày 30 Tháng Sáu năm 1930 tại Nam Định. Ông gia nhập quân đội năm 1951, theo học khóa 1 trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, cấp bậc cuối cùng là Trung Tá, Huấn Luyện Viên Tiếp Vận, Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Đà Lạt- Long Bình, quân đội VNCH.
Sau 1975, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm bị tù trại tập trung của cộng sản suốt 13 năm. Cuối năm 1990, ông cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị.
Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, trong những năm gần đây nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đã thực hiện các CD Tôn Vinh Ca và 2 CD: Mùa Xuân Thung Lũng Hoa Vàng và Dòng Sông Đứng Lại (cộng tác với nhạc sĩ Phạm Anh Dũng).
Năm 2002, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm được thành phố Santa Clara, California, tuyên dương và trao giải thưởng đặc biệt dành cho những nghệ sĩ cao niên đã phục vụ nghệ thuật trên 50 năm, đã tạo thành tích ở Việt Nam và tiếp tục sau khi định cư ở Hoa Kỳ.
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm qua đời vì bệnh ung thư máu, sau một thời gian dài chữa trị.

Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo

Triết gia Trần Đức Thảo. Photo courtesy Diễn đàn CTM

Phùng Quán

(1932-1995)Anh Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học, bạn tôi từ mấy chục năm nay. Anh vừa là học trò, vừa là hàng xóm của triết gia Trần Đức Thảo, trước ở ngõ Hàng Chuối và sau này ở khu tập thể Kim Liên. Anh kể:

– Mình đang ngồi dịch sách bỗng ngửi thấy mùi cháy khét. Nhìn sang buồng thầy Thảo, thấy khói tuôn ra các ngách cửa. Mình hốt hoảng xô cửa vào. Cả gian buồng mờ mịt khói. Lạ lùng nhất là thầy Thảo đang đứng bên cửa sổ, giữa đám khói, hai tay vung vẩy, miệng lẩm bẩm độc thoại, như đang trình bày một vấn đề gì đó với cả đám đông vô hình trước mặt. Mình gọi giật: “Anh Thảo! Anh Thảo! Buồng anh cái gì cháy thế?”. Anh Thảo giật mình vẻ ngơ ngác như vừa bị đánh thức khỏi cơn mê ngủ: “Cháy à? Cái gì cháy; ở đâu nhỉ? Ờ… ờ… khói ở đâu mà nhiều thế?”. “Thì khói ngay trong buồng anh chứ đâu”. Mình xông vào giữa đám khói, tìm quanh gian buồng. Một lúc mới phát hiện ra cái bếp dầu nằm khuất sau tủ sách, trên bếp một cái xoong nhôm bị nung đỏ rực. Té ra thầy nấu cơm, cơm cạn, quên cả đậy vung, quên cả tắt bếp. Xoong cơm nấu một bữa ăn cả ngày, cháy thành than và đang bốc mùi mù khét lẹt. Phải vất vả lắm mình mới tắt được cái bếp dầu nóng rẫy, và bưng được cái xoong than cơm ra khỏi buồng. Mình không bưng thì thầy có thể dùng tay không mà bê cái xoong… “Anh đang làm gì mà mải mê thế?”. Mình hỏi. Thầy gỡ cặp kính ra khỏi mắt, lau lau vào vạt áo, nói: “Mình đang chú giải một chương hết sức lý thú và quan trọng trong toàn bộ trước tác của Hê-ghen…”. Rồi thầy ngồi luôn vào bàn viết… như không còn nhớ gì đến vụ hỏa hoạn chết người suýt nữa xảy ra.

Thầy ở tầng gác ba. Các gian buồng ở khu tập thể được thiết kế rất giống nhau. Một buổi trưa thầy đi chợ về, tay xách cái làn đựng mớ rau muống, mấy bìa đậu phụ, chai nước mắm… Mới trèo lên đến tầng hai, thấy gian buồng cạnh cầu thang cửa khép hờ, thầy đẩy cửa bước vào; cửa buồng của thầy cũng thường khép hờ như vậy.

Người đãng trí thì thi thoáng cũng có thể vào nhầm buồng. Nhưng vừa bước vào họ đã nhận ra ngay. Thầy Thảo thì không. Mặc dầu vật dụng trong buồng này sang trọng gấp mười vật dụng trong buồng của thầy. Riêng cái giường của thầy, hẹp mà trải chiếc chiếu mốc meo. Còn buồng này giường rộng gấp đôi, trải vải hoa sặc sỡ. Thầy thản nhiên để cái làn xuống nhà, nằm lăn ra giường, mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà, và thượng cả hai chân lấm bụi lên vải hoa. Chị chủ nhà quét tước ngoài hành lang, bước vào, trố mắt nhìn: “Anh Thảo vào chơi lúc nào mà em không để ý?”. Thầy hơi ngẩng đầu lên, nhìn chị chủ nhà, mặt nhăn lại, nói: “Xin lỗi chị, tôi vừa đi về hơi mệt. Có gì cần trao đổi, mời chị đến chiều…”. “Nhưng đây là phòng nhà em kia mà?”. Thầy hốt hoảng ngồi dậy, nhìn quanh buồng, vẻ ngơ ngác: “Ừ nhỉ, chết thật! Đúng là tôi nhầm… Thành thật xin lỗi chị…”.

“Một hôm, thầy gọi mình sang – Hạo kể – Tôi đọc em nghe cái này, rồi em góp ý kiến xem, tôi viết thế đã được chưa”… Mình chuẩn bị để nghe một thiên khảo luận triết học.

Nhưng té ra là một bức thư gửi Uỷ ban nhân dân khu phố và ban lãnh đạo khối phố. Thư được viết với văn phong chuẩn mực, chính xác của một thiên bút ký triết học. Nội dung tóm tắt của bức thư như sau: “Sau khi bố tôi mất, trong khu phố có dư luận Trần Đức Thảo đối xử với bố không tốt, bố ốm không thuốc men; chăm sóc không chu đáo nên bệnh tình ngày càng trầm trọng… Tôi xin thanh minh là dư luận đó không đúng. Tôi đã nuôi dưỡng bố tôi rất tận tình, lúc bố tôi ốm, tôi lo chạy chữa thuốc men đầy đủ, mặc dầu hoàn cảnh kinh tế rất eo hẹp. Nếu cần thiết, Uỷ ban cho người đến điều tra các hộ hàng xóm để xác minh ý kiến trình bày của tôi v.v…”. Mình ngồi ngẩn ra, nhìn thầy và tự hỏi: “Không biết thầy đã điên chưa đây?”. Mình hỏi: “Nhưng việc này cần thiết gì mà thầy phải mất công đến như vậy?”. Thầy nhìn mình, mắt chớp chớp sau cặp kính trắng, có vẻ lấy làm lạ sao cậu học trò mình lại đặt ra một câu hỏi ngu ngốc thế? Thầy cẩn thận gấp bức thư đút vào phong bì, nói: “Việc này theo tôi rất cần thiết. Để chính quyền người ta khỏi hiểu nhầm đạo đức của người trí thức”.

Sau ngày ông cụ mất ít lâu, thầy muốn dẹp bỏ những vật dụng thường dùng của bố, vì gian buồng quá chật chội. Nhưng một mình thầy không đủ sức chuyển những vật dụng khá nặng từ tầng gác ba xuống sân.

Một buổi trưa, thầy đi đâu về, thấy mấy chị buôn chè chai đồng nát ngồi túm tụm trên bãi cỏ, soạn xếp những vật dụng mua được. Thầy quan sát có rất nhiều thứ mà mình đang muốn bỏ đi. Thầy nói với các chị: “Tôi có một số đồ đạc bỏ đi giống những thứ này, nhưng không mang xuống được. Tôi muốn nhờ các chị khiêng giúp, có được không?”.

Các chị vui vẻ nhận lời ngay. Giường, tủ buýp-phê, ghế đẩu, ghế tựa, chậu thau, chăn màn, áo quần, giày dép… được đưa xuống, chất thành một đống lớn. Các chị lại còn giúp thầy quét tước gian buồng khá tươm tất. Thầy rất cảm động trước lòng tốt và nhiệt tình của các chị. Thầy nói: “Tôi muốn phiền các chị mang những đồ đạc đó ra khỏi sân. Vứt ngổn ngang ở đó, bà con trong khu tập thể họ phê bình làm mất trật tự, vệ sinh công cộng. Tiền công bao nhiêu, các chị cho tôi biết”. Các chị nói: “Chị em chúng tôi thấy hoàn cảnh bác neo đơn, dọn dẹp giúp bác, chẳng phải công xá gì đâu ạ”. Một giáo sư đại học ở tầng trên, nhìn xuống đống đồ đạc dưới sân, tiếc ngẩn người: “Giường tủ, chăn màn còn tốt thế kia, sao ông ấy lại không nhờ mình khiêng giúp!”. Còn thầy thì phấn khởi ra mặt vì khỏi tốn đồng tiền công nào mà giải quyết được một việc sức mình không sao giải quyết nổi.

Thầy gọi Cao Xuân Hạo sang xem gian buồng vừa được dọn sạch đồ đạc gật gù đắc ý: “Bà con lao động thật tốt, thật từ tâm, thật đáng kính trọng”.

Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen… “Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây dợ xong, bật lên thấy đang chiếu cánh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to được tặng huân chương Độc lập hạng hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu, toàn bộ cấp cao, có danh giá đến dự… Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cư ỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc? Mặt cứ vác lên trời, đạp xem thinh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nắng nom vất vả thế… ế… ế…”. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái “poócbaga”, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi ná rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh, chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai”. Bà cụ chép miệng thương cảm: “Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”.

Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: “Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti vi…”. Bà già bĩu môi: “Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!”.

Phùng Quán
Nguồn: viet-studies.info

Quay cổ tay chữa nhiều bệnh, bí quyết đơn giản nhưng ít người biết

Vị trí cổ tay có liên quan đến các đốt sống cổ chi phối nhiều bệnh, như thiếu máu não, đau đầu, căng thẳng, mất ngủ, cao huyết áp, yếu thần kinh, đãng trí, ngất xỉu, chứng mệt mỏi, thoái hóa… Do vậy chỉ cần tác động đến cổ tay, thì cột sống cổ sẽ chịu ảnh hưởng, sẽ giúp điều trị các bệnh nói trên.

Trước hết, hãy tìm hiểu đôi chút về cấu tạo của cột sống cổ. Cột sống có 32 – 33 đốt, trong đó 7 đốt sống cổ từ C1 – C7, đốt C1 còn gọi là đốt đội, đốt C còn gọi là đốt trục. Cột sống cổ có dạng đường cong ưỡn ra trước. Thân đốt sống có đường kính ngang lớn hơn đường kính trước – sau, ở mặt trên có hai mỏm móc hay gọi là “mấu bán nguyệt”, cuống sống tròn và dày, mỏm ngang có lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua, từ C2. Gai sống tách làm hai củ dài dần từ C2 – C7. Lỗ đốt sống to dần từ C1 – C5, nhỏ dần từ C6 và C7.

Sự liên quan của 7 đốt sống cổ với cơ quan nội tạng và bệnh lý

Theo y học, mỗi đốt sống liên quan đến những cơ quan và các bệnh khác nhau trong cơ thể:

  • Đốt sống cổ C1: Cung cấp máu cho não – Tuyến yên – Tai trong – Hệ thần kinh giao cảm. Đau đầu, căng thẳng, mất ngủ, cao huyết áp, yếu thần kinh, đãng trí, ngất xỉu, chứng mệt mỏi.
  • Đốt sống cổ C2: Mắt – Dây Thần kinh mắt – Tĩnh mạch – Tai giữa – Lưỡi. Viêm xoang, chảy nước mũi xanh, đau tai, ù tai, lãng tai, điếc, mờ mắt, đau mắt.
  • Đốt sống cổ C3: Má – Tai ngoài – Răng – Xương miệng. Các bệnh về răng miệng, tai
  • Đốt sống cổ C4: Mũi – Môi – Miệng – Tai trong. Sốt nóng lạnh, chảy nước mũi, ù tai, lãng tai, viêm yết hầu, sưng Amidan.
  • Đốt sống cổ C5: Dây thanh quản – Yết hầu. Viêm thanh quản, viêm cổ họng, khan tiếng, nhức vai.
  • Đốt sống cổ C6: Cơ gáy – Cơ vai – Amydan. Mỏi gáy, tê tay, viêm Amydan, thượng vị, viêm thanh quản, ho liên tục.
  • Đốt sống cổ C7: Tuyến giáp – Vai – Khớp cù trỏ. Cảm cúm, viêm tinh hoàn, viêm, giãn nở tuyến giáp.

Vì vậy, khi có các đốt sống bị các tổn thương do thoái hoá, viêm, u, chấn thương cột sống cổ, phong cách sinh hoạt thiếu khoa học, dùng cổ chịu tải trọng quá mức, sử dụng bàn ghế không đúng quy cách buộc cổ phải thường xuyên ở tư thế không đổi, quá gù, quá ưỡn… sẽ dẫn đến các bệnh lý tương ứng.

Theo lý luận Đông y và một số môn khí công tu luyện Đạo gia, thân thể con người được xem như là vũ trụ thu nhỏ, đồng thời là đối ứng với vũ trụ rộng lớn bên ngoài (bạn đọc có thể nghiên cứu thêm vấn đề này trong cuốn Chuyển Pháp Luân [1]). Cơ thể cũng có những bộ phận đối ứng ví như: não người đối ứng với vũ trụ, cổ tay đối ứng với cổ gáy, sống chân đối ứng với sống lưng, loa tai đối ứng với bào thai ngược

Sự đối ứng tương quan giữa bào thai và loa tai

Trương Huyền – một học giả chuyên nghiên cứu về bách khoa sức khỏe (ở Trung Quốc) cho biết, con người bẩm sinh đã có khả năng tự chữa bệnh, cho phép duy trì thể trạng khỏe mạnh, hệ thống này được liên tục tái tạo qua thời gian. Vì vậy một khi tác động đúng cách lên một phần nào đó của cơ thể, nó sẽ có khả năng tự điều chỉnh phần cơ thể bị mất trạng thái cân bằng (chúng ta gọi là bệnh) đối ứng với phần đó.

Tương đồng giữa mô hình tế bào não bộ (Ảnh: Shutterstock) và mô phỏng phân bố vật chất quy mô lớn trong thiên hà (phát sáng) của Millenium (Ảnh: Wikimedia Commons)

Sử dụng nguyên lý đối ứng này chính là lời giải cho câu hỏi vì sao chỉ cần quay cổ tay cũng đã chữa được nhiều bệnh, chính xác là phòng và chữa các bệnh liên quan đến các đốt sống cổ.

Cách thực hiện

Theo nghiên cứu của GSTSKH Bùi Quốc Châu:

  • Chúng ta chỉ cần quay cổ tay 200 lần (theo chiều thuận nhất của mỗi người), ngày làm từ 3 – 4 lần cho các bệnh khó và mãn tính.
  • Đối với thoái hóa đốt sống cổ: mỗi lần quay độ 200 cái, ngày quay 3 lần. Trong khoảng 2 – 3 tuần thì hết bệnh. Một yêu cầu quan trọng trong việc quay cổ tay chữa bệnh cho cổ, gáy là khi quay bàn tay, ngón tay cái phải nằm trong 4 ngón tay còn lại, thì bàn tay mới đồng hình/đồng ứng với đầu, hiệu quả chữa bệnh cho cổ, gáy, đầu mới đạt được (nắm tay theo hình trên). Còn trường hợp ngón tay cái chìa ra, nằm ngoài 4 ngón kia thì bàn tay lại đồng ứng với quả tim, tức chỉ liên quan đến các bệnh về tim.

Quay cổ tay có những tác dụng sau:

  • Điều hòa nhiệt độ cơ thể: tùy lúc mà cần nóng hay cần mát người (từng bộ phận của cơ thể cho đến toàn thân).
    An thần, giúp tạo giấc ngủ dễ dàng. Quay cổ tay chừng 3 phút sau là rất buồn ngủ.
  • Làm hồng hào da mặt.
  • Làm tiêu u, tiêu bướu ở các bộ phận trong cơ thể..
  • Làm mạnh sinh lý (cho cả nam lẫn nữ).
  • Giảm sưng đau xương khớp. Trị thoái hóa cột sống cổ; viêm khớp khó co bóp các ngón tay, chân.
  • Làm mạnh gân cốt. Trị liệt chân không đi được do tai biến mạch máu não: Quay cổ tay 200 cái nhưng làm đến 5 lần một ngày.
  • Làm săn chắc da thịt.
  • Lưu thông khí huyết bị bế tắc trong cơ thể.

Chú ý:
Quay Cổ Tay là phương pháp mang cả 2 tính Âm và Dương:
– Tay xoay theo chiều kim đồng hồ là chiều Dương, làm nóng người. Trái lại, xoay ngược chiều kim đồng hồ là chiều Âm, làm mát người.
– Khi quay cùng lúc cả 2 tay với tay trái theo chiều kim đồng hồ (Dương) thì theo phản xạ, tự động tay phải sẽ xoay ngược chiều kim đồng hồ (Âm) tức cân bằng Âm Dương, bình ổn nhiệt độ trong người. Trái lại, khi tay trái xoay ngược chiều kim đồng hồ (Âm), tay phải tự động xoay thuận chiều kim đồng hồ (Dương) tức cũng cân bằng Âm Dương.
– Riêng về trường hợp cần làm ấm, nóng người, xoay tay theo chiều Dương, thì cơ thể có thể ấm, nóng lên rất nhanh nếu ta quay nhiều lần, cho nên phải cẩn thận theo dõi kỹ cơ thể để biết hạn chế đúng lúc. Không nên làm quá nhiều để tránh tác dụng phụ không mong muốn là sinh u nhọt do nóng nhiệt trong người.

Cao Sơn/Daikynguyen

Triều Tiên có bao nhiêu vũ khí hạt nhân

Các vụ thử tên lửa mới đây của chính quyền Kim Jong Un thu hút sự chú ý cao độ từ thế giới, đặc biệt là từ Tổng thống Donald Trump. 

Triều Tiên, vũ khí hạt nhân Triều TIên
Ảnh: AP

Chủ tịch Triều Tiên xác định nhiệm vụ của ông là tăng cường số lượng vũ khí hạt nhân trong kho, và đã tiến hành một loạt các vụ thử.

Vậy đến nay Bình Nhưỡng có bao nhiêu vũ khí hạt nhân?

Mùa hè năm nay, Triều Tiên đã 2 lần phóng thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) – được đánh giá là có tầm bắn tới lãnh thổ Mỹ.

Lầu Năm Góc ước tính Triều Tiên có xấp xỉ 200 bệ phóng tên lửa dùng để bắn các tên lửa tầm ngắn và tầm trung.

Các ước tính cập nhật cho rằng Triều Tiên đang nắm giữ 13-21 tên lửa, và nước này được tin là có 4 đầu đạn. Mỗi vũ khí được tin là có sức nổ bằng một nửa của loại mà Mỹ đã triển khai khi chống Nhật hồi Thế chiến II.

Những hình ảnh vệ tinh mới đây về địa điểm thử tên lửa chủ chốt của Triều Tiên cho thấy các vũ khí của nước này uy lực hơn nhận định ban đầu. Phân tích kỹ các địa điểm thử tên lửa, kết hợp sử dụng hình ảnh vệ tinh Planet, càng thấy rõ chính quyền Kim Jong Un đang ra sức tăng cường kích cỡ các tên lửa tự tạo.

ABC News dẫn thông tin từ Cơ quan Nghiên cứu của Quốc hội Mỹ cho biết, Triều Tiên được tin là có 30-40 kg plutonium đã tách.

Thae Yong-ho – một quan chức ngoại giao Triều Tiên đào tẩu sang Hàn Quốc – tiết lộ trong một cuộc họp báo hồi tháng 12 rằng Chủ tịch Kim Jong-un lên kế hoạch sẽ có được vũ khí hạt nhân trong vòng 12 tháng tới. Người này nói hồi cuối năm 2016: “Chừng nào Kim Jong Un còn nắm quyền, Triều Tiên sẽ không bao giờ từ bỏ vũ khí hạt nhân, kể cả nếu được đổi lấy 1 nghìn tỷ hay 10 nghìn tỷ USD”.

Hình ảnh vệ tinh cho thấy Triều Tiên còn bí mật xây các đảo nhân tạo để sử dụng làm căn cứ quân sự trong trường hợp nổ ra chiến tranh hạt nhân.

Đối với Triều Tiên, giai đoạn then chốt là có thể thu các đầu đạn hạt nhân đủ nhỏ để lắp vừa lên tên lửa ICBM có thể bắn tới Mỹ.

Triều Tiên sẽ nhắm tới mục tiêu nào nếu tấn công tên lửa?

Các tên lửa Musudan của Triều Tiên với tầm bắn 5.600km đủ sức tấn công các căn cứ không quân và hải quân Mỹ ở Guam cũng như bất kỳ địa điểm nào ở Hàn Quốc và Nhật Bản – hai đồng minh then chốt của Washington trong khu vực.

Tự Triều Tiên tuyên bố có thể bắn tới Mỹ và đưa ra đe dọa tương tự sau khi ông Trump chế nhạo chương trình hạt nhân của nước này.

Triều Tiên, vũ khí hạt nhân Triều TIên
Ảnh: Reuters

Các vụ thử ICBM thành công trong tháng 7 của chính quyền Kim Jong Un chứng tỏ Triều Tiên đã tiến một bước dài trong tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa.

ICBM có tầm bắn tối thiểu khoảng 5.500 km nhưng một số được thiết kế để di chuyển 10.000km hoặc xa hơn. California cách Triều Tiên xấp xỉ 9.000km. Và bất kỳ ICBM nào cũng gần như chắc chắn có thể bắn tới Hawaii và Alaska.

Sẽ có chiến tranh?

Các cuộc xung đột vũ trang nào giữa Mỹ và Triều Tiên cũng sẽ gây bất ổn vùng Viễn Đông, với Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc và Nhật Bản nhiều khả năng trở thành các chủ thể chính tham gia.

Trong bài viết hồi tháng 4, Jim Walsh – chuyên gia về an ninh quốc tế và hiện đang làm việc cho Chương trình Các nghiên cứu An ninh của Viện Công nghệ Massachusetts – nhận định chiến tranh khó có thể xảy ra như nhiều người cảnh báo.

“Triều Tiên không muốn một cuộc chiến tranh, bởi vì nước này biết sẽ thua và thua đậm. Đồng nghĩa với dấu chấm hết dành cho chính quyền Kim Jong Un” – ông diễn giải.

Chuyên gia này cho biết thêm, Trung Quốc và Hàn Quốc cũng không hề muốn xảy ra một cuộc chiến với đất nước chung biên giới và kéo theo đó là dòng người tị nạn Triều Tiên. Bên cạnh đó, một cuộc chiến quy mô lớn có thể sẽ gây tổn hại cho uy tín của Tổng thống Donald Trump.

Dù vậy, Tiến sĩ Walsh cảnh báo những cuộc tập trận hùng hậu cùng thực trạng tiếp xúc sơ sài có thể dẫn tới “cuộc chiến không chủ định”. Ông nhận định thêm, Chủ tịch Kim Jong Un có thể còn sử dụng kho đạn hạt nhân nếu nghi ngờ phương Tây thực hiện một cuộc tấn công phủ đầu để tàn phá sức mạnh quân sự của Bình Nhưỡng.

Thanh Hảo,VNNet

Quốc gia Ba Đình, và Hà Nội

Image result for quảng trường ba dình hanoi images

Lê Lô

Tôi từng ra Hà Nội sống và làm việc một năm đầu thế kỷ 21. Tôi quen sống ở Sài Gòn, thích cái không khí tưng tưng ngang dọc (và ngang ngạnh) của trời Nam, nay phải đến một nơi mà đối với tôi không khác gì mấy một nước ngoài, nên không khỏi có phần hồi hộp. Thật ra, những người từng đi nhiều thì đến một nước khác họ cũng không hồi hộp. Ở Paris qua New York làm việc, hay ngược lại, bất quá chỉ cần làm quen với phố xá dăm bữa nửa tháng là đâu vào đó. Lối sống ở các nước phương Tây không khác nhau mấy, quan trọng nhất là lối hành xử và suy nghĩ của họ cũng na ná, không nếu không na ná thì người ta cũng tôn trọng sự khác nhau. Làm việc ở Hà Nội có khác. Đó là nơi mà có lần, nhà văn Tưởng Năng Tiến viết như thế này: “Tôi chưa bao giờ đến Hà Nội, và cũng chưa bao giờ cảm thấy có chút xíu nào hào hứng khi nghĩ đến thành phố này. Đường thì xa, vé tầu thì đắt, thủ tục thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì … chết mẹ.”

Quả thật, Hà Nội đại để cũng cho một thằng dân miền nam cái cảm cảm giác đó. Không phải tôi tưởng tượng mà có kinh nghiệm đàng hoàng với nó ít nhất là hai lần. Lần đầu, năm 1993, mới chân ướt chân ráo đến Hà Nội thì đúng 11 giờ đêm, hai công an chìm đến gõ cửa phòng khách sạn, nói là đến “hỏi thăm và bảo vệ khách”. Sáng hôm sau tôi đổi vé máy bay và dông tuốt về Sài Gòn. Lần thứ hai theo một công ty nước ngoài về làm việc hai ngày. Trong hai ngày đó tiếp xúc với mấy đảng viên cở trung trung đang phụ trách công tác tư tưởng của cả nước, sau hai ngày thì tôi bịnh đúng một tuần vì căng thẳng. Tóm lại, trong cuộc đời bá láp này, tôi đã học rất nhiều tốt đẹp từ sách vở về thủ đô Thăng Long, nhưng học ở thực tế Hà Nội thì toàn là chuyện chó má. Hai kỷ niệm ‘sâu sắc’ về Hà Nội ấy khiến tôi đã lẩm bẩm thề với cụ rùa nơi Bờ Hồ, buổi chiều trước khi ra phi trường Nội Bài, “vĩnh biệt cha nội, một đi không trở lại.”

Ấy vậy mà không biết ai xúi bậy hay sao mà lần này, tôi lại… hướng về Hà Nội! Mà lại chịu ở đến một năm trời.

Trong một năm trời đó, tôi đã đi hầu hết các tỉnh thành miền Bắc (trừ Điện Biên Phủ), rồi lần vào Bắc Trung Việt, qua Thanh Hóa, Vinh, vào Quảng Bình. Hết một năm, chuyển vào Nam làm việc ở Sài Gòn tiếp hai năm nữa. Lần này, lại đi khắp Nam kỳ lục tỉnh. Không phải đi không mà là làm việc ở các tỉnh đó. Vì lý do công việc, tôi không đi khơi khơi để cưỡi ngựa xem hoa mà thực sự là ở và làm việc, trên nhiều miền đất nước trong suốt thời kỳ quá độ từ thời đại Hồ Chí Minh (quang vinh) đến thời đại @ (a-còng) láng cóng, dưới ách cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quốc gia trong lòng thủ đô

Hà Nội có một quốc gia trong một quốc gia.

Quốc gia ở đây không như cách định nghĩa hàn lâm của các nhà làm luật – phân biệt quốc gia-nhà nước (nation-state) – mà theo cách hiểu thông thường: quốc gia là một nước có biên giới địa lý riêng (có hoặc không có chủ quyền).

Khi bạn đến một nước lạ, cảm giác như thế nào? Có phải có cái cảm giác tưng tưng, nghĩa là mình không thuộc vào đâu cả, mình thuộc những người đứng bên bờ giậu ngó qua nhà hàng xóm đang sinh hoạt (buồn tẻ hay náo nhiệt), mình có cái cảm tưởng không ai biết đến mình và đồng thời như tất cả đang ngó mình chăm chẳm, mình có cái cảm giác lành lạnh khi ngồi lủi thủi nhai cơm một mình, hoặc chông chênh dù đang trò chuyện với người bản xứ, và rất thường xuyên là thấy là lạ dửng dưng khi ngắm nhìn một cảnh nào đó, một di tích hay một cơ ngơi nào đó, của xứ người.

Chính Hà Nội đã cho tôi cảm giác đó, không phải được (hay bị) coi là người ngoại cuộc, mà chính nhiều người Hà Nội, những thường dân và ngoại dân (sống ngoài pháp luật), cũng có cảm tưởng đó, trong đời sống thường ngày của họ. Cái khác giữa họ và những người ở phương khác tới là, họ đã sống quen với cảm giác đó nên không buồn đặt tên, hoặc quá mệt mỏi với đời sống nên không muốn đào xới những gì không thuộc về hay làm nên cơm ăn áo mặc.

Hà Nội là một thành phố. Thành phố còn xa lạ với rất nhiều người miền Nam theo nhiều nghĩa dù đã gần ba mươi năm thống nhất. Nhưng lạ hơn nữa là nó cũng, ở một chừng mực nào đó, xa lạ ngay với những người ở miền Bắc. Không phải lạ đường lạc phố. Người ta có thể thông thuộc hết mọi ngả đường, các ngõ ngách, những địa hình đặc biệt của Hà Nội. Người ta có thể thông thuộc những cái ngõ luồn lách chật hẹp đằng sau và xuyên qua những phố cổ, những căn nhà chỉ có một phòng nằm ngay những địa chỉ danh tiếng gần bờ Hồ nhưng thực ra là khuất và rất sâu trong kiệt (hẻm). Nhưng người ta, những thường dân và phó thường dân Việt Nam, vẫn thấy nó không thực sự là thành phố của mình.

Nếu lấy lăng ông Hồ làm tâm điểm của Hà Nội, vạch một vòng tròn có bán kính một cây số để bao gồm những cơ ngơi của nhà nước như hội trường và quảng trường Ba Đình, các bộ, thì bầu khí xa lạ đậm đặc dần khi càng tới gần trung tâm. “Vị cha già dân tộc” nằm trong cái lăng được xây theo kiểu kiến trúc nổi tiếng xấu nhất thế giới: kiến trúc Liên Xô. Các cột đứng to và cao, đen lủi thủi, những khối đá xám lạnh chồng lớp nặng nề và mệt nhọc chương ứ lên bầu trời tuồng như muốn tạo một sự sừng sững kiêu hãnh và lạc điệu. Con người đó khi sống được ca tụng là gần gũi nhân dân, khi chết càng được tụng ca dữ dội hơn. Thế nhưng trừ những dịp lễ lạc để người ta vào tham quan xác, sự sừng sững của lăng ông Hồ chỉ tô đậm sự lạnh lẽo của một khối đá trơ trụi, chìm trong bầu khí lạnh, nó như sự ngất ngưỡng xa cách của một người làm xiếc đi trên đôi nạng cao nhìn xuống những thưa thớt người qua kẻ lại: người đi trên nôi nạng xiến không với xuống được người đi bên duới, mà người đi dưới cũng chẳng mó được người làm xiếc. Chỉ ngó nhau chơi vậy thôi.

Đại lộ giữa lăng và hội trường Ba Đình là đại lộ rộng nhất nước. Nó là quảng trường. Nơi đây đã diễn ra vài biến cố lịch sử, nơi làm nên lịch sử Việt Nam hiện đại từ giữa thế kỷ 20. Đây là nơi tập họp của đám đông, quảng trường Ba Đình, mỗi khi có biến cố lịch sử ngườI ta hay tập họp để làm lịch sử. Các cuộc tập họp không phải thôi thúc bởi tính hiếu kỳ, mà do sự đồng lòng của dân với những chuyển biến của đất nước, thí dụ như ngày tuyên bố Độc lập 2 tháng 9 năm 1945. Quảng trường Ba Đình đúng là quảng trường lịch sử, từng chứng kiến đám đông từ nhiều nơi đổ về.

Ngày hôm nay, từ ba mươi năm qua, quảng trường Ba Đình không làm nhiệm vụ truyền thống của nó. Nó trở thành một nơi tịch mịch, một nơi sang trọng và tách biệt với đám đông của nhiều thành phần của đất nước. Từ phía bên hội trường Ba Đình nhìn sang, ta sẽ thấy một bức tường đen chạy từ hướng chùa Một Cột đến mặt tiền lăng, kéo dài gần mút tầm mắt phía bên kia. Có ba bực cấp từ lòng đường, một hàng cây cảnh, và hai hàng khẩu hiệu lớn treo trên tường phía hai bên lăng. Các bực cấp đó không phải dành cho người đi bộ. Nó là bực cấp để làm kiểng. Có lần một giáo sư Chính trị học trọng tuổi người Ý đi tham quan quảng trường, đã tưởng như bên nước ông, bước lên bực cấp sát lề đường. Ông mới dợm vài bước đã nghe một tiếng quát rùng rợn vang lên từ phía anh lính đứng gác lăng, nghe cả tiếng đạn lên nòng súng. Ông sợ hãi nhảy xuống lòng đường, và hiểu ngay mình vừa làm một hành động lầm lẫn. Buổi sáng đó, ông kể lại, dù ông đi đâu loanh quanh gần đó cũng có một gã thường phục lầm lì theo sau.

Nếu so sánh quảng trường Ba Đình và khuôn viên hồ Gươm (nguời Hà Nội chỉ gọi là bờ Hồ), sẽ thấy một sự đối lập rất rõ. Bờ Hồ là nơi tập họp của người (dân) Hà Nội, sáng sớm là nơi chạy bộ, tập dưỡng sinh, chiều và tối là nơi của các cặp tình nhân, của những người lớn thủng thỉnh đi dạo hay ngồi đọc báo, cũng là nơi người (dân) Hà Nội liệng bao rác xuống lòng hồ, đi tiểu tiện hay khạc nhổ, cũng là nơi gây ra nhiều cuộc tranh luận làm sao bảo tồn cụ rùa có một không hai trên thế giới, hay những cãi cọ về tiêu chuẩn kiến trúc xung quanh bờ Hồ để không phá vỡ cảnh quanh thơ mộng. Nói chung, hồ Gươm phản ảnh đời sống của xã hội Hà Nội. Nó sống động, vừa sạch sẽ vừa dơ bẩn, thơ mộng trong đêm trăng hay ồn ào chứng kiến những trận đua xe của thanh thiếu niên.

Bờ Hồ là của Hà Nội, của người Hà Nội. Nó là Hà Nội.

Quảng trường Ba Đình thuộc về Hà Nội nhưng không phải của Hà Nội.

Quảng trường Ba Đình ngày nay tách biệt hẳn bờ Hồ dù cách nhau vài con đường. Quảng trường Ba Đình không phải là chỗ chơi của người Hà Nội. Không ai tới đó để ‘thư giãn’, để ngồi tâm tình dù nó rộng rãi, ít khói xe. Nó là cõi riêng của một xác chết, và cũng là cõi riêng của một nhúm người sống theo người đã chết. Xung quanh trung tâm xác ông Hồ là các bộ, hội trường Ba Đình, những còn đường sạch sẽ tươm tất, những tàng cây xanh, nhưng người ta không qua lại ngắm nghía dù khó kiếm một nơi sạch đẹp như vậy trong lòng thủ đô chật chội. Tự cái lăng, tự các bộ, tự quốc hội, tự những công an chìm nổi đứng gác, đã tự tạo cho khu vực này một biên giới, một quốc gia riêng. Trong cõi riêng đó ban xuống những mệnh lệnh để cai quản cả quốc gia bên ngoài.

Tại sao có một không khí tách biệt và một lực lượng trang bị phòng vệ cẩn mật Ba Đình như vậy, dù đã là thời bình, và ngay cả trong khi thế giới đang đối đầu với khủng bố thì dù Việt Nam vẫn không bị ảnh hưởng, nơi đây, quanh quảng trường Ba Đình, vẫn có cái không khí hâm hấp của khủng bố trong lòng người dân thường mỗi khi phải đi ngang qua.

Hà Nội không sợ khủng bố, các quan to cũng không sợ bị ám sát. Mà có lẽ, và chắc là, do vị trí và truyền thống làm lịch sử (hiện đại) đều đã diễn ra ở quảng trường Ba Đình cho nên nó có một chỗ đứng đặc biệt. Giáo sư Mandy Thomas thuộc trường đại học Tây Sydney (Úc), trong một tham luận (*) đọc ở Đại học Quốc Gia Úc tại Canberra hồi tháng 6 năm 2002, có một nhận xét sâu sắc: những địa chỉ lớn như quảng trường Ba Đình thường là nơi dễ xảy ra các bất ổn chính trị, vì nó có một không gian rộng rãi, lại nữa các biến cố do chính quyền tổ chức ở quảng trường chỉ tiêu biểu cho chế độ chứ không hề phản ảnh ước muốn của quần chúng.

Nghiên cứu các cuộc biểu tình hay nổi dậy đông người trên thế giới, chúng ta thấy những cuộc tụ tập lớn đều diễn ra (hay kéo về) ở thành phố, kéo về những nơi có khuôn viên (không gian) rộng rãi, thường là chỗ tụ tập đầu não của chính quyền. Quảng trường Ba Đình có tất cả các điều kiện địa lợi đó. Một cuộc tràn ngập người ở Ba Đình chắc chắn có ý nghĩa rất lớn – dù có thể chỉ là sự tràn ngập của những cuộc… đua xe máy! Nhưng chúng ta thấy những năm qua (mười năm qua), thanh niên Việt Nam thường tự tổ chức các cuộc đua xe hay tràn ra đường mỗi khi có một biến cố thể thao như các trận túc cầu có Việt Nam tham dự. Nhưng đám đông chỉ đua khu vực loanh quanh gần bờ Hồ, nơi mà không gian không lấy gì rộng lắm. Đám đông chưa bao giờ nghĩ tới việc đua xe ngay quảng trường, một địa điểm cực kỳ lý tưởng của tốc độ.

Trước nhất là họ sợ. Quảng trường là cấm địa. Tử Cấm Thành của Việt Nam triều đại cộng sản.

Thứ hai là họ cảm thấy lạ xa với khu vực Ba Đình. Khu vực đó không hề thể hiện hay phản ảnh cuộc sống của những người dân thường. Đua xe ở đó chỉ sướng ở tốc độ nhưng không có cái sung sướng được chia sẻ cảm giác với người xem, không cảm thấy được ở giữa lòng đám đông (dù bị đám đông có thể reo hò tán thưởng hay phản đối), vì Ba Đình không thuộc về nhân dân, nó thuộc về một thiểu số cầm quyền và độc quyền. Ba Đình rộng rãi nhưng ích kỷ, nó thoáng đảng nhưng lạnh lẽo. Nó to nhưng bụng rỗng. Nó mát mẽ nhưng là cái mát của tử khí!

Dân xa lạ với chính quyền vì chính quyền, qua biểu tượng là quảng trường Ba Đình, tự đào giao thông hào cố thủ bằng tất cả phương tiện dồi dào từ sức dân. Một trong những câu khẩu hiệu cũng là phương châm hành xử của nhà nước phản ảnh sự xa cách giữa quốc gia Ba Đình và thường dân đa số: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. “Nhà nước” là một thực thể; “nhân dân” là một thực thể đối lập, nếu hai là một thì không cần hô “cùng làm”.

Ba Đình giờ đây chỉ nhộn lên khi có một quan to chết và được làm quốc tang, hay khi có quốc khách đến viếng lăng, những buổi lãnh đạo sắp hàng vào lăng trước khi khai mạc các kỳ họp lớn như Quốc hội hay Đại hội Đảng. Nó là nơi tụ tập của lãnh tụ, của quốc khách, của quốc lễ, của người đã chết.

Ba Đình, khu vực Ba Đình, là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Ba Đình là một quốc gia. “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” chính là khẩu hiệu đúng đắn nhất áp dụng cho quốc gia Ba Đình. Nơi đây cai trị cả nước nhưng hoàn toàn độc lập với cả nước. Nơi đây bắt cả nước theo ý nó nhưng riêng nó thì hoàn toàn được tự do muốn làm gì thì làm. Và hạnh phúc, tất nhiên, chỉ riêng mình nó biết. Một hạnh phúc riêng biệt như một hòn đảo dành riêng cho những cặp trăng mật!

Khu cấm địa đó đã lạnh lẽo từ ba mươi năm qua theo nghĩa đen. Nhưng nếu lịch sử là sự lập lại thì chắc rằng khu vực quang đảng đó sẽ chứng kiến và chứa đựng một cuộc tập trung lớn để lịch sử lại tiếp diễn.

Vi hiến

Trung tâm đầu não của quốc gia Ba Đình không phải là hội trường Ba Đình, nơi quốc hội họp, mà ở số 5 Nguyễn Cảnh Chân, tổng hành dinh của ĐCSVN.

Số 5 Nguyễn Cảnh Chân đưa ra mọi quyết định liên quan đến đất nước Việt Nam.

Quốc hội, cơ quan lập pháp, xương sống của mọi nền dân chủ trên thế giới, nhưng ở Việt Nam là tiểu đơn vị có mục đích hợp pháp hóa các quyết định đã được nhất trí từ tổng hành dinh Nguyễn Cảnh Chân.

Chủ tịch nước là người không có trách nhiệm nào cả trừ nhiệm vụ ký các đạo luật đã được tiểu đơn vị quốc hội thông qua. Vì vậy chủ tịch nước không bao giờ phạm sai lầm (trừ một số sai lầm là đã không kín đáo trong việc kinh doanh riêng).

Thủ tướng và các bộ, cũng bắt chước người ta gọi là hành pháp nhưng thực ra cũng là một tiểu đơn vị, thực thi đường hướng từ số 5 Nguyễn Cảnh Chân.

Nếu mọi quốc gia đều có hai vấn đề lớn là đối nội và đối ngoại thì quốc gia Ba Đình cũng vậy, chỉ có cách ‘đối’ là khác.

Đối nội thì tiểu đơn vị quan trọng nhất là Bộ Công an. Bộ Công an sẽ tổ chức ruồng bố, canh gác (và tất nhiên là bắt giữ) tất cả các tiểu đơn vị khác không chịu, hay làm không đúng, chỉ thị từ số 5 Nguyễn Cảnh Chân. Trong hệ thống cai trị của quốc gia Ba Đình, cũng như các nước khác, đều có ngành tư pháp với hệ thống tòa án từ thấp lên cao. Cái khác của các nước khác và quốc gia Ba Đình là ở chỗ, trong khi nước khác dùng lực lượng công an hay cảnh sát là biểu tượng bảo vệ pháp luật hay thi hành mệnh lệnh của tòa án thì ở quốc gia Ba Đình, qui ước này được thực hành ngược lại. Ở tầm vĩ mô, tòa án có nhiệm vụ thực hiện chỉ thị từ tổng hành dinh Nguyễn Cảnh Chân. Ở tầm vi mô, công an giữ trật tự để tòa án làm theo sự chỉ đạo từ tổng hành dinh. Nếu có một quan tòa – trong lịch sử cầm quyền của ĐCSVN chưa hề có – lỡ phán xét một phiên tòa theo lương tâm thì cầm chắc công an sẽ đóng vai quan tòa và ‘xử ‘ ông ta hay chị ta tại chỗ.

Về đối ngoại, trên nguyên tắc là Bộ Ngoại giao, nhưng thực ra là Ủy ban Đối ngoại Trung ương (Đảng). Thí dụ cũng không thiếu (cái siêu việt của cộng sản là cái gì cũng thực, cũng có cơ sở, đều dễ chứng minh vì toàn là … hiện thực xã hội chủ nghĩa không hà). Trong Bộ Ngoại giao có một tiểu-tiểu đơn vị là Ủy ban về người Việt Nam ở Nước ngoài. Như tên gọi, nhiệm vụ của Ủy ban này là lo “mọi khâu liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài”. Thế nhưng do nguyên tắc riêng của quốc gia Ba Đình, Ủy ban này, và cả tiểu đội trưởng của tiểu đơn vị Ngoại giao, đã không dám làm nhiệm vụ của mình. Vì nhiệm vụ này đã được thực thi từ số 5 Nguyễn Cảnh Chân, do một người không dính dáng gì đến Bộ Ngoại giao, cũng không nằm trong tiểu đơn vị hành pháp hay lập pháp gì ráo trọi.

Thí dụ điển hình là ông Phan Diễn. Ông Diễn là Thường trực Ban Bí thư, tức phó Tổng bí thư Đảng, nhưng quyền nhiều hơn vì ông quyết định các vấn đề quan trọng hàng ngày (“thường trực”). Ông Diễn đã làm công việc của Bộ Ngoại giao là ký (đại) cái Nghị quyết (số) 36 về người Việt Nam ở nước ngoài.

Hà Nội nói họ cũng dân chủ, gọi là dân chủ tập trung. Ông Phan Diễn, dù quyền hành bao trùm, nhưng không có nhiệm vụ gì trong hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm vụ của ông là “tập trung” đứng đằng sau giựt dây cho những người đã xuất đầu lộ mặt làm viêc. Vậy mà ông không yên tâm, ông ló mặt ra ký (luôn) một nghị quyết không thuộc phần vụ của mình, vì ông, và đồng chí của ông, đã làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ riêng của quốc gia Ba Đình.

Cái đáng phiền là nguyên tắc riêng đó được áp đặt trên cả nước chứ không chỉ dùng riêng trong bán kính một cây số từ tâm điểm cái lăng.

Người Hà Nội không biết nói

Người Hà Nội không hẳn là phải sinh và lớn lên ở Hà Nội. Người Hà Nội bây giờ là dân tứ xứ và tứ chiếng, quê quán loanh quanh ở miền Bắc nhưng sống lâu ở Hà Nội thì thành người Hà Nội. Ông Nông Đức Mạnh, thí dụ, không sinh ở Hà Nội nhưng thuộc về người Hà Nội. Nói chung, người Hà Nội ở đây phải là người có gốc gác ở các tỉnh phía Bắc vì họ có nhiều điểm chung, đặc biệt nhất là thích nói. Còn người Nam bộ mà có sống lâu ở Bắc thì vẫn là Nam bộ, như ông Phan Văn Khải chẳng hạn, vì giọng lưỡi Nam bộ rất khác.

Hà Nội của thời Thạch Lam, thời chiến tranh không biết ra sao nhưng cái vẻ bên ngoài chắc vẫn là nét e ấp kín đáo. Người Hà Nội có vẻ như lịch thiệp, ăn nói thâm trầm, và người Hà Nội vẫn tự hào về điều đó, cái tự hào của phần lớn dân thủ đô ở nhiều nước khác.

Thực ra, ở chung với Hà Nội thời hiện tại thì thấy cái rõ nhất là người Hà Nội thích xài bạc giả. Họ nói khác những gì họ nghĩ. Nếu bản chất của tiếng Việt là thiếu chính xác, và bản sắc của người Việt là nói vòng quanh chủ đề, thì Hà Nội là đại diện chân chính của hai yếu tố này. Họ ưa nói lòng vòng mặc cho người nghe đoán ý. Điều đó không hẳn là không hay nhưng nó hoàn toàn không phù hợp với tốc độ của thời hiện tại, khi con người và thế giới chạy đua với thời gian để bắt kịp lẫn nhau.

Người trung lưu Hà Nội sống giả dối, không biết điều đó có phải là phế phẩm của bảy mươi năm đời ta có đảng không. Họ đãi tiệc, làm đám cưới với bề ngoài cực kỳ linh đình long trọng nhưng món ăn thì lỏng chỏng bình dân. Họ thích tiền nhưng cứ làm vẻ dửng dưng. Họ bắt tay người này nhưng mắt hướng về một người khác đứng ở gần đó có chức vụ cao hơn. Họ nói năng thưa gửi, nói sông dài biển rộng nhưng sau một giờ thì không ai hiểu ý họ muốn tán cái gì hay muốn gì.

Ai nói người Hà Nội có tài… nói, lập luận và lập ngôn, giỏi biện bác là không hiểu Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh. Thực ra, người Hà Nội ngày nay không có tài ăn nói. Cái mà chúng ta tưởng họ giỏi trong khoa ăn nói thực ra là sự huyên thuyên mà nổi bật nhất, đáng chú ý nhất trong rừng huyên thuyên đó là sự phóng đại. Họ phóng rất to, nhưng một đặc điểm nữa là họ chỉ giỏi phét giữa người Hà Nội với nhau, giữa người trong nước với nhau; đụng đến “yếu tố nước ngoài”, họ cụp đuôi, lí nhí, hoặc nếu dỏ trò phét như phét với người trong nước thì thường là phét trật bậy, để lộ trình độ thấp kém.

Một bằng chứng cực đoan là năm 2000 khi Lê Khả Phiêu gặp Bill Cinton ở Hà Nội, cụ Phiêu ta dở trò bốc phét nói với Bill là Mỹ đã thua trận. Cái “tài” đó ngoài việc chứng tỏ cách đối xử (ăn ở) mọi rợ của một người chỉ sống trong lũy tre làng, không quen đối đáp người ngoài, còn hé lộ bản chất và trình độ sơ đẳng của người đứng đầu quốc gia Ba Đình và đất nước Việt Nam.

Một bằng chứng khác: trong các cuộc thi hùng biện (tiếng Anh) quốc tế, chưa nghe nói người Hà Nội có ai tham dự, không phải tại họ chưa quen với tiếng Anh mà do lối diễn đạt không rõ ràng, trong khi hùng biện (quốc tế) kỵ nhất là ba hoa chích chòe, nói trông trổng như cái đài phát thanh. (Tất nhiên chỉ có thể đem tiêu chuẩn quốc tế để so, chứ thi hùng biện trong nước, như thi hùng biện về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, thì có khác gì con nói cha nghe, làng nói xã nghe, và tiêu chí chấm không nói ai cũng biết.)

Người Hà Nội của ngày trước ra sao, tôi không biết, nhưng chắc là cũng cự phách trong làng nói năng thưa gửi, nếu không thế thì Hà Nội nổi tiếng… oan sao! Đọc các nhà văn gốc Hà Nội, còn ở lại hay đã vào Nam từ những trước và sau 1954, ai cũng công nhận họ thuộc hàng tiền bối (và tiền đạo) trên sân vận động chữ nghĩa.

Hà Nội ngày nay khác. Tệ nhất là những người được phép nói trước công chúng. Nghe một lúc chỉ có nước đoán là ngay chính họ cũng không biết mình đang nói gì. Tôi có lần than phiền với một ông bạn vong niên hàm thứ trưởng đã nghỉ hưu (nghỉ hưu thì mình mới chơi đuợc), làm trong ngành tư tưởng văn hóa lâu năm. Ông cười ruồi: “Đảng nói hết rồi!”

Đảng nói hết. Sáng tản bộ trên Bờ Hồ, hay trên phố Hàng Than, trên đê Yên Phụ, tiếng loa phóng thanh từ một trạm phát thanh của phường cứ oang oảng. Dân cứ ăn phở, đạp xích lô, phì phèo thuốc lá, nhổ khạc, đổ nước rửa ra đường, loa cứ làm việc của loa kêu gọi nếp sống văn mình đô thị, dân cứ đái xoành xoạch.

Hậu quả không biết nói là hậu kỳ của nguyên tắc tập trung ở biệt khu Ba Đình trong lòng Hà Nội. Một câu của lãnh đạo nói ra là hệt như một nút bấm, toàn bộ hệ thống thông tin lên đồng và lắc lư. Mới đầu, cái nút bấm ấy thay dân nói, tưởng là vô hại. Lâu ngày, thói quen dân không dám nói khiến đầu óc luời suy nghĩ, dần dần trở nên chậm lụt, ù lỳ.

Mấy năm đầu thế kỷ 21, chính lãnh đạo Ba Đình nhiều lần than phiền thanh niên thời nay không có lý tưởng, thiếu năng động, hoặc chỉ nuôi lý tưởng làm giàu. Thì đó là sản phẩm do việc dành nói hết của Đảng, cấm ai nói khác Đảng. Đảng chỉ cho phép nói thoải mái về kinh doanh thì dân nói về kinh doanh. Đảng cấm nói chuyện chính trị thì dân tránh nói chuyện chính trị. Những người bất chấp Đảng vẫn cứ nói chuyện chính trị, như Nguyễn Vũ Bình, Dương Thu Hương, thì Đảng dùng ngay đòn ruột là bạo lực cách mạng.

Mấy chục năm, bao nhiêu thế hệ trôi qua trong bầu khí khủng bố và thiếu thông tin khiến người thủ đô nổi tiếng lịch lãm, để sống còn, đã tự ‘sáng tạo’ ra cách nói không rõ nghĩa, nói vòng vo tam quốc ai hiểu sao cũng được.

Tưởng như vô hại mà kỳ thực, thói quen ‘thức thời” ấy dần tạo nên một não trạng khiến cả một khối người trở nên lẩm cẩm, thiếu tự tin, tập thành thói quen lừa người và dối mình, tự mình đánh lạc hướng để được sống yên. Người ta đã không bàn chuyện đất nước giữa đám đông, người ta chỉ nói chuyện nắng mưa, giá cả, giá xăng dầu, các quán karaoke, những nhà hàng mới mọc, những quan to hiếp dâm chơi gái, các chương trình lễ hội, những tượng đại kỷ niệm chiến tranh, hay những hình ca sĩ trần truồng phóng trên mạng.

Con người Việt Nam giữa lòng thủ đô đang định hình để trở thành những người vô tư như người máy, chỉ biết chơi đùa, cợt nhã lẫn nhau. Trừ một thiểu số quá ít còn tất cả, những người ở ngoài chính quyền và cán bộ cấp trung như đang sống theo một thỏa hiệp bất thành văn, là không động đến chuyện chính trị, đến cơ chế cầm quyền, đến những phi lý trong cuộc sống.

Con người không có quyền trăn trở về vận mệnh của dân tộc mình nữa. Sự thỏa hiệp ngầm đó do một cơ cấu lộng quyền sắp đặt, nhưng sự sắp đặt đó sẽ không tồn tại nếu không được một tầng lớp xương sống của đất nước đang ra sức bảo vệ nó. Đó là lớp cán bộ cấp trung của chế độ, cái xương sống và đầu tàu đang giữ cho guồng máy chạy êm và lâu được chừng nào hay chừng nấy.

Lê Lô

(*) Thomas, Mandy (2002). Public spaces/ public disgraces: crowds and the state in contemporary Vietnam. Canberra:ANU.

Trịnh Xuân Thanh đã bị Việt Nam bắt cóc tại Đức sáng Chủ nhật 23.7.2017 ở Berlin

Trong cuộc gặp với luật sư của ông Trịnh Xuân Thanh ở Berlin ngày 31.7.2017, phóng viên Thoibao.de đã được cung cấp đầy đủ các thông tin về vụ việc nghiêm trọng này.

 

Trịnh Xuân Thanh đã bị Việt Nam bắt cóc tại Đức vào sáng Chủ nhật 23.7.2017 ở Berlin

Ông Trịnh Xuân Thanh đang làm các thủ tục pháp lý định cư hợp pháp tại Đức

Sáng Chủ nhật, ngày 23.7.2017 tại Berlin, lúc 10 Giờ 30 trong lúc đang ở khuôn viên nhà riêng ở Berlin, ông Trịnh Xuận Thanh cùng 1 cán bộ Bộ Công thương đã bị nhóm đối tượng người Việt Nam với vũ khí xông vào nhà và dùng vũ lực bắt cóc đưa lên một chiếc xe đợi sẵn để chở thẳng sang một nước châu Âu có chung đường biên giới với Đức.

Nhận được tin, An Ninh Đức lập tức vào cuộc để điều tra nhóm người gốc Việt có vũ trang này và các hoạt động của họ trong thời gian vào Đức và châu Âu.

Nhân chứng người Đức cùng ở trong khu nhà cũng cho chúng tôi biết thêm về diễn biến khi ông Trịnh Xuân Thanh và người bạn bị bắt cóc .

Được biết, ông Trịnh Xuân Thanh đang được Chính quyền Đức bảo hộ lưu trú hợp pháp và đã có lịch sáng 24.7 làm các thủ tục pháp lý tiếp theo ở Sở lưu trú Berlin, CHLB Đức.

Phía Đức thông báo, chỉ ít giờ nữa họ sẽ ra thông cáo báo chí về vụ này. Việc cho người mang theo vũ khí xâm nhập trái phép lãnh thổ Đức để bắt cóc cá nhân đang sống hợp pháp tại Đức sẽ ảnh hưởng nặng nề đến quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và CHLB Đức cùng liên minh châu Âu.

Nhiều báo lớn của Đức và châu Âu đang chuẩn bị lên bản tin đặc biệt về vụ việc bắt cóc người ngay tại Thủ đô Berlin, nơi đặt cơ quan đầu não của Chính phủ Đức và đại diện của hàng trăm nước cùng các tổ chức khác nhau trên thế giới.

Đức là một thành viên chủ chốt trong khối NATO sẽ có hành động thích hợp về vụ việc nghiêm trọng này.

Trung Khoa – Thoibao.de

Vụ việc đang trong quá trình điều tra của An Ninh Đức cùng INTERPOL quốc tế. Chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp ngay các tài liệu từ phía Luật sư và cảnh sát Đức khi được phép. 

Về việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lập tổ tư vấn kinh tế

Thơ Phương

Bà Thơ Phương, một chuyên gia kinh tế của Morgan Stanley, là người rất am hiểu về cách điều hành và quản lý kinh tế ở Việt Nam. Nhân thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới đây ký quyết định thành lập “Tổ tư vấn kinh tê” để giúp chính phủ điều hành nền kinh tế, bà có nhận xét như sau:

Tôi người ngoài cuộc, là chả liên quan gì đến VN, nhưng có điều tôi đề cập đến bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả về cái gọi “nghiên cứu kinh tế”. mà mới đây ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lập ra Tổ Tư vấn kinh tế để tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề phát triển kinh tế, và người ta nói là tập hợp “nhiều chuyên gia giỏi từ Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Singapore” (hầu hết đều là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ). Tức chưa thấy ông bà nào là chiến lược gia am hiểu kinh nghiệm hai thị trường nguy hiểm nhất mà VN hiện nay nhập siêu nặng nhất là TQ và Hàn Quốc (không có chiến lược gia chuyên về hai thị trường này).

Về chuyên môn ít ai thấy ra mà tôi phải nói ra là bộ máy dư thừa quá lớn về chuyện “nghiên cứu kinh tế”. Đó là chính phủ VN đã có lưu hành các ban bộ chuyên nghiên cứu kinh tế và tài chính khác nữa là Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia, gồm 31 thành viên, do Phó thủ tướng Vương Đình Huệ làm Chủ tịch, và 3 phó chủ tịch (hầu hết là giáo sư, tiến sĩ).

Đi song hành hai cái hội đồng kinh tế và tài chính kể trên thì VN còn có Ban Kinh tế Trung ương do ông Nguyễn Văn Bình (trưởng ban) thì dưới nữa là có 8 phó trưởng ban và tất cả cộng lại là 9 người gọi là trưởng ban và phó trưởng ban Kinh tế Trung ương này, thì hầu hết của đều là tiến sĩ kinh tế và tài chính.

Ngoài ra VN còn có Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (nhiệm vụ là đào tạo tiến sĩ quốc doanh cho nhà nước và kiêm vai trò cố vấn và tư vấn cho chính phủ). Viện này có ông Viện trưởng, TS. Nguyễn Đình Cung (tiến sĩ) thì còn có 3 Phó Viện trưởng (2 Phó viện đều là tiến sĩ, con 1 Phó viện là thạc sĩ), và còn có Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam, cũng hàng tá ông bà giáo sư tiến sĩ,…ngoài chuyện ấy thì VN còn có Viện Kinh tế Việt Nam, trong đó có ông Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên là Viện trưởng,…

Tổng kết lại thì ta thấy trong danh sách Tư vấn kinh tế để tư vấn cho Chính phủ thì có các ông bà sau giáo sư tiến sĩ này đang làm một lúc rất nhiều nhiệm vụ chồng chéo nhau, tức là lãnh 3 hay 5 mức lương khác nhau,…

Kiêm nhiệm nhiều thứ như vậy làm sao mà có thời gian để nghiên cứu kinh tế và thị trường được. Thậm chí là có những ông bà bận rộn công việc giả tạo là vẫn có thời gian là họ vừa làm giảng viên hay giáo sư dạy ở trường đại học, vừa kiêm nhiệm vai trò ban bộ kinh tế kia vừa kiêm nhiệm giữ vai trò cố vấn kinh tế cho chính phủ này, vừa kiêm nhiệm luôn chức danh “đại biểu quốc hội” thì ta tự hỏi cái nền kinh tế VN nó không là phải là “nền kinh tế mũi nhọn” hay “nền kinh tế quá mít”, vì có quá nhiều viện nghiên cứu, tổ tư vấn quá nhiều chuyên gia không có kinh nghiệm phân tích thị trường hay phân tích mảng chiến lược kinh tế vĩ mô quốc tế của nước khác, kết cục mỗi ông mỗi bà tư vấn một kiểu và dẫn đến nền kinh tế quốc gia này là bất cứ ngành nghề nào cũng “mũi nhọn”, hậu quả dẫn đến nền kinh tế mà tôi mỉa mai là “nền kinh tế đề xuất giải cứu”, từ giải cứu giá xăng dầu, điện, rồi than, thép, tài chính, bất động sản, đến giải cứu nông nghiệp chăn nuôi như giải cứu thịt heo/lợn, gà,…giải cứu mọi thứ trong nền kinh tế kể cả người ta sáng kiến ra “giải cứu tăng trưởng GDP”, rồi giải cứu nợ xấu cho đến giải cứu tiến sĩ dư thừa,… là người ta đề xuất là “xuất khẩu tiến sĩ, thạc sĩ ra nước ngoài”, mà nói cho lịch sự “đưa lao động tiến sĩ dư thừa ra nước ngoài lao động”,….Tức là giải cứu bậc học cao nhất của giáo dục (giải cứu giáo dục).

Bài trên báo Lao Động về Tổ tư vấn:

15 “quân sư” cho Thủ tướng, họ là ai?

Lâm Anh  

Không có thành viên nữ, tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ có 15 thành viên thuộc 3 nhóm gồm các giáo sư từ trường đại học nước ngoài, các chuyên gia nghiên cứu về kinh tế và các cựu quan chức chính phủ.

Tổ Tư vấn kinh tế có nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng về các chiến lược, kế hoạch, đề án, chính sách phát triển kinh tế trong trung hạn và dài hạn, cũng như kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm. Những thành viên của Tổ tư vấn là ai, hãy cùng Báo Lao Động điểm những nét nổi bật về các chuyên gia này.

1. Tiến sĩ Vũ Viết Ngoạn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, Tổ trưởng Tổ tư vấn

Sinh năm 1958, ông Ngoạn là tiến sĩ tài chính từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Trong những năm đầu thập niên 1990, ông học và lấy bằng Thạc sĩ về quản lý phong trào hòa bình, đại học Bocconi, Milano, Italia và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Vietcombank.

Sau 7 năm ngồi ở cương vị Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội và là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13. Sau đó, ông đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và hiện là Tổ trưởng – Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ.

2. Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Anh, Đại học Indiana (Mỹ)

Sinh năm 1973, Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Anh là thành viên trẻ thứ 2 trong nhóm. Ông từng đạt danh hiệu giảng viên trẻ xuất sắc của Đại học Indiana sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh tế tại Đại học New South Wales Australia năm 1999 và Tiến sĩ ngành Chính sách công tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ năm 2009. Ông có kinh nghiệm tư vấn cho nhiều dự án và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam.

Hiện TS. Trần Ngọc Anh đang nghiên cứu và giảng dạy tại trường Chính sách công và Môi trường và đồng thời là Giám Đốc Chương trình Sáng kiến Việt Nam tại Đại học Indiana, Hoa Kỳ.

3. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

TS. Vũ Thành Tự Anh có học vị tiến sĩ kinh tế học từ trường Boston College, Mỹ và hiện là GĐ của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP. HCM.

Ông cũng là Nhà nghiên cứu cao cấp tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy với lĩnh vực nghiên cứu chính của ông là kinh tế phát triển, chính sách công nghiệp, và kinh tế học thể chế. Bên cạnh các hoạt động ở Trường Fulbright, TS.Tự Anh còn là thành viên Nhóm chuyên gia kinh tế của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Ông cũng là thành viên của Hội đồng khoa học Trường ĐH Quốc gia TP. HCM.

4. Tiến sĩ Vũ Bằng, nguyên Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Sinh năm 1957, ông Vũ Bằng là tiến sỹ kinh tế và là người đã đi cùng thị trường chứng khoán Việt Nam trong suốt hơn 20 năm từ những ngày đầu tiên. Ông vừa nghỉ hưu sau nhiều năm giữ cương vị Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán nhà nước.

5. Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương

Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế Praha, Tiệp Khắc (trước đây) vào năm 1982, chuyên ngành Kinh tế ngoại thương, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung đã lấy bằng thạc sĩ ngành Kinh tế Phát triển ĐH Manchester (Anh) rồi trở thành tiến sĩ ngành Kinh tế Phát triển của CIEM (Việt Nam).

Ông là một trong những người chắp bút cho các phiên bản Luật Doanh nghiệp, các đề án liên quan đến tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách thể chế và giữ chức Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương từ tháng 5.2014.

6. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân

Sinh năm 1959, GS. Trần Thọ Đạt đang là Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhiệm kỳ 2013 – 2018.

Ông từng tham gia nhiều dự án như Giám đốc dự án giáo dục bậc cao của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam… và có hai bằng tiến sĩ.

Giáo sư Trần Thọ Đạt nghiên cứu và giảng dạy các chuyên ngành về kinh tế học, kinh tế phát triển, chính sách tài chính và tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính trong giáo dục đại học, các vấn đề kinh tế học về biến đổi môi trường đồng thời có nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu xuất sắc được công bố trên tạp chí quốc tế ISI và Scopus.

7. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Khương, Phó giám đốc, Trưởng khoa Tài chính, Học viện Quản lý và quản trị kinh doanh (Pháp)

GS.TS Nguyễn Đức Khương nhận bằng tiến sĩ ngành Quản trị Tài chính tại ĐH Grenoble khi mới 27 tuổi và từng giảng dạy tại Trường Quản trị kinh doanh Lyon, Viện Quản trị doanh nghiệp Grenoble, giảng viên chính thức tại Học viện Thương mại Paris.

Hiện, ông là Phó GĐ phụ trách nghiên cứu và hợp tác khoa học quốc tế, đồng thời là Trưởng khoa Tài chính tại Học viện Hành chính và Quản trị kinh doanh Paris (IPAG Business School).

Ông cũng tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại ĐH Paris 1 Panthéon-Sorbonne, và nhiều trường đại học ở Việt Nam đồng thời là Phó Trưởng ban chỉ đạo Chương trình Thu hút học giả của Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông Khương từng được dự án RePEc bầu chọn trong top 200 nhà kinh tế hàng đầu.

8. Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Minh Khương, Đại học quốc gia Singapore

TS.Vũ Minh Khương bắt đầu làm việc tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu với vai trò phó giáo sư từ năm 2006 với các nghiên cứu vào tăng trưởng kinh tế, năng suất, tính cạnh tranh và các vấn đề liên quan tới tác động của CNTT, chính phủ điện tử và hội nhập kinh tế. Ông có nhiều bài viết trên các tạp chí quốc tế như Scandinavian Journal of Economics, German Economics Review, Energy Policy và Journal of Policy Modeling.

Ông từng làm tư vấn cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Công ty Tài chính Quốc tế, USAID, KPMG, Ngân hàng Trung ương Singapore và Cơ quan Truyền thông Singapore và nhận bằng Tiến sĩ chính sách công và Thạc sĩ quản trị kinh doanh của Đại học Harvard và bằng Cử nhân toán của Đại học Tổng hợp Hà Nội.

9. Tiến sĩ Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM

Ông Trần Du Lịch là Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế, Cao cấp quản lý Nhà nước và là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13 , thuộc đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh.

Với cương vị là đại biểu Quốc hội, ông nhiều lần gây chú ý với những câu hỏi thẳng, hỏi khó vào các vấn đề nhức nhối của đất nước.

10. Tiến sĩ Trương Văn Phước, quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia

Đây là một trong những người đầu tiên đặt nền tảng cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Việt Nam, và xây dựng các khuôn khổ pháp lý về ngoại hối của Việt Nam sau này.

Ông Trương Văn Phước sinh năm 1959 và từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Kinh doanh ngoại tệ Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh; Phó Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh; Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Giám đốc Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội đồng kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam.

11. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Ông Nguyễn Xuân Thắng từng làm Trưởng phòng, Phó Tổng biên tập, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và sau đó được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Ông có thời gian giữ cương vị Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) trước khi trở thành Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Ông là ủy viên BCH TƯ khóa 11, 12.

12. Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Sinh năm 1958, ông Trần Đình Thiên đang là Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế Việt Nam.

Ông có bằng Cử nhân khoa Kinh tế học Chính trị, Đại học Tổng hợp Hà Nội (1979); tiến sĩ Kinh tế học Chính trị tại Viện Kinh tế học, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1991) và trở thành Phó Giáo sư từ năm 2002.

13. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thọ, Đại học Wasada (Nhật Bản)

Sinh năm 1949, GS. Trần Văn Thọ từng tham gia các Tổ Tư vấn cải cách kinh tế hoặc trong Ban Nghiên cứu chính sách của các Thủ tướng Việt Nam như Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải.

Ông có bằng tiến sĩ kinh tế Đại học Hitotsubashi, Tokyo và từng làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, sau đó làm phó giáo sư, rồi giáo sư Đại học Obirin (Tokyo). Từ năm 2000 đến nay, ông làm Giáo sư kinh tế Đại học Waseda (Tokyo).

Năm 1990, ông là một trong ba người nước ngoài được mời làm thành viên chuyên môn trong Hội đồng Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Nhật, ông đã ở cương vị này trong gần 10 năm, qua nhiều đời Thủ tướng.

Ông là sáng lập viên Trung tâm kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (VAPEC) tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.

14. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Ông Nguyễn Quang Thuấn 58 tuổi, quê Bắc Ninh. Ông đạt học vị tiến sĩ kinh tế vào năm 1993 và được phong hàm giáo sư vào năm 2010. Ông hiện là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

15. Ông Bùi Quang Vinh, nguyên Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư

Sinh năm 1953, ông Bùi Quang Vinh nguyên là Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam, nhiệm kỳ 2011-2016.

Ông cũng là Đại biểu Quốc hội Việt Nam Khóa XIII; nguyên Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Khoá X, XI.