Hội nghị trung ương 6 giữa khủng hoảng Việt – Đức

Hội nghị trung ương 6 của đảng cầm quyền sắp diễn ra vào đầu tháng Mười năm 2017, nhưng cho tới giờ lại chẳng nghe ai nói năng gì về hai quyết sách lớn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – “Nhất thể hóa” và “Kiểm tra tài sản 1000 quan chức”.

 
Trịnh Xuân Thanh, tâm điểm của con bão Việt - Đức.
Trịnh Xuân Thanh, tâm điểm của con bão Việt – Đức.
Nếu không có được hai kết quả quyết sách trên, Hội nghị trung ương 6 sẽ chỉ chứng kiến một kết quả rất khiêm tốn của ông Trọng.
“6” khác “5” thế nào?
Tinh thần khiêm tốn như thế có thể sẽ chỉ gói gọn bằng vài động tác “diệt ruồi” cỡ như Nguyễn Xuân Anh – Bí thư Đà Nẵng, chứ có thể chẳng đụng được “con hổ” nào, cho dù bầu không khí “chống tham nhũng” đã lan sang cả Quốc hội với phát ngôn lên giọng “ném củi tươi vào lò” của bà Nguyễn Thị Kim Ngân trong thời gian gần Hội nghị trung ương 6.
Nhưng lại có một hố phân cách lớn giữa Hội nghị trung ương 6 và Hội nghị trung ương 5.
Bối cảnh diễn ra Hội nghị trung ương 5 vào tháng Năm năm 2017, mặc dù phải chịu một cú sốc lớn mang tên “Đồng Tâm”, nhưng bù lại đã không phải rơi vào một cuộc khủng hoảng ngoại giao mang tên “Đức – Việt” như hiện thời.
Nếu trước và trong Hội nghị trung ương 5, Nguyễn Phú Trọng chỉ đóng vai trò khách quan nhằm “xử” Đinh La Thăng – khi đó là ủy viên bộ chính trị và bí thư thành ủy TP.HCM, đồng thời phân xử những cuộc xung đột cấp địa phương ở Thanh Hóa, Đà Nẵng, thì tại Hội nghị trung ương 6, ông Trọng lại trở thành “người có liên quan”, nhìn theo một cách nào đó. Ngày càng hiện ra dư luận trong giới cách mạng lão thành, cán bộ và tướng lĩnh về hưu về “vụ Trịnh Xuân Thanh là do ông Trọng chỉ đạo nên ông Trọng cũng phải chịu trách nhiệm về hậu quả khủng hoảng Việt – Đức và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu”.
“Ngậm bồ hòn làm ngọt”
Sau khi Chính phủ Đức tuyên bố vào ngày 22/9 về “tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược” – hậu quả từ vụ mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin vào tháng 7/2017, người ta không thấy ông Nguyễn Phú Trọng bình luận gì về biến cố lớn lao và chưa từng có này. Toàn thể giới chóp bu Việt Nam cũng im thin thít.
Báo chí nhà nước, chắc chắn đã được huấn thị từ Ban Tuyên giáo trung ương, đã tuyệt đối không một từ đưa tin về vụ “quan hệ đối tác chiến lược trên”, cho dù vào đầu tháng 8/2017, nhiều tờ báo Việt Nam ồn ào tung hô thành tích “Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về Việt Nam đầu thú”.
Thay cho thái độ cấm khẩu ấy là “đảng chủ động đối ngoại”.
Người ta thấy xuất hiện gương mặt của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tiếp bà Luisa Bergfeld, Tham tán Phát triển, Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Đức tại Việt Nam và ông Jasper Abramowski, Giám đốc Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) tại Việt Nam, liên quan đến Hội nghị phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việc cấp phó thủ tướng như Vương Đình Huệ cùng một số bộ ngành (cấp bộ trưởng và thứ trưởng) có một cuộc tiếp xúc trọng thị với cấp tham tán ngoại giao của Đức (tham tán là cấp ngoại giao xếp dưới cấp đại sứ và phó đại sứ, chỉ gần ngang với cấp vụ trưởng của một bộ), cho thấy một thực tế là dù người Đức phản ứng mạnh mẽ Việt Nam, Việt Nam cũng phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”.
Nói cách khác, cách tiếp đón của ông Vương Đình Huệ với giới ngoại giao Đức cho thấy giới chóp bu Việt Nam đang triển khai chiến thuật xoa dịu, mơn trớn và ve vuốt đối với người Đức mà không dám có động tác trả đũa khiến có nguy cơ đổ thêm dầu vào lửa.
Cần nhắc lại, sau vụ Bộ Ngoại giao Đức trục xuất cán bộ tình báo Nguyễn Đức Thoa vào đầu tháng 8/2017, phía Việt Nam không những bảo lưu thái độ “khép miệng”, mà còn không dám trục xuất trả đũa nhân viên nào của Đại sứ quán Đức tại Việt Nam.
Cách tiếp đón trọng thị bất ngờ trên của Phó thủ tướng Vương Đình Huệ lại có thể hé ra một thực tế khác trong nội bộ đảng cầm quyền ở Việt Nam: sau khi nổ ra khủng hoảng ngoại giao Việt – Đức và dẫn đến hàng loạt hậu quả trầm trọng không ngờ, có thể trong nội bộ giới lãnh đạo Việt Nam đã xảy ra một “trận chiến” đổ lỗi cho nhau.
Có ít nhất hai dấu hiệu báo trước về “trận chiến” trên: đầu tiên là bộ trưởng công an Tô Lâm khẳng định đến hai lần trước báo chí về vệc ông ta không hề biết Trịnh Xuân Thanh đã về Việt Nam; và sau đó Bộ Ngoại giao chỉ một mực tránh né các câu hỏi của phóng viên nước ngoài về vụ Trịnh Xuân Thanh, như thể Bộ Ngoại giao hoàn toàn “vô can”.
“Đảng chủ động đối ngoại”
Vương Đình Huệ vừa trở về Việt Nam sau một chuyến “dân vận” ở Tây Âu và Đông Âu nhằm thuyết phục các nước châu Âu mau chóng chấp thuận cho Việt Nam được tham gia vào Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu (EVFTA) – một hiệp định mà lẽ ra Việt Nam sẽ có cơ hội được tham gia chính thức vào giữa năm 2018, nhưng vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh và dẫn đến cuộc khủng hoảng ngoại giao Đức – Việt đã khiến tương lai ấy trở nên quá bất định.
Tuy nhiên, các cuộc gặp của ông Vương Đình Huệ với giới chức Bỉ, Slovakia, Thụy Sĩ đều chỉ mang lại một kết quả chung chung: không có bất kỳ hứa hẹn, và càng không có bất kỳ cam kết miệng hay cam kết bằng văn bản nào từ giới chức các nước châu Âu về việc sẽ hỗ trợ Việt Nam vận động nhằm sớm thông qua EVFTA.
Song trùng chuyến đi châu Âu của ông Vương Đình Huệ, một cấp thấp hơn là ủy viên trung ương đảng, Trưởng ban đối ngoại Hoàng Bình Quân cũng có một chuyến công du không hề sôi động đến Washington. Không hề sôi động vì mặc dù được báo chí nhà nước mô tả ông Hoàng Bình Quân đã có những cuộc tiếp xúc với chính phủ và quốc hội Mỹ, nhưng vài hình ảnh của ông Quân lại cho thấy nhân vật này chỉ tiếp đối tác Mỹ. Ngay cả đề nghị của ông Quân về “Mỹ linh hoạt sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam” cũng hoàn toàn không nhận được hồi âm nào từ giới quan chức Mỹ.
Những chuyến công du đối ngoại dồn dập trên mang lại một cảm giác bần thần khó tả: dường như trong cơn bối rối, Tổng bí thư Trọng đã cố gắng “xua quân” đi quan hệ với nước ngoài nhằm vớt vát phần nào “uy tín Việt Nam trên trường quốc tế” sau vụ Trịnh Xuân Thanh.
Thắng lợi và thất bại
Sau vài thành công trong chiến dịch “diệt ruồi” ở Việt Nam, thêm một thắng lợi khác cho ông Nguyễn Phú Trọng: sau những lần đàm phán mệt nhoài với người Đức, ông Trọng đã giành được ưu thế giữ riệt và bám chắc con át chủ bài Trịnh Xuân Thanh, bất kể hậu quả Đức tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.
Còn thời điểm tổ chức Hội nghị trung ương 6 đã được rút ngắn từ giữa tháng 10/2017 về đầu tháng này – khá trái ngược với thói quen thông thường của đảng là những hội nghị trung ương ít diễn ra sớm hơn dự kiến mà thường là muộn hơn dự kiến.
Có thể, Hội nghị trung ương 6 sẽ được tổ chức theo kiểu “xong sớm nghỉ sớm”, đóng lại một năm được xem là thành công trong cuộc chiến nội bộ của ông Nguyễn Phú Trọng, nhưng chính ông lại thất bại hoàn toàn với những gì mà ông đã hứa hẹn với nhân dân.
Còn hai quyết sách lớn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – “Nhất thể hóa” và “Kiểm tra tài sản 1000 quan chức” – hẳn sẽ được đóng kiện nhét vào kho lưu trữ của đảng.
“Biệt phủ Phạm Sỹ Quý” ở Yên Bái dậy trời đất đến thế mà còn không “xử” được, ông Trọng còn đòi đi kiểm tra tài sản của ai khác?
Phạm Chí Dũng
(Blog VOA)

Diễn Văn của Tổng thống Trump tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 19/9/2017

https://baomai.blogspot.com/

Thật vinh dự khi tôi đứng giữa thành phố nhà của tôi (New York), với tư cách là đại diện nhân dân Hoa Kỳ để nói chuyện với nhân dân toàn thế giới.

Khi hàng triệu công dân của chúng tôi tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi những cơn bão tàn phá đất nước, tôi muốn bắt đầu bằng cách bày tỏ sự biết ơn của tôi đối với tất cả các nhà lãnh đạo trong phòng họp này đã hỗ trợ và giúp đỡ. Người dân Mỹ rất mạnh mẽ và kiên cường, họ sẽ vượt qua  những khó khăn này bằng sự quyết tâm hơn bao giờ hết.

May mắn thay, Hoa Kỳ đã tốt đẹp hơn kể từ ngày bầu cử 8 tháng Mười Một (8/11/2016). Thị trường chứng khoán ở mức cao kỷ lục của mọi thời đại. Nạn thất nghiệp thấp nhất trong 16 năm qua do những cải cách về luật pháp và nhiều thứ khác. Hiện nay Hoa Kỳ có nhiều người làm việc hơn bao giờ hết. Các công ty đang chuyển dần về nước Mỹ tạo sự gia tăng công việc làm nhiều chưa từng thấy trong một thời gian rất dài.

Hoa Kỳ vừa công bố chi tiêu quốc phòng gần 700 tỷ đô la. Quân đội của chúng tôi sớm trở thành mạnh nhất chưa từng có.

Trong hơn 70 năm, thời chiến cũng như lúc hòa bình, những nhà lãnh đạo các quốc gia, các phong trào và tôn giáo đã đứng trước Hội Đồng (LHQ) này. Giống như họ, tôi có ý định trình bày những mối đe dọa nghiêm trọng trước mắt chúng ta hôm nay, cùng những tiềm ẩn to lớn đang chờ đợi để được tung ra.

Chúng ta đang sống trong thời có những cơ hội phi thường. Những khám phá khoa học, công nghệ và y học để chữa bệnh và giải quyết các vấn đề mà các thế hệ trước nghĩ là không thể có được.

Nhưng hàng ngày cũng mang lại tin tức về những mối hiểm nguy ngày càng đe dọa mọi giá trị mà chúng ta yêu mến.

Những kẻ khủng bố và cực đoan đã tập trung sức mạnh và lan rộng đến khắp nơi trên hành tinh. Các chế độ gian manh được đại diện trong cơ chế (LHQ) này không chỉ hỗ trợ khủng bố mà còn đe doạ các quốc gia khác và đe dọa người dân của họ bằng những vũ khí có tác dụng hủy hoại to lớn đối với nhân loại.

Những nhà cầm quyền và các quyền lực độc tài tìm cách phá hủy các giá trị, hệ thống và các liên minh nhằm ngăn ngừa xung đột và hướng thế giới về nền tự do kể từ Thế chiến II.

Mạng lưới tội ác quốc tế buôn bán ma tuý, vũ khí, và con người, tạo nên những cuộc di cư hàng loạt, đe doạ biên giới của chúng ta. Và các hình thức xâm lược mới khai thác công nghệ để đe dọa công dân của chúng ta.

Nói một cách đơn giản, chúng ta họp mặt trong một thời gian đầy hứa hẹn và hiểm nguy.

Sự việc hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, liệu chúng ta có nâng thế giới lên tầm cao mới hay để rơi vào một thung lũng hư nát. Chúng ta có quyền quyết định lựa chọn, nâng cao hàng triệu người khỏi đói nghèo, giúp công dân của chúng ta tìm được những ước mơ của chính mình và đảm bảo rằng các thế hệ trẻ thoát ra khỏi bạo lực, hận thù và sợ hãi.

Tổ chức này (LHQ) được thành lập sau hai cuộc chiến tranh thế giới để giúp hình thành tương lai tốt đẹp hơn. Nó dựa trên viễn kiến mà các quốc gia đa dạng có thể hợp tác để bảo vệ chủ quyền của họ, bảo vệ an ninh  và thúc đẩy sự thịnh vượng của họ.

Cũng trong khoảng thời gian đó, chính xác là 70 năm trước, Hoa Kỳ đã đưa ra Kế hoạch Marshall giúp phục hồi châu Âu. Ba trụ cột tốt đẹp của hoà bình là: chủ quyền, an ninh và thịnh vượng.

Kế hoạch Marshall được xây dựng dựa trên ý tưởng cao cả rằng toàn thế giới sẽ an toàn hơn khi các quốc gia được giàu mạnh, độc lập và tự do. Như Tổng Thống Truman đã từng nói trong thông điệp gửi Quốc hội lúc bấy giờ, sự ủng hộ đối với việc tái thiết châu Âu hoàn toàn phù hợp với sự ủng hộ của chúng tôi đối với Liên Hiệp Quốc. Sự thành công của Liên Hiệp Quốc tùy thuộc vào sức mạnh độc lập của các thành viên.

Để vượt qua những hiểm họa của hiện tại và đạt được những hứa hẹn trong tương lai, chúng ta phải bắt đầu với sự khôn ngoan của quá khứ. Thành công của chúng ta phụ thuộc vào liên minh các quốc gia mạnh và độc lập, nắm vững chủ quyền của mình, thúc đẩy an ninh, thịnh vượng và hòa bình cho chính họ và thế giới.

Chúng tôi không mong muốn các quốc gia đa dạng chia sẻ cùng nền văn hoá, truyền thống hoặc thậm chí là các hệ thống chính phủ như chúng tôi. Nhưng chúng tôi kỳ vọng tất cả các quốc gia duy trì hai nhiệm vụ chủ chốt về chủ quyền như sau: tôn trọng các quyền của người dân mình và quyền của các quốc gia có chủ quyền khác.

Đây là tầm nhìn tốt đẹp của tổ chức này. Và đây cũng là nền tảng cho sự hợp tác và thành công. Các quốc gia hùng mạnh và có chủ quyền sẽ cùng với các quốc gia đa dạng với các giá trị khác nhau, các nền văn hoá khác nhau và những giấc mơ khác nhau không chỉ tồn tại song song với nhau trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Các quốc gia mạnh có chủ quyền cho phép người dân của họ nắm quyền định đoạt tương lai và kiểm soát vận mệnh của họ. Và các quốc gia hùng mạnh, có chủ quyền cho phép các cá nhân phát triển trọn vẹn cuộc sống của mình như ý muốn của đấng Tối Cao.

Ở Mỹ, chúng tôi không tìm cách áp đặt lối sống của mình cho bất kỳ ai, mà để cho nó tỏa sáng như một tấm gương cho mọi người nhìn xem. Tuần lễ này mang lại cho đất nước chúng tôi một lý do đặc biệt để tự hào về ví dụ đó.

Chúng tôi đang kỷ niệm 230 năm Hiến pháp yêu quý của chúng tôi, hiến pháp lâu đời nhất vẫn còn được sử dụng trên thế giới ngày nay. Tài liệu vượt thời gian này đã là nền tảng cho hòa bình, thịnh vượng và tự do cho người Mỹ, và cho vô số hàng triệu người dân trên toàn cầu mà các quốc gia của họ đã tìm thấy nguồn cảm hứng cho sự tôn trọng bản chất con người, cho nhân phẩm và luật pháp.

Ba từ ngữ đẹp đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ là “We, The People” (chúng tôi là dân). Nhiều thế hệ người Mỹ đã hy sinh để duy trì lời hứa của những từ ngữ đó, lời hứa hẹn của đất nước chúng tôi và về lịch sử vĩ đại của chúng tôi..

Ở Hoa Kỳ, dân cai trị, dân nắm quyền và dân làm chủ.

Tôi được bầu không phải để nắm quyền, nhưng là chuyển quyền lực cho người dân Mỹ mà họ có quyền sở hữu.

Trong lãnh vực đối ngoại, chúng tôi đang tái lập các nguyên tắc cốt lõi về chủ quyền. Nhiệm vụ đầu tiên của chính phủ là phục vụ nhu cầu của dân, đảm bảo an ninh cho dân, bảo vệ quyền lợi của dân và bảo vệ các giá trị của dân.

Với cương vị tổng thống Hoa Kỳ, tôi sẽ luôn đặt nước Mỹ lên hàng ưu tiên, giống như quý vị, như các nhà lãnh đạo các quốc gia của quý vị, sẽ luôn luôn và phải luôn luôn đặt quốc gia của quý vị lên trên hết.

(Vỗ tay)

Tất cả các nhà lãnh đạo với tinh thần trách nhiệm đều có nghĩa vụ phục vụ công dân của họ, và chính quyền (quốc gia) của họ vẫn là phương tiện tốt nhất để nâng cao điều kiện của con người.

Nhưng việc làm cho cuộc sống người dân tốt đẹp hơn của chúng ta cũng đòi hỏi chúng ta phải hợp tác chặt chẽ và đoàn kết để tạo ra một tương lai an toàn và an bình cho tất cả mọi người.

Hoa Kỳ sẽ mãi mãi là người bạn tuyệt vời với thế giới, và nhất là với các đồng minh. Nhưng chúng ta cũng không thể lợi dụng hoặc đi đến những thỏa thuận một chiều mà Hoa Kỳ sẽ không được gì cả.

Chừng nào tôi còn giữ chức vụ này, tôi sẽ bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ lên trên hết. Tuy nhiên, để thực hiện nghĩa vụ đối với các quốc gia của mình, chúng tôi cũng nhận thấy rằng mọi người đều mong muốn tìm kiếm một tương lai mà tất cả các quốc gia đều có thể có chủ quyền, thịnh vượng và an toàn.

Nước Mỹ đã làm nhiều hơn là nói về các giá trị được thể hiện trong những quy ước của Liên Hiệp Quốc. Công dân của chúng tôi đã trả giá tối hậu để bảo vệ tự do của chúng tôi và tự do của nhiều quốc gia hiện diện trong đại sảnh hôm nay. Sự cống hiến của Hoa Kỳ được đo bằng những chiến trường, nơi mà những người trai trẻ hay phụ nữ của chúng tôi đã chiến đấu và hy sinh cùng với các đồng minh từ các bãi biển ở châu Âu, đến vùng sa mạc ở Trung Đông, đến các khu rừng rậm tại châu Á.

Thật là một tiếng tốt (credit) cho người Mỹ chúng tôi ngay cả khi chúng tôi và các đồng minh đạt được những chiến thắng từ cuộc chiến tranh đầy máu nhất trong lịch sử, chúng tôi đã không tìm kiếm mở rộng lãnh thổ hoặc chống đối hay áp đặt lối sống của chúng tôi lên người khác.

Thay vào đó, chúng tôi đã giúp xây dựng những cơ chế nhằm bảo vệ nền an ninh và thịnh vượng cho tất cả.

Đối với các quốc gia đa dạng trên thế giới, đây là hy vọng của chúng tôi. Chúng tôi muốn sự hòa hợp và tình bạn, không chống đối và xung đột. Chúng tôi được hướng dẫn bởi thành quả chứ không phải ý thức hệ.. Chúng tôi có một chính sách về chủ nghĩa hiện thực bắt nguồn từ các mục tiêu, lợi ích và giá trị chung.

Chủ nghĩa hiện thực buộc chúng tôi phải đối mặt với câu hỏi mà mọi nhà lãnh đạo và quốc gia phải đối mặt trong sảnh đường này. Đó là câu hỏi chúng ta không thể trốn thoát hay tránh né. Chúng ta sẽ trượt xuống con đường tự mãn, tê liệt trước những thách thức, đe dọa và ngay cả những cuộc chiến mà chúng ta phải đối mặt, hoặc chúng ta có đủ sức mạnh và niềm tự hào để đương đầu với những nguy cơ ngày hôm nay để dân chúng có thể hưởng thụ hòa bình và thịnh vượng ngày mai không?

Chúng ta mong muốn vực dậy các công dân của mình, nếu chúng ta mong đáp ứng sự chấp thuận của lịch sử, chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ chủ quyền đối với sự tin tưởng của những người mà chúng ta đại diện.

Chúng ta phải bảo vệ các quốc gia (thành viên) của chúng ta, lợi ích và tương lai của họ. Chúng ta phải chống lại các mối đe dọa với chủ quyền, từ Ukraine đến Nam Trung Hoa (Biển Đông). Chúng ta phải tôn trọng luật pháp, tôn trọng đường biên giới, tôn trọng văn hóa, và những thỏa thuận hoà bình cho phép.

Cũng như những người sáng lập ra tổ chức này, chúng ta phải cùng nhau hành động và đối đầu với những kẻ đe dọa chúng ta bằng sự hỗn loạn, gây rối và khủng bố.

Tai hoạ của hành tinh chúng ta hôm nay là một nhóm nhỏ các chế độ lừa đảo vi phạm mọi nguyên tắc căn bản của Liên Hiệp Quốc. Họ không tôn trọng người dân của họ cũng như tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác.

Nếu những người công chính không đối đầu với những kẻ độc ác, thì điều ác sẽ chiến thắng. Khi những dân tộc và quốc gia thịnh vượng trở thành những người ngoài cuộc trong lịch sử, thì những thế lực hủy hoại sẽ tăng sức mạnh và quyền lực.

Không ai khinh thường các quốc gia khác vì hạnh phúc của người dân mình hơn là chế độ đồi bại ở Bắc Triều Tiên, nguyên nhân gây ra nạn chết đói của hàng triệu người Bắc Triều Tiên, những giam giữ, tra tấn, giết người và áp bức khác nữa.

Chúng ta đều chứng kiến ​​sự lạm dụng chết người của một chế độ khi một sinh viên người Úc vô tội, Otto Warmbier, trở về Mỹ và chết một vài ngày sau đó. Chúng ta đã nhìn thấy nó trong vụ ám sát người anh của nhà độc tài bằng chất độc thần kinh bị cấm ở một sân bay quốc tế. Chúng ta biết nó đã bắt cóc một cô gái dịu hiền Nhật Bản 13 tuổi từ một bãi biển ở đất nước của cô để làm nô dịch dạy ngôn ngữ cho gián điệp Bắc Triều Tiên.

Nếu vấn đề này không được xiết chặt đúng mức, nhà nước vô trách nhiệm Bắc Hàn sẽ theo đuổi chương trình phát triển bom hạch tâm và hỏa tiễn đạn đạo đe dọa toàn thế giới với sự hủy diện mạng sống con người không thể tưởng tượng được. Thật là một sự phẫn nộ đối với một số quốc gia không những chỉ giao thương với một chế độ như vậy mà còn cung cấp và hỗ trợ tài chính cho một quốc gia đang đe dọa thế giới với một cuộc xung đột hạt nhân.

Không một quốc gia nào trên trái đất lại tìm thấy lợi ích trước nhóm tội phạm tự trang bị  vũ khí hạt nhân và hỏa tiễn.

Hoa Kỳ có sức mạnh và sự kiên nhẫn lớn, nhưng nếu buộc phải tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ các đồng minh, chúng tôi sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc hủy diệt hoàn toàn Bắc Triều Tiên. Rocket Man (người hỏa tiễn) đang tự sát cho chính mình và cho chế độ của mình.

Hoa Kỳ đã sẵn sàng, sẵn lòng và có khả năng. Nhưng hy vọng điều này sẽ không cần thiết.

Tất cả đều tùy thuộc vào Liên Hiệp Quốc. Đó là những gì mà LHQ phải làm. Chúng ta hãy xem nó sẽ như thế nào.

Đã đến lúc Bắc Hàn phải nhận ra rằng việc phi hạt nhân hóa là tương lai duy nhất được chấp nhận.

Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc gần đây đã có hai cuộc bỏ phiếu đồng thuận với 15-0, thông qua các nghị quyết cứng rắn chống lại Bắc Triều Tiên. Tôi muốn cảm ơn Trung Quốc và Nga đã tham gia bỏ phiếu áp đặt lệnh trừng phạt, cùng với tất cả các thành viên khác của Hội đồng Bảo An. Cảm ơn tất cả quý vị đã tham gia.

Nhưng chúng ta phải làm nhiều hơn nữa. Đã đến lúc tất cả các quốc gia cùng hợp tác để cô lập chế độ Kim cho đến khi chấm dứt hành động thù địch.

Chúng ta đối diện với quyết định này không chỉ với Bắc Triều Tiên. Đã đến lúc các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với một chế độ liều lĩnh khác công khai tuyên bố giết người hàng loạt, thề sẽ hủy hoại Hoa Kỳ, tiêu diệt Do Thái và hủy diệt nhiều lãnh tụ và quốc gia trong căn phòng này.

Chính phủ Iran đã che đậy chế độ độc tài tham nhũng bằng sự giả dối  của một nền dân chủ. Nó đã biến một quốc gia giàu có với lịch sử và văn hoá phong phú thành một quốc gia với nền kinh tế cạn kiệt và mà nền xuất khẩu chính là bạo lực, đổ máu và hỗn loạn.

Những người bị tổn thương nặng nề nhất tại Iran là nhân dân Iran. Trên thực tế, thay vì sử dụng nguồn lực để cải thiện cuộc sống của người Iran, mọi lợi nhuận từ dầu mỏ đã được dùng tài trợ cho Hezbollah và những kẻ khủng bố giết người vô tội, tấn công các nước láng giềng hòa bình Ả Rập và Do Thái.

Sự thịnh vượng này đúng ra là thuộc về người dân Iran, nó lại được mang tiếp tế cho chế độ độc tài của Bashar al-Assad, và cho cuộc nội chiến ở Yemen và phá hoại hòa bình trên toàn vùng Trung Đông. Chúng ta không thể để một chế độ giết người tiếp tục gây bất ổn bằng cách chế tạo những hỏa tiễn nguy hiểm.

Và chúng ta không thể chấp nhận một thỏa hiệp nếu nó che chở cho việc xây dựng một chương trình vũ khí hạt nhân.

(Vỗ tay)

Hiệp định với Iran là một trong những giao dịch tồi tệ nhất và một chiều nhất mà Hoa Kỳ từng tham dự. Thẳng thắn mà nói, thỏa thuận đó là một sự khó chịu đối với Hoa Kỳ, và tôi không nghĩ rằng quý vị nghe điều này là lần cuối cùng.

Đã đến lúc toàn thể thế giới cùng chúng tôi yêu cầu chính phủ Iran chấm dứt sự theo đuổi giết người và phá hủy. Đã đến lúc chế độ phải thả tất cả người Mỹ và công dân của các quốc gia khác mà họ đã giam giữ cách bất công. Và trên tất cả, chính phủ Iran phải ngừng hỗ trợ khủng bố, hãy phục vụ nhân dân của mình và tôn trọng chủ quyền của các nước láng giềng.

Toàn thế giới hiểu rằng những người giỏi của Iran muốn thay đổi, (ngoại trừ quyền lực quân sự rộng lớn của Hoa Kỳ), và rằng người dân Iran là cái lo sợ nhất cho các nhà lãnh đạo. Đây là lý do khiến cho chế độ hạn chế truy cập internet,  phá hủy các đĩa ăng ten vệ tinh, bắn những người biểu tình không vũ trang và bỏ tù các nhà cải cách chính trị.

Các chế độ áp bức không thể kéo dài mãi mãi, và cái ngày ấy sẽ đến khi người dân sẽ phải đối diện với một sự lựa chọn: liệu họ có tiếp tục chịu đi xuống con đường nghèo đói, đổ máu và khủng bố, hoặc người Iran sẽ trở về lại với nguồn gốc tự hào của đất nước như là một trung tâm văn minh, văn hoá và giàu có, nơi mà người dân của họ có thể được hạnh phúc và thịnh vượng một lần nữa?

Chế độ Iran đã ủng hộ khủng bố đối nghịch với những cam kết gần đây của nhiều nước láng giềng chống chủ nghĩa khủng bố và ngăn chặn tài chính của chúng.

Tại Ả Rập Xê Út vào đầu năm, tôi đã vinh dự được nói chuyện với các nhà lãnh đạo của hơn 50 quốc gia Ảrập và Hồi giáo. Chúng tôi đồng ý rằng tất cả các quốc gia có trách nhiệm phải làm việc cùng nhau để chống những tên khủng bố và chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo.

Chúng ta sẽ ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, bởi vì chúng ta không thể để chủ nghĩa này xé nát nước chúng ta, và thực sự, để hủy diệt toàn bộ thế giới. Chúng ta phải khước từ nơi ẩn trú an toàn, vận chuyển, tài trợ và bất kỳ hình thức hỗ trợ nào cho hệ tư tưởng xấu xa và độc ác của họ. Chúng ta phải loại họ ra khỏi các quốc gia của mình.

Đó là thời gian để phơi bày và buộc những quốc gia ủng hộ và tài trợ những nhóm khủng bố như Al Qaida, Hezbollah, Taliban và những kẻ giết hại những người vô tội khác.

Hoa Kỳ và các đồng minh của chúng tôi đang hợp tác với nhau tại Trung Đông để tiêu diệt những kẻ khủng bố đang thua và ngăn chặn sự tái xuất hiện những nơi trú ẩn an toàn mà họ sử dụng để tấn công tất cả nhân dân chúng ta.

Tháng trước, tôi tuyên bố một chiến lược mới để chiến thắng trong cuộc chiến chống lại cái ác này ở Afghanistan. Từ bây giờ, các mối quan tâm an ninh của chúng tôi sẽ chỉ ra chiều dài và phạm vi hoạt động của những cuộc hành quân, mà không phải do các tiêu chuẩn và thời gian biểu được các chính trị gia thành lập. Tôi cũng đã hoàn toàn thay đổi các quy tắc tham dự vào cuộc chiến chống Taliban và các nhóm khủng bố khác.

Tại Syria và Iraq, chúng ta đã đạt được những thành công lớn trong việc đánh bại ISIS kéo dài. Trong thực tế, các quốc gia của chúng ta đã đạt được nhiều thành quả hơn so với ISIS trong tám tháng qua so với nhiều năm hợp lại. Chúng tôi tìm kiếm sự xuống thang cuộc xung đột Syria và một giải pháp chính trị tôn trọng ý chí của người dân Syria.

Các hành động của chế độ tội ác của Bashar al-Assad, bao gồm việc sử dụng vũ khí hóa học chống lại chính công dân của mình, thậm chí cả trẻ vô tội, gây sốc lương tâm của những người tử tế. Không một xã hội nào có thể an toàn nếu những vũ khí hoá học bị cấm lại được phép lan truyền. Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ thực hiện một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn vào căn cứ không quân đã xuất phát cuộc tấn công (hóa học).

Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của các cơ quan của Liên hợp quốc đang hỗ trợ nhân đạo quan trọng trong các khu vực được giải phóng khỏi ISIS. Và chúng tôi đặc biệt cám ơn Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ và Li Băng vì vai trò của họ trong việc tiếp đón người tị nạn khỏi nơi xung đột Syria.

Hoa Kỳ là một quốc gia nhân đạo, đã chi hàng tỷ tỷ đô la để giúp đỡ nỗ lực này. Chúng tôi tìm kiếm cách tiếp cận tái định cư được thiết kế để giúp những người tị nạn đã bị đối xử khủng khiếp và để họ có cơ hội trở về quê hương tham gia quá trình xây dựng.

Đối với chi phí tái định cư cho một người tị nạn ở Hoa Kỳ, chúng tôi có thể trợ giúp hơn 10 lần trong khu vực nhà của họ. Với lòng tốt của chúng tôi, chúng tôi hỗ trợ tài chính cho các nước chủ nhà trong khu vực và chúng tôi ủng hộ các thỏa thuận gần đây của các quốc gia G-20 nhằm giúp người tị nạn ở càng gần đất nước của họ càng tốt. Đây là cách tiếp cận an toàn, có trách nhiệm và nhân đạo.

Trong nhiều thập kỷ, Hoa Kỳ đã đối diện với các thách thức về di dân. Ở phía Tây bán cầu, chúng ta biết rằng trong quá trình di dân không kiểm soát được lâu dài là điều bất công sâu xa đối với cả nước gửi đi lẫn nước tiếp nhận.

Đối với các nước gửi đi, nó làm giảm những áp lực các đòi hỏi cải cách chính trị và kinh tế cần thiết ở trong nước và đẩy đi những con người cần thiết cho sự thúc đẩy thực hiện cải cách này.

Đối với các quốc gia tiếp nhận, chi phí đáng kể của việc di cư không kiểm soát này đã làm cho các công dân có thu nhập thấp phải chịu đựng quá mức mà giới truyền thông lẫn chính phủ đều không để ý.

Tôi muốn chào mừng công việc của Liên Hiệp Quốc đã tìm cách nêu ra những vấn đề khiến người dân phải bỏ trốn khỏi nơi ở của họ. Liên hiệp quốc và Liên minh Châu Phi đã lãnh đạo các hoạt động gìn giữ hòa bình để có những đóng góp vô giá trong việc ổn định xung đột ở châu Phi.

Hoa Kỳ tiếp tục dẫn đầu thế giới về trợ giúp nhân đạo, bao gồm đề phòng và giảm nạn đói ở Nam Sudan, Somalia, miền bắc Nigeria và Yemen. Chúng tôi đã đầu tư vào chương trình y tế và cơ hội tốt hơn trên khắp thế giới, thông qua các chương trình như PEPFAR tài trợ cho việc cứu trợ AIDS; Sáng kiến ​​Sốt rét của Tổng thống; Chương trình An ninh Y tế Toàn cầu; Quỹ toàn cầu để chấm dứt nô lệ hiện đại; và Sáng kiến ​​Tài chính cho các doanh nhân Nữ, một phần trong cam kết của chúng tôi để trao quyền cho phụ nữ trên toàn cầu.

Chúng tôi cũng cảm ơn Ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc đã thừa nhận rằng Liên Hiệp Quốc cần phải cải tổ nếu nó là một đối tác hiệu quả đối phó với các mối đe dọa về chủ quyền, an ninh và sự thịnh vượng.

Đã quá thường xuyên, trọng tâm của tổ chức này không phải là kết quả, mà là sự quan liêu và tiến trình hành động. Trong một số trường hợp, nhiều quốc gia muốn phá bỏ những kết quả cao quý của tổ chức này đã chiếm quyền kiểm soát các hệ thống đáng lẽ phải được thăng tiến hơn.

Ví dụ, một trong những sự khó chịu của tổ chức LHQ là các chính phủ có hồ sơ vi phạm nhân quyền trầm trọng lại ngồi trong Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.

Hoa Kỳ là một trong số 193 quốc gia thuộc Liên Hiệp Quốc, nhưng chúng tôi phải trả 22 phần trăm toàn bộ ngân sách và còn nhiều hơn thế nữa. Trên thực tế, chúng tôi phải trả nhiều hơn bất cứ ai. Hoa Kỳ chịu gánh nặng chi phí một cách không công bằng. Nhưng để cho công bằng, nếu nó (LHQ) thực sự hoàn thành tất cả các mục tiêu đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu hòa bình, thì đầu tư này sẽ rất có giá trị.

Nhiều phần của thế giới đang trong tình trạng xung đột, và trên thực tế một số sẽ trở thành địa ngục. Nhưng những người có quyền lực trong căn phòng này, dưới sự hướng dẫn và sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, có thể giải quyết những vấn đề phức tạp và hóc búa này.

Nhân dân Hoa Kỳ hy vọng rằng một ngày nào đó, Liên Hiệp Quốc sẽ là một tổ chức trách nhiệm và bảo vệ hiệu quả hơn cho nhân phẩm và tự do trên toàn thế giới.

Trong lúc đó, chúng tôi tin rằng không quốc gia nào phải chịu khoản gánh nặng không cân xứng về mặt quân sự và tài chính. Các quốc gia trên thế giới phải đóng vai trò lớn hơn nữa trong việc gây dựng các xã hội an toàn và thịnh vượng trong khu vực của họ.

VỀ CUBA, VENEZUELA VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN CHUYỂN CHẾ

Đó là lý do tại sao ở Tây bán cầu, Hoa Kỳ đã chống lại chế độ tham nhũng, mất ổn định ở Cuba và (Hoa Kỳ) giúp giấc mơ từng ôm ấp lâu dài của người dân Cuba là được sống tự do.

Chính quyền của tôi gần đây đã thông báo sẽ không tháo gỡ những biện pháp chế tài đối với chính phủ Cuba cho đến khi họ thực hiện những cải cách cơ bản.

Chúng tôi cũng áp đặt các biện pháp chế tài cứng rắn và có tính toán lên chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa Maduro ở Venezuela đã đưa một quốc gia từng một thời thịnh vượng nay đang trên bờ sụp đổ toàn diện.

Chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa của Nicolas Maduro đã tạo ra niềm đau và khổ ải khủng khiếp cho người dân lành của đất nước họ. Chế độ tham nhũng này đã phá hủy một quốc gia thịnh vượng bằng cách áp đặt hệ tư tưởng đã hoàn toàn thất bại và tạo đói nghèo khốn khổ ở những  nơi nó đã được thực nghiệm. Làm cho vấn đề tồi tệ hơn, Maduro thách thức người dân, cướp quyền của các đại biểu được dân bầu để bảo vệ sự cai trị tàn bạo của mình.

Người dân Venezuela đang đói và đất nước họ đang sụp đổ. Cơ cấu dân chủ của họ đang bị phá hủy. Tình hình này hoàn toàn không thể chấp nhận được, chúng ta không thể đứng ngoài để xem. Là một người hàng xóm có trách nhiệm và bạn bè, chúng tôi và tất cả những người khác đều có một mục tiêu. Đó là giúp họ lấy lại tự do, phục hồi đất nước và phục hồi nền dân chủ của họ.

Tôi cảm ơn các nhà lãnh đạo trong căn phòng này đã lên án chế độ và cung cấp sự hỗ trợ thiết yếu cho người dân Venezuela.

Hoa Kỳ đã có những bước quan trọng làm cho chế độ này phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi sẵn sàng hành động nếu chính phủ Venezuela tiếp tục duy trì chế độ độc tài đối với người dân Venezuela.

Chúng tôi may mắn có được những mối quan hệ thương mại lành mạnh và mạnh mẽ với nhiều quốc gia châu Mỹ Latinh hiện có mặt ở đây hôm nay. Nhịp cầu kinh tế của chúng ta tạo thành nền tảng quan trọng cho việc kiến tạo hòa bình và thịnh vượng cho tất cả mọi người và tất cả các nước láng giềng của chúng tôi.

Tôi thỉnh cầu mọi quốc gia đại diện ở đây hôm nay chuẩn bị làm nhiều hơn nữa để giải quyết cuộc khủng hoảng thực sự này. Chúng tôi kêu gọi hoàn toàn khôi phục nền dân chủ và tự do chính trị cho Venezuela.

(Vỗ tay)

Vấn đề ở Venezuela không phải là chủ nghĩa xã hội đã được thực hiện một cách tồi tệ, nhưng chính là chủ nghĩa xã hội này đã được thực hiện một cách trung thực tại đây.

(Vỗ tay)

Từ Liên Xô đến Cuba tới Venezuela, bất cứ nơi nào mà chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản đã thực sự được áp dụng, nó đã mang lại khổ đau, tàn phá và thất bại. Những người từng tuyên truyền cho các nguyên lý của ý thức hệ mất uy tín này chỉ góp phần tạo nỗi thống khổ cho người dân sống trong hệ thống tàn ác của nó.

Hoa Kỳ đứng về phía với các dân tộc đang bị áp bức dưới các chế độ tàn bạo. Sự tôn trọng chủ quyền của chúng ta kêu gọi hành động. Tất cả người dân đều xứng đáng được quyền có một chính quyền quan tâm đến sự an toàn, lợi ích và phúc lợi của họ, kể cả sự thịnh vượng của họ.

THƯƠNG MẠI VÀ MẬU DỊCH HỖ TƯƠNG

Tại Hoa Kỳ, chúng tôi tìm kiếm các mối quan hệ thương mại và mậu dịch tốt đẹp hơn với tất cả các quốc gia có thiện chí. Nhưng thương mại này phải công bằng và phải có tính hỗ tương (hai chiều). Trong quá khứ dài người dân Mỹ được biết nhiều về những thỏa thuận thương mại đa quốc gia khổng lồ, các toà án quốc tế và các chính phủ toàn cầu mạnh mẽ là cách tốt nhất để thúc đẩy thành công của họ.

Nhưng khi những lời hứa đó không được tôn trọng, hàng triệu việc làm đã biến mất và hàng ngàn nhà máy mất dạng. Những người khác đã ăn gian hệ thống và phá vỡ các quy tắc. Tầng lớp trung lưu tuyệt vời của chúng tôi, nền tảng của sự thịnh vượng Hoa Kỳ, đã bị lãng quên và bị bỏ lại phía sau. Nhưng họ sẽ không còn và sẽ không bao giờ bị quên lãng nữa.

TRÁCH NHIỆM CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VÀ CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN

Trong khi Hoa Kỳ theo đuổi hợp tác thương mại với các quốc gia khác, chúng tôi đang thay đổi cam kết của mình đối với nhiệm vụ ưu tiên của mọi chính phủ, nghĩa vụ đối với các công dân. Mối liên kết này là nguồn sức mạnh của Hoa Kỳ và của mọi quốc gia có trách nhiệm đang hiện diện ở đây hôm nay. Nếu tổ chức (LHQ) này có hy vọng thành công trong việc đối đầu với những thách thức trước mắt chúng ta, điều đó – như Tổng Thống Truman đã nói cách đây 70 năm –  sẽ phụ thuộc vào sức mạnh độc lập của các quốc gia thành viên. Nếu chúng ta nắm lấy cơ hội của tương lai và cùng nhau vượt qua những nguy cơ hiện tại, thì không có gì có thể thay thế các quốc gia hùng mạnh, có chủ quyền và độc lập; các quốc gia bắt nguồn từ lịch sử và đầu tư vào định mệnh của họ; các quốc gia tìm kiếm đồng minh để kết bạn (mà không phải đi tìm kẻ thù để chinh phục), và quan trọng hơn cả, các quốc gia là quê nhà của những người yêu nước, nam lẫn nữ sẵn sàng hy sinh cho đất nước, cho đồng bào của họ và cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trong tinh thần nhân bản.

SỰ HY SINH VÀ LÒNG YÊU NƯỚC CỦA CÁC DÂN TỘC

Để tưởng nhớ cuộc chiến thắng vĩ đại dẫn đến sự ra đời của cơ chế (LHQ) này, chúng ta không bao giờ được quên những anh hùng chiến đấu chống kẻ ác độc đồng thời cũng chiến đấu cho quốc gia mà họ thương yêu. Lòng yêu nước đã khiến người dân Ba Lan phải liều chết để cứu Ba Lan, người Pháp chiến đấu cho một nước Pháp tự do, và người Anh đã đứng lên cho nước Anh của họ.

Ngày nay, nếu chúng ta không tự đầu tư trái tim và tâm trí cho quốc gia của mình, nếu không xây dựng gia đình vững chắc, cộng đồng an toàn và xã hội lành mạnh cho chính mình, thì không ai có thể làm thế điều đó cho chúng ta. Chúng ta không thể chờ đợi người khác, chờ đợi các quốc gia xa vời nào đó hoặc các chính phủ ở nơi xa xôi. Chúng ta không thể làm như vậy.

Chúng ta phải giải quyết các vấn đề của chúng ta để xây dựng sự thịnh vượng, bảo đảm an toàn cho chính tương lai chúng ta, hơn là tạo ra những gì dễ bị phân rã, bị thống trị và thất bại.

LÒNG YÊU NƯỚC CỦA CÁC DÂN TỘC – SỨ MẠNG CỦA LIÊN HIỆP QUỐC

Câu hỏi cơ bản thực sự cho Liên Hiệp Quốc hôm nay và cho mọi người trên khắp thế giới hy vọng cuộc sống tốt đẹp cho bản thân mình và con cái, là liệu chúng ta còn yêu nước không? Chúng ta có yêu thương các quốc gia của chúng ta để bảo vệ chủ quyền và quyết định tương lai của họ không?

Một trong những người yêu nước vĩ đại nhất của Hoa Kỳ, Ông John Adams, đã viết rằng Cuộc Cách mạng Hoa Kỳ đã được thực hiện trước khi chiến tranh bắt đầu. Cuộc cách mạng nằm trong tâm trí và trái tim của người dân. Đó là thời điểm mà nước Mỹ thức tỉnh, khi nhìn quanh và hiểu rằng chúng ta là một quốc gia. Chúng ta đã nhận ra mình là ai, nhận ra giá trị của mình và những gì chúng ta sẽ dành cả mạng sống để bảo vệ. Từ những khoảnh khắc đầu tiên đó, câu chuyện của nước Mỹ là câu chuyện về những gì có thể làm được khi mọi người nắm vững tương lai của họ.

Hoa Kỳ là một trong những lực lượng lớn trên thế giới góp phần tạo nên sự tốt đẹp cho lịch sử thế giới và bảo vệ chủ quyền, an ninh và thịnh vượng cho tất cả mọi người. Giờ đây chúng ta kêu gọi cuộc hồi sinh các quốc gia, cho sự phục hồi tinh thần, niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của họ.

Lịch sử hỏi chúng ta sẵn sàng hành động chưa?

Câu trả lời của chúng ta sẽ là sự đổi mới ý chí, sự khám phá quyết tâm và sự tái sinh lòng tận tụy. Chúng ta cần phải đánh bại kẻ thù của nhân loại và mở ra tiềm năng cho cuộc sống. Hy vọng của chúng ta là từ ngữ –  niềm tự hào – của thế giới, của những quốc gia độc lập nắm giữ nhiệm vụ của mình, kết nối hữu nghị, tôn trọng kẻ khác và kiến tạo mục tiêu chung cho mọi người, tương lai của nhân phẩm và hòa bình cho loài người trên Trái đất tuyệt vời này .

Đây là viễn kiến thực sự của Liên Hiệp Quốc, sự ước mơ lâu đời của mỗi người và lòng khao khát sâu thẳm nhất tồn tại trong tâm khảm của mỗi người.

Hãy để sứ mệnh và thông điệp của chúng ta đến với thế giới: Chúng ta sẽ cùng nhau chiến đấu, cùng nhau hy sinh, và cùng nhau đứng lên cho hòa bình, tự do, công lý, cho gia đình, cho nhân loại và cho Thượng Đế vĩ đại đã tạo ra chúng ta.

Cảm ơn quý vị.

Xin Thượng Đế phù hộ quý vị, ban phước cho các quốc gia trên thế giới và cho Hoa Kỳ.

Cảm ơn quý vị rất nhiều

(Vỗ tay) END

Bản phỏng dịch/Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ

Chân dung anh chàng 26 tuổi thừa kế đế chế PlayBoy từ người cha triệu phú vừa qua đời

Chân dung anh chàng 26 tuổi thừa kế đế chế PlayBoy từ người cha triệu phú vừa qua đời

Hugh Hefner – nhà sáng lập tạp chí PlayBoy – vừa qua đời ở tuổi 91. Đế chế này, sau đó, sẽ được chuyển giao lại cho Cooper Hefner, anh chàng mới 26 tuổi và là con út người đàn ông tự nhận là “kẻ hạnh phúc nhất hành tinh”.

Cooper Hefner là con trai của Hugh Hefner với người vợ thứ hai Kimberley Conrad. 26 tuổi, Cooper giữ vị trí Giám đốc sáng tạo tại Play Boy Enterprises.

Anh chàng này cũng là sáng lập viên kiêm CEO của công ty truyền thông HOP và là một thành viên của lực lượng quân đội California.

Giống như người cha, Cooper có rất nhiều người hâm mộ. Anh sống tại biệt thự Thỏ và có 71.000 người theo dõi trên Instagram.

Giờ đây, con số chắc chắn sẽ còn tăng lên, bởi anh chàng sẽ trở thành triệu phú Mỹ nhờ vào khoản thừa kế từ tài sản giá trị 40 triệu USD mà người cha để lại.

Cooper gia nhập đế chế PlayBoy khi mới 21 tuổi và duy trì việc điều hành tại đây liên tục, dù trong năm 2016, có lúc anh đã tính chuyện rời đi do những mâu thuẫn về chiến lược phát triển tờ tạp chí này với ban lãnh đạo.

Thời gian Cooper Hefner tạm nghỉ, doanh số của PlayBoy tuột dốc. Tháng 7/2016, Hugh Hefner từ chức, Cooper tiếp quản vị trí của cha để lại và hứa sẽ khôi phục lại tờ tạp chí theo đúng tiêu chí mà cha anh đã xây dựng từ những ngày tháng đầu tiên.

Giống như cha mình, cuộc sống của Cooper cũng vây quanh bởi người đẹp và siêu xe. Hình ảnh người thừa kế trẻ của PlayBoy bên cạnh chiếc Porsche láng cóng.

Cooper thường xuyên di chuyển bằng máy bay khi thực hiện công việc quản lý. Và dĩ nhiên, bên cạnh không thể thiếu hình ảnh những Nàng Thỏ nổi tiếng.

Cooper bên cạnh vị hôn thê, Scarlett Byrne – một người mẫu khá nổi. Họ đã đính hôn từ năm 2015, khi Cooper mới 24 tuổi.

Nói tới việc thừa kế công việc của cha, Cooper cho rằng “bất cứ cuốn sách nào cũng có chương tiếp theo. Đế chế này cũng sẽ thế”.

Dù cha và mẹ của Cooper Hefner ly hôn đã 10 năm, nhưng anh và Hugh vẫn rất thân thiết. “Ông ấy đã sống một cuộc đời đặc biệt, tạo nên một xu hướng văn hoá và sẽ luôn được nhớ tới trong trái tim của chúng tôi”.

Theo Trithuctre

Câu chuyện về bốn viên ngọc quý và bài học từ tình yêu thương

Câu chuyện về bốn viên ngọc quý và bài học từ tình yêu thương

Những gì chiếm lĩnh của người khác về mình lại càng không mang lại điều tốt đẹp. Mọi thứ chỉ bền vững khi tự tay mình gây dựng nên.

Có một câu chuyện cổ tích kể rằng, ở một làng quê nọ, có gia đình bác nông dân thật thà chất phác, quanh năm chỉ lo cày cấy ruộng vườn nhưng lại sống rất bình yên hạnh phúc. Gia đình bác luôn tràn ngập tiếng cười với 2 cô con gái và 3 cậu con trai.

Một ngày nọ, một vị thần đi tuần nhân gian, thấy cảnh bình yên trong nhà bác nông dân, liền hiện hình xuống và nhờ bác nông dân chuyển tới Đức vua một món quà. Vị thần dặn dò, đây là 4 viên ngọc quý đầy phép màu.

Viên thứ nhất mang lại cho người chủ những thức ăn cao lương, đồ uống ngon lành mà không một đầu bếp nào trên thế gian có thể nấu được.

Viên thứ hai mang đến cho chủ nhân của nó các loại mỹ phẩm, quần áo, giày dép, xe cộ, lụa là, gấm vóc, đồ trang sức quý hiếm.

Viên thứ ba cung cấp cho người sở hữu các loại vũ khí, quân trang, ngựa chiến… phục vụ chiến binh, giúp chủ nhân thêm sức mạnh chinh phục thiên hạ..

Viên thứ tư mang đến cho ai nắm giữ nó tiền bạc, của cải, vàng bạc, châu báu… Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu.

Nhận được món quà quý, Nhà vua rất bất ngờ và sung sướng. Ngài cũng rất vui vì đức hạnh của người nông dân nghèo, đặc biệt là sự thật thà. Nhà vua nghĩ, nếu vị thần mà đưa 4 viên này vào tay 1 người khác, chắc chắn hắn sẽ thủ mất luôn. Ít nhất cũng gian dối chỉ đưa cho mình 1-2 viên. Vì có ai biết được đâu!

Suy nghĩ trong giây lát, nhà vua quyết định tặng lại cho người nông dân chất phác này 1 viên. Bác ta được quyền chọn bất cứ viên nào bác muốn.

Bất ngờ trước quyết định của nhà vua, bác nông dân xin phép về bàn với gia đình để xem sẽ nhận viên nào trong 4 viên kể trên.

Rời cung vua, bác nông dân lập tức trở về nhà, triệu tập một cuộc họp cả gia đình lại để bàn xem nên nhận viên nào.

Bà vợ lên tiếng đầu tiên. Bà nói rằng việc ăn uống rất quan trọng. Bao năm nay bà vất vả nấu ăn phục vụ cả nhà, giờ có viên ngọc quý, bà tưởng tượng ra cả nhà từ nay sẽ có cơ hội ăn ngon ngủ kỹ và hưởng thụ cả đời.

Hai cô con gái thì không chịu. Các cô đang nghĩ đến những bộ quần áo đẹp, vòng vàng trang sức, giày dép… mà bạn bè chẳng ai có nổi.

Hai cậu con trai lớn lại tranh giành. Chúng đang nghĩ đến quyền lực, uy thế. Các cậu muốn chinh chiến và chiến thắng nên đang nghĩ tới những con ngựa chiến, những vũ khí tối tân để dễ dàng thống lĩnh.

Cậu út trầm tính hơn 2 anh, cậu chỉ mong có thật nhiều của cải, vàng bạc châu báu để có cuộc sông an nhàn, không phải lao động vất vả khổ sở.

Cả nhà không ai chịu ai, bắt đầu to tiếng cãi vã. Một gia đình hạnh phúc bắt đầu xuất hiện vết rạn. Chiến tranh bắt đầu xảy ra. Bà vợ quay sang làm mình làm mẩy, 2 cô con gái ngúng nguẩy kêu ca cả ngày, hai cậu con trai bắt đầu thể hiện sức mạnh còn cậu út cứ lầm lì không nói chẳng rằng, trái với bản tính vui vẻ bấy lâu nay.

Đúng hẹn, đến ngày thứ 10, bác nông dân tìm đến cung vua. Nhà vua mời bác ra hoa viên uống trà và tiếp chuyện bác, đồng thời sai mang 4 viên ngọc quý ra để bác nông dân lựa chọn theo ý muốn.

Tuy nhiên bác nông dân bất ngờ xin phép nhà vua không nhận viên nào. Nhà vua quá đỗi ngạc nhiên hỏi tại sao.

Bác nông dân chậm rãi giải thích rằng: Bẩm Đức Vua, trên đời này không có gì quý bằng sự bình an, bằng hạnh phúc. Bao năm nay nhà tôi nghèo thật nhưng rất hạnh phúc. Vợ chồng con cái yêu thương nhau. Có gì ăn đó. Ai cũng chăm chỉ làm lụng. Nụ cười và niềm vui luôn thường trực trong mỗi thành viên gia đình.

Từ khi được Nhà vua ban phước cho chọn 1 trong 4 viên ngọc quý, nhà bác trở thành nơi bất hạnh, không còn chút bình an. Viên ngọc tưởng quý mà thành họa. Chưa có ngọc trong tay, mà cả nhà đã cãi vã, tranh luận thậm chí dọa nạt nhau. Do vậy, tôi xin không nhận viên nào, trở lại cuộc sống an lành xưa nay.

Thực tế trong cuộc sống, cái gì đạt được quá dễ dàng thường không mang lại hạnh phúc. Và những gì chiếm lĩnh của người khác về mình lại càng không mang lại điều tốt đẹp. Mọi thứ chỉ bền vững khi tự tay mình gây dựng nên.

Câu chuyện về những viên ngọc quý cũng giúp tôi nhớ lại câu chuyện về những vị thần khác. Chuyện kể rằng, một sáng cuối tuần nọ, một người phụ nữ ra khỏi nhà và nhìn thấy 3 cụ già râu tóc bạc phơ ngồi ngay băng ghế đá trước sân nhà. Bà không hề quen ai trong số đó, nhưng vốn là người tốt bụng nên bà tiến lại hỏi han.

-Tôi không biết các ông, nhưng chắc các ông đang rất đói, xin mời vào nhà chúng tôi ăn chút gì đó!

-“Ông chủ có ở nhà không?” – một trong 3 ông già lên tiếng.

-Thưa có ạ! Mời các ông vào nhà.

-Ba chúng tôi không thể cùng vào nhà được – họ trả lời.

-Sao lại thế ạ? – người phụ nữ ngạc nhiên hỏi lại.

-Tên tôi là Tình Yêu, ông nay là Giàu Sang, và ông kia là Thành Công – một ông già giải thích – Bây giờ cô vào hỏi ý kiến gia đình xem quyết định ai trong chúng tôi sẽ được mời vào nhà.

Rất kinh ngạc nhưng người phụ nữ vẫn trở vào nhà, kể toàn bộ câu chuyện cho người chồng và đứa con gái nhỏ nghe.

-“Tuyệt thật” – người chồng lên tiếng – đây đúng là một cơ hội tốt. Chúng ta sẽ mời Giàu Sang vào nhà nhé, ngài sẽ ban cho chúng ta sự giàu có.

Người vợ không đồng ý: “Sao ta không mời ông Thành Công vào” chúng ta sẽ có quyền cao chức trọng.

Hai vợ chồng đang phân vân thì cô con gái nhỏ nãy giờ đứng yên bỗng lên tiếng: “Chúng ta nên mời ông Tình Yêu vào chứ ạ? Cả nhà chúng ta sẽ luôn tràn ngập niềm vui, tình yêu thương và hạnh phúc”.

Chợt tỉnh ra, cả ông bố và bà mẹ vội sửa soạn mọi thứ để đón khách vào nhà.

Người phụ nữ mở cửa bước ra và hỏi: “Ai trong các vị là Tình Yêu xin mời vào nhà và trở thành khách của gia đình chúng tôi!”

Ba ông già nghe hỏi, liên đứng dậy. Ông giá Tình yêu đi trước, hai ông Thành Công và Giàu Sang nối bước theo sau.

Vô cùng ngạc nhiên, người phụ nữ hỏi: “Tôi chỉ mời Tình Yêu thôi, sao các ông cũng cùng vào. Các ông bảo không thể vào cùng nhau mà?”

Cả 2 ông già đi sau cùng trả lời: “Nếu bà chỉ mời Thành Công hoặc Giàu Sang vào nhà, thì chỉ một trong 2 chúng tôi được làm khách. Nhưng bà đã chọn Tình Yêu, và ở đâu có Tình Yêu ở đó có Giàu Sang và Thành Công, do vậy cả 3 chúng tôi đều vào”.

Đôi khi bạn cần trải nghiệm mọi thứ để có thể học hỏi. Cuộc đời không phải điều bạn có thể dễ dàng tìm ra cách sống, vì vậy hãy đón nhận như những gì đến với bạn – và đừng bỏ lỡ những cơ hội mà đời trao cho bạn bởi những điều quan trọng nhất không phải là “VẬT CHẤT”, mà chính những “CON NGƯỜI” khiến cho cuộc đời bạn đáng sống.

Theo Trithuctre

Đưa 1 triệu người lên “thống trị” sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài?

Đưa 1 triệu người lên "thống trị" sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài?
Tỷ phú người Nam Phi Elon Musk nuôi giấc mộng chinh phục sao hỏa từ năm 2011. Ảnh: LinkedIn

Liệu Elon Musk có “hiện thực hóa” được giấc mơ “thuộc địa hóa” sao Hỏa của mình hay không?

Nung nấu kế hoạch “thuộc địa hóa” sao Hỏa từ năm 2011, 6 năm trôi qua, tỷ phú gốc Nam Phi Elon Musk không ngừng đưa những ý tưởng và kế hoạch cụ thể để biến “giấc mơ đưa 1 triệu người lên hành tinh đỏ sinh sống” thành sự thật.

Chưa một ai, chưa một quốc gia nào từng làm được việc “đưa người lên sao Hỏa sinh sống” cho tới thời điểm này.

Vì vậy, việc ông chủ của SpaceX tuyên bố sẽ hé lộ kế hoạch chi tiết quá trình đưa con người Trái Đất vào lúc 2 giờ chiều giờ ACST ở thành phố Adelaide (Nam Australia) (tức 11:30 sáng ngày 29/9/2017 giờ Việt Nam) chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, người yêu thiên văn trên thế giới.

Đưa 1 triệu người lên thống trị sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài? - Ảnh 1.

Elon Musk úp mở về buổi diễn thuyết quan trọng của mình tại Hội nghị Thiên văn học Quốc tế 2017.

Buổi diễn thuyết chính nói về kế hoạch “thuộc địa hóa” sao Hỏa được tỷ phú Elon Musk trình bày tại ngày cuối cùng của Hội nghị Thiên văn học Quốc tế (International Astronautical Congress) diễn ra từ 25 đến 29/9/2017 tại thành phố Adelaide (Australia).

Xem video livestream tại website của SpaceX, tại đây.

Năm 2011 Musk khẳng định mục đích cá nhân của ông là đưa người ra khai phá và định cư ở Sao Hỏa, trong khoảng 10-20 năm nữa.

Đưa 1 triệu người lên thống trị sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài? - Ảnh 2.

Ảnh Elon Musk cung cấp về căn cứ trên Mặt Trăng Moon Base Alpha trước giờ G. Nguồn: Theverge.com

Đưa 1 triệu người lên thống trị sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài? - Ảnh 3.

Thành phố sao Hỏa của Elon Musk. Nguồn: Theverge.com

Theo Elon Musk, Moon Base Alpha sẽ là trạm chung chuyển để các nhà du hành vũ trụ tiến tới chinh phục sao Hỏa về sau.

Bài viết sử dụng nguồn: NYTimes

Chi tỷ USD, Trung Quốc nung nấu cho Mỹ, Nga, Nhật “hít khói” bằng sứ mệnh vũ trụ có 1-0-2

Chi tỷ USD, Trung Quốc nung nấu cho Mỹ, Nga, Nhật "hít khói" bằng sứ mệnh vũ trụ có 1-0-2
Nguồn: CNTV.CN

Nếu thành công, hai sứ mệnh vũ trụ này của Trung Quốc có thể biến quốc gia này thành “siêu cường vũ trụ”.

Tính đến tháng 9/2017, nhờ công nghệ cùng tham vọng dẫn đầu thế giới, Trung Quốc đã gặt hái được nhiều kỷ lục thế giới mang thương hiệu “made in China”, ở các hạng mục: Nhanh nhất – Lớn nhất – Mạnh nhất thế giới.

Cụ thể, kỷ lục công nghệ Trung Quốc xác lập gần đây nhất là kỷ lục chế tạo thành công thế hệ tàu nhanh nhất thế giới: Tàu Phục Hưng (Fuxing) có vận tốc di chuyển trung bình 350 km/giờ, vận tốc cực đại đạt 400 km/giờ.

Trước đó, hồi tháng 6/2017, Trung Quốc “xuất xưởng” trang trại năng lượng Mặt trời nổi lớn nhất hành tinh, có công suất lên tới 40 megawatts, cung cấp đủ năng lượng cùng lúc cho 15.000 hộ dân.

Về kỷ lục thế giới hạng mục mạnh nhất thuộc về siêu máy tính Sunway TaihuLight với khả năng xử lý hơn 93 triệu tỷ phép tính/giây, do chính các kỹ sư Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu kỹ thuật và Công nghệ máy tính song song Trung Quốc (NRCPC) chế tạo. Kinh phí là 273 triệu USD!(Đọc bài chi tiết, tại đây).

Với 3 kỷ lục lớn này, Trung Quốc đã “vượt mặt” hàng loạt các quốc gia từng tự hào về công nghệ máy tính, công nghệ giao thông và công nghệ về năng lượng sạch như Mỹ, Nhật, Pháp, Canada, Đức…

Không dừng ở đó, không chỉ dừng ở việc thiết lập các kỷ lục trên Trái Đất, Trung Quốc còn đầu tư hàng tỷ USD cho công nghệ vũ trụ, quyết tâm đối chọi rồi vượt mặt NASA của Mỹ, Nga, Nhật hay các cường quốc vũ trụ khác trên thế giới.

Nếu như trước đây, Trung Quốc khá “im hơi lặng tiếng” trong cuộc chạy đua công nghệ vũ trụ, thì những năm gần đây, quốc gia này bắt đầu “thể hiện tiếng nói” bằng những dự án chinh phục vũ trụ, đặt mình là đối thủ với NASA (của Mỹ), ESA (của châu Âu) và các cơ quan vũ trụ khác của Nhật Bản, Nga.


6 TỶ USD MỖI NĂM CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHÔNG GIAN: TRUNG QUỐC “CHƠI TRỘI” HƠN NGA?

20h ngày 25/6/2016, bầu trời đêm ở tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) chợt bừng lên ánh sáng màu cam kèm âm thanh dữ dội. Đó là khoảnh khắc tên lửa đẩy dài 53 mét Long March 7 của Trung Quốc vút bay lên không trung, bắt đầu chuyến hành trình 394 km lên quỹ đạo Trái Đất.

Tiếp đó, vào ngày 16/8/2016, Trung Quốc tiếp tục phóng vệ tinh thông tin quy mô lớn Quantum Experiments với mục tiêu khám phá hiện tượng lượng tử kỳ lạ có tên “Rối lượng tử” mà Einstein từng miêu tả là “rất khó chứng minh”.

Bất ngờ hơn, để cạnh tranh với Trạm vũ trụ quốc tế (ISS), ngày 15/9/2016, Trung Quốc tiếp tục phóng phòng thí nghiệm không gian thứ hai là Tiangong 2 (Thiên Cung 2) nặng 9,5 tấn. Có thể nói, Thiên Cung 1 và Thiên Cung 2 là những “bước đệm” để Trung Quốc ấp ủ dự án phóng trạm vũ trụ của riêng mình vào năm 2020.

Chi tỷ USD, Trung Quốc nung nấu cho Mỹ, Nga, Nhật hít khói bằng sứ mệnh vũ trụ có 1-0-2 - Ảnh 2.

Trung Quốc chi mạnh tay cho các sứ mệnh vũ trụ. Nguồn: Internet

Đây mới chỉ là ba trong rất nhiều sự kiện cho thấy Trung Quốc đầu tư cho sứ mệnh khai phá vũ trụ trong những năm gần đây. “Trung Quốc đang thể hiện mình là “đối thủ nặng ký” với các cường quốc vũ trụ khác trên thế giới” là lời nhận xét mà Giám đốc khoa học của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) Fabio Favata đưa ra.

Con số ngân sách dành cho các chương trình không gian của Trung Quốc là bí mật, tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, nước này chi tiêu khoảng 6 tỷ USD mỗi năm cho thấy, quốc gia tỷ dân bắt đầu hướng mạnh đến việc nghiên cứu và khai phá vũ trụ bao la.

Con số chi tiêu 6 tỷ USD cho các chương trình không gian của Trung Quốc nhiều hơn Nga 1 tỷ USD, nhưng vẫn kém xa so với con số 40 tỷ USD của Mỹ. Mặc dù vậy, chỉ tính riêng năm 2013, trong khi Nga có 31 dự án phóng thành công lên không gian thì Mỹ lại “khiêm tốn” ở con số 19, trong khi Trung Quốc là 14 dự án.

Rõ ràng là người Trung Quốc đang mạnh dần lên trong hành trình thu phục không gian.

“Đến năm 2020, người ta sẽ thấy Trung Quốc mạnh hơn về các dự án liên quan đến vũ trụ là như thế nào!”, chuyên gia phân tích không gian Brian Harvey, tác giả cuốn China in Space: The Great Leap Forward” đã dự báo như vậy.

Bài báo có tựa đề “China: The new space superpower” đã đưa ra những dẫn chứng cho thấy, rất có thể trong tương lai, Trung Quốc sẽ nổi lên là “Siêu cường vũ trụ” của thế giới. Vậy, đâu là những dự án không gian táo bạo mà quốc gia này đang theo đuổi?


TRUNG QUỐC DẤN THÂN VÀO CHINH PHỤC MẶT TRĂNG VÀ HÀNH TINH ĐỎ

1. Khám phá nửa tối còn lại của Mặt Trăng vào năm 2018

Cho đến nay, chưa một quốc gia nào khám phá được bí mật ở phía bên kia của Mặt Trăng kể từ năm 1959 khi một con tàu vũ trụ của Liên Xô chụp được hình ảnh nửa tối bí ẩn của vệ tinh Trái Đất.

Với việc đầu tư hàng tỷ USD cho các dự án vụ trụ, Trung Quốc mạnh dạn tuyên bố, đến năm 2018 sẽ khám phá được bí mật thế kỷ này.

Theo Liu Jizhong, Giám đốc trung tâm thám hiểm Mặt Trăng của Trung Quốc cho biết, tàu vũ trụ Chang’e-4 thuộc Chương trình thám hiểm Mặt Trăng sẽ đảm nhiệm sứ mệnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại này.

Wu Zhijian, phát ngôn viên của Cục Quản lý Nhà nước về Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp Quốc phòng Trung Quốc thì: “Chang’e-4 là bước cải tiến công nghệ của Chang’e-3. Sứ mệnh lần này sẽ khó khăn hơn rất nhiều, do đó, các kỹ sư hàng không Trung Quốc phải chú trọng vào nhiều cải tiến công nghệ nhằm đảm bảo cho Chang’e-4 hoàn thiện các khâu đáp xuống bề mặt Mặt trăng, lấy mẫu, trở về Trái Đất”.

Chi tỷ USD, Trung Quốc nung nấu cho Mỹ, Nga, Nhật hít khói bằng sứ mệnh vũ trụ có 1-0-2 - Ảnh 4.

Tàu vũ trụ Chang’e-4 sẽ được phóng năm 2018. Nguồn: Cơ quan vũ trụ quốc gia Trung Quốc.

Theo dự kiến, vào năm 2018, sau khi được phóng tiếp cận Mặt Trăng, tàu vũ trụ Chang’e-4 sẽ dành 12 tháng vừa để khảo sát rồi tìm cách tiếp đất xuống vùng tối của Mặt Trăng. Sau đó, tiến hành nghiên cứu và khám phá bí mật của vệ tinh duy nhất của Trái Đất mà chưa quốc gia nào trên thế giới làm được.

2. “Thuộc địa hóa” sao Hỏa năm 2020

Ngày 11/1/2016, Trung Quốc chính thức phê duyệt dự án thăm dò sao Hỏa được chuẩn bị trước đó 8 năm. Dự kiến, vào quý 3 năm 2020, nước này sẽ phóng tàu vũ trụ đưa robot tự hành lên bề mặt của hành tinh đỏ. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, robot này sẽ thu thập dữ liệu và truyền về Trái Đất vào đầu năm 2021.

Chi tỷ USD, Trung Quốc nung nấu cho Mỹ, Nga, Nhật hít khói bằng sứ mệnh vũ trụ có 1-0-2 - Ảnh 5.

Tàu không gian thăm dò sao Hỏa gồm 3 bộ phận: Tàu không gian, tàu đổ bộ và nhóm robot khảo cứu. Nguồn: News.CN

Theo các chuyên gia, Trung Quốc không chỉ dừng ở tham vọng khám phá quỹ đạo và bề mặt của hành tinh đỏ, quốc gia này còn muốn đưa con người lên sinh sống tại hành tinh này.

Minh chứng cho điều này, Trung Quốc đã chi không tiếc tay cho mô hình nhà ở với môi trường mô phỏng điều kiện sao Hỏa ở một nơi bí mật để tạo bước đệm đưa con người lần đầu tiên trên thế giới đến sao Hỏa sinh sống.

Trước đó, Liên Xô, Mỹ, ESA và Ấn Độ đều đã gửi tàu thăm dò sao Hỏa, tuy nhiên, cho đến nay, chỉ có Mỹ là thành công trong việc đưa robot tự hành thăm dò bề mặt của hành tinh này. Tất nhiên, Trung Quốc vì thế càng tham vọng khai phá hành tinh đỏ, đặt mục tiêu trở thành quốc gia đầu tiên đưa người Trái Đất lên sinh sống.

Chi tỷ USD, Trung Quốc nung nấu cho Mỹ, Nga, Nhật hít khói bằng sứ mệnh vũ trụ có 1-0-2 - Ảnh 6.

Curiosity – Robot tự hành thăm dò sao Hỏa của NASA. Nguồn: NASA.

Không chỉ khám phá Mặt Trăng, “định cư” tại sao Hỏa, Trung Quốc còn có những tham vọng xa hơn như thăm dò sao Mộc vào năm 2036 và sao Thiên Vương vào năm 2046.

Nếu 2 kế hoạch táo bạo này của Trung Quốc thành công, vị thế “siêu cường vũ trụ” của quốc gia này hoàn toàn nằm trong tầm tay. Đã đến lúc NASA của Mỹ, ESA của châu Âu, Nhật Bản hay Nga nên có những bước tiến vĩ đại trong công cuộc khai phá và chinh phục vũ trụ nếu không muốn bị Trung Quốc “soán ngôi”.

Bài viết sử dụng các nguồn: Chinaspacereport, Theverge, Theguardian, Theatlantic, Space.com

Tin tức thế giới

Cựu ‘sếp’ NATO đánh giá bất ngờ về nguy cơ chiến tranh hạt nhân với Triều Tiên

Cựu 'sếp' NATO đánh giá bất ngờ về nguy cơ chiến tranh hạt nhân với Triều Tiên
Ông James Stavridis.

Đô đốc Hải quân về hưu James Stavridis đã có 37 năm hoạt động trong quân đội, bao gồm 4 năm làm chỉ huy liên minh Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vừa đưa ra đánh giá bất ngờ về khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân với Triều Tiên.

Theo tạp chí Vox của Mỹ, cựu đô đốc Stavridis được đánh giá là người có năng lực, giàu kinh nghiệm. Ông từng được nữ ứng cử viên Tổng thống Mỹ Hillary Clinton cân nhắc chọn làm người liên danh tranh cử. Ngay cả Tổng thống Donald Trump cũng xem xét đề cử ông vào vị trí Bộ trưởng Ngoại giao.

Ông tin rằng có ít nhất 10% cơ hội xảy ra một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Mỹ và Triều Tiên, còn cơ hội xảy ra một cuộc xung đột thông thường nhưng vẫn đẫm máu là 20 – 30%.

“Tôi nghĩ chúng ta đang đến gần hơn với một cuộc giao tranh đáng kể hơn những gì chúng ta đã trải qua từ thời Chiến tranh Lạnh ở trên Bán đảo Triều Tiên”, cựu đô đốc phát biểu ngày 26/9.

Ước tính của đô đốc Stavridis về số người thương vong từ một cuộc chiến tranh, ngay cả khi không phải là chiến tranh hạt nhân, với Triều Tiên là đáng giật mình.

Theo ông, Triều Tiên sở hữu ít nhất 11.000 khẩu pháo chĩa vào thủ đô Seoul của Hàn Quốc với 25 triệu dân sinh sống, và chắc chắn sẽ kích hoạt đến chúng khi xảy ra xung đột. Mỹ chắc chắn cần lên kế hoạch không kích lâu dài để có thể phá hủy những khẩu pháo trên nhanh nhất có thể.

Vì vậy, “không ít hơn 500.000 người tới 1 triệu người” là con số thương vong mà ông dự đoán. Và đó là giả định khi Triều Tiên không sử dụng tới vũ khí hạt nhân có thể nhắm trực tiếp tới Seoul và phần lớn lãnh thổ Nhật Bản.

Tướng Mỹ: Không cho phép Nga “vượt mặt” về quân sự!

Tướng Mỹ: Không cho phép Nga "vượt mặt" về quân sự!
Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Joseph Dunford. Ảnh: Reuters

Washington sẽ không để cho Nga “vượt mặt” về quân sự, đó là tuyên bố của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Joseph Dunford trước Thượng viện mới đây.

Trong phiên điều trần trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ ngày 26/9 vừa qua (một thủ tục để gia hạn nhiệm kỳ của ông Dunford thêm hai năm), vị tướng cấp cao nhất của Mỹ đã nhận được câu hỏi rằng Mỹ nên xử lý như thế nào trước việc Nga triển khai tên lửa hành trình trên bộ mang đầu đạn hạt nhân (GLCM).

Trả lời câu hỏi này, ông Dunford nói: “Bằng cách trực tiếp hoặc phối hợp với các đồng minh, chúng ta cần tiếp tục làm cho Nga phải tuân thủ một cách hoàn toàn và có thể kiểm chứng được trong việc thực hiện Hiệp ước vũ khí Hạt nhân Tầm trung (INF). Tình trạng hiện nay là chúng ta tuân thủ hiệp ước đó còn họ thì không, đó là không thể tiếp tục kéo dài”.

Theo các quan chức Mỹ, việc Nga triển khai GLCM sẽ tăng cường khả năng tấn công bằng vũ khí thông thường và hạt nhân của Nga. Đây được coi là một mối đe dọa đối với các lực lượng Mỹ và đồng minh ở Châu Âu và Thái Bình Dương.

“Chúng ta sẽ hợp tác với các đồng minh và Hạ viện để đảm bảo mình luôn đủ năng lực tấn công và phòng thủ, đồng thời chắc chắn rằng Nga không có lợi thế, vượt hơn về mặt quân sự khi họ vi phạm Hiệp ước này”, ông Dunford tuyên bố.

Theo vị tướng cấp cao nhất của Mỹ, chính quyền ông Trump “đang xem xét rất nhiều chính sách chi tiết liên quan tới việc Nga vi phạm hiệp ước INF và các chiến lược đối phó của Mỹ”.

Khi được hỏi liệu có nên tiếp tục coi Nga là “mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia Mỹ” (một nhận định ông Dunford đưa ra vào năm 2015), ông Dunford cho biết “Nga vẫn đặt ra những thách thức quân sự đối với Mỹ và Nga đang hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân của họ”.

Hiệp ước INF cấm cả Nga và Mỹ sản xuất, thử nghiệm các tên lửa tầm trung đã được triển khai hoặc các thiết bị phóng các tên lửa có tầm bắn từ 500 km đến 5.500 km này.

Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc được xác lập tư tưởng chính trị như thế nào?

Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc được xác lập tư tưởng chính trị như thế nào?
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (Ảnh: Xinhua)

Điều lệ của đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ có điều chỉnh về lý luận, tư tưởng ở Đại hội toàn quốc khóa 19 tới đây, dự kiến diễn ra từ ngày 18/10.

Hội nghị của Bộ chính trị trung ương ĐCSTQ hôm 18/9 ra quyết định, “tư tưởng chiến lược lớn và quan điểm lý luận lớn được xác lập ở Đại hội 19 sẽ được ghi vào Điều lệ đảng”.

Theo tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP), thông điệp này cho thấy nhiều khả năng những quan điểm và triết lý chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình, cũng là Tổng bí thư ĐCSTQ, sẽ được đưa vào Điều lệ đảng này, điều mà trong quá khứ chỉ có hai lãnh đạo Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình thực hiện được.

ĐCSTQ đã ấn hành nhiều cuốn sách giới thiệu các tư tưởng, các bài phát biểu của ông Tập kể từ khi ông lên nắm quyền cuối năm 2012. Tư tưởng chính trị của cá nhân lãnh đạo được đưa vào Điều lệ đảng còn là một vinh dự, thể hiện sự đồng thuận lớn của tập thể đảng viên đối với cá nhân đó.

Đại hội 19 của ĐCSTQ dự kiến họp từ ngày 18/10 tại thủ đô Bắc Kinh. Đây là kỳ Đại hội chính thức đánh dấu mốc quan trọng “Trung Quốc trong thời đại Tập Cận Bình” với hai tiêu chí.

Một là, xác lập “Tư tưởng Tập Cận Bình” nhằm khẳng định địa vị lãnh đạo của ông. Thông báo của Tân Hoa Xã viết: Đại hội sẽ quán triệt lý luận của ông Tập về “4 tự tin” (đường lối, lý luận, chế độ, văn hóa) và thúc đẩy chiến lược “ 4 toàn diện”, phấn đấu hiện thực hóa xã hội khá giả.

Hai là, hình thành ban lãnh đạo mới của Trung Quốc sau 5 năm chống tham nhũng quyết liệt và cơ cấu lại bộ maý cơ quan đảng và Nhà nước. Sau Đại hội, ban lãnh đạo mới được kỳ vọng thực hiện mục tiêu xã hội khá giả và “Giấc mộng Trung Hoa” mà ông Tập đã tuyên bố khi bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên của mình.

Mao Trạch Đông (trái) và Lâm Bưu trên đài chủ tịch Đại hội khóa 9 của ĐCSTQ, ngày 14/4/1969 (Ảnh: Xinhua)

Tư tưởng của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc

Nhìn lại lịch sử cho thấy ĐCSTQ qua các thế hệ lãnh đạo trước đây đã có tiền lệ xác lập “hạt nhân lãnh đạo” của đảng, từ đó hình thành “Tư tưởng của hạt nhân lãnh đạo” nhằm thống nhất tư tưởng trong đảng.

Tháng 6/1989, ông Đặng Tiểu Bình nói “Bất kỳ một tập thể lãnh đạo nào của Trung Quốc đều có Hạt nhân lãnh đạo, không có Hạt nhân lãnh đạo thì không có chỗ dựa”. Ông xác định thế hệ lãnh đạo thứ nhất Mao Trạch Đông là “hạt nhan”, và thế hệ lãnh đạo thứ 2 là bản thân ông.

“Hạt nhân lãnh đạo Mao Trạch Đông” được xác lập vào năm 1935 tại Hội nghị Tuân Nghĩa ở tỉnh Quý Châu. Nhưng tới năm 1945, Đại hội khóa 7 của ĐCSTQ mới xác định “Tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Năm 1956 tại Đại hội 8, Tư tưởng Mao Trạch Đông bị bãi bỏ vì khi đó Trung Quốc chỉ trích vấn đề “sùng bái cá nhân”. Nhưng tới năm 1969, Đại hội 9 khôi phục lại Tư tưởng Mao. Như vậy, phải mất tới 34 năm (1935-1969), “Hạt nhân lãnh đạo Mao Trạch Đông” mới được xác lập “Tư tưởng Mao Trạch Đông” trong Điều lệ ĐCSTQ.

Theo báo chí nhà nước Trung Quốc, đặc trưng của “Tư tưởng Mao Trạch Đông” gồm: Xác định được cuộc cuộc Cách mạng dân chủ mới, lập nên nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; Định ra “Đường lối quần chúng” và phương châm “Thực sự cầu thị” cho đảng; Xác lập tư tưởng “Tự lực cánh sinh” trong xây dựng đất nước.

Thế hệ thứ hai “Hạt nhân lãnh đạo Đặng Tiểu Bình” được xác lập trong Hội nghị toàn thể trung ương 3 Khóa 11 năm 1978. Sau 19 năm, tới tháng 9/1997 – sau khi ông Đặng mất được 7 tháng, Đại hội khóa 15 của ĐCSTQ mới xác lập tên gọi “Lý luận Đặng Tiểu Bình”, cũng là học thuyết chính trị của ông này.

Đặc trưng cơ bản của Lý luận Đặng Tiểu Bình là “xây dựng Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”, giải phóng tư tưởng, cải cách mở cửa.

Về đối ngoại, ông Đặng chủ trương phá bỏ trật tự thế giới cũ do Mỹ và phương Tây dựng lên, đồng thời chia cục diện thế giới thành ba loại: Siêu cường, cường quốc và nước đang phát triển. Trong đó, Trung Quốc được xác định là nước đang phát triển.

Các thế hệ tiếp theo dù không nổi bật như Mao, Đặng nhưng cũng phát triển những lý thuyết của riêng mình.

Năm 2004, lãnh đạo Giang Trạch Dân đưa ra tư tưởng “3 đại diện” đối với ĐCSTQ để chấn chỉnh tổ chức, kỷ luật đảng. Về đối ngoại, ông Giang khởi xưởng “đường lối ngoại giao nước lớn”, chủ yếu coi trọng quan hệ với các nước lớn, nhất là Mỹ, Nga và các nước phương Tây phát triển. Ông Hồ Cẩm Đào cũng thúc đẩy chủ trương của riêng mình về phát triển khoa học công nghệ.

Các lãnh đạo Trung Quốc tại Hội nghị toàn thể trung ương 6 khóa 18, tháng 10/2016 (Ảnh: Xinhua)

Ông Tập Cận Bình có những tư tưởng gì?

Chủ tịch Tập Cận Bình là lãnh đạo thế hệ thứ 5 của Trung Quốc, được xác lập là “Hạt nhân lãnh đạo” ở Hội nghị toàn thể trung ương 6 khóa 18 họp tháng 10/2016. Nếu học thuyết chính trị của ông Tập được ghi vào Điều lệ đảng sau Đại hội 19, thì nhà lãnh đạo này sẽ lập kỷ lục về thời gian từ khi trở thành Hạt nhân cho đến khi được xác lập tư tưởng trong đảng.

Ngày 15/7/2017, tạp chí Nghiên cứu xây dựng đảng của Trung Quốc đề cập tới các học thuyết của ông Tập, gọi đây “là thành quả mới nhất trong việc Trung Quốc hóa Chủ nghĩa Marx”.

Trước đó, Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc Lưu Vân Sơn và Chánh Văn phòng trung ương đảng Lật Chiến Thư đều có bài đề cập tới tư tưởng Tập Cận Bình.

Tiếp đó Trưởng ban tuyên truyền của ĐCSTQ, ông Lưu Kỳ Bảo cho rằng “Thành quả lý luận to lớn 5 năm qua là Tư duy mới, Tư tưởng mới, Chiến lược mới về quản lý đất nước của Tập Cận Bình”.

Ngày 17/7/2017, Ủy viên quốc vụ Dương Khiết Trì có bài “Tư tưởng ngoại giao Tập Cận Bình”.

Học viện hành chính quốc gia Trung Quốc còn cho rằng các lý luận của ông Tập lấy “Ngọn cờ ‘giấc mộng Trung Quốc’ tập hợp sưc mạnh, lấy ‘4 toàn diện’ tái tạo bộ mặt mới của Trung Quốc, và đưa ra lý luận tạo ra ý thức hệ mới để dẫn dắt thế giới vào thời đại mới…”

Cho đến nay, “4 toàn diện”, do báo đảng Nhân dân Nhật báo giới thiệu vào tháng 12/2014, được cho là sẽ trở thành đặc trưng cơ bản của tư tưởng Tập Cận Bình, bao gồm “xây dựng toàn diện xã hội khá giả, toàn diện đi sâu cải cách, toàn diện trị quốc theo pháp luật, toàn diện nghiêm khắc quản lý đảng”.

Đến tháng 2/2015, hãng thông tấn nhà nước Tân Hoa Xã xác định đây là “bố cục chiến lược và cương lĩnh chính trị chỉ đạo cho xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn tiếp theo”.

Nhân dân Nhật báo ngày hôm nay (29/9) nhấn mạnh “từ bố cục chiến lược ‘4 toàn diện’ nhìn lý luận sáng tạo trên cơ sở thực tiễn”, trong đó yêu cầu các đảng viên Trung Quốc “coi trọng vai trò của lý luận, tăng cường tự tin lý luận và vững chắc về chiến lược”.

Về đối ngoại, “giấc mộng Trung Quốc” mà ông Tập Cận Bình khởi xướng đã trở thành nền tảng cơ bản để định hình di sản của ông, với mục tiêu phục hưng thời kỳ huy hoàng của Trung Quốc như thời “Đại Đường thịnh thế” trong quá khứ.

Ông chủ trương Trung Quốc cần phát huy vai trò chủ chốt trong một số tổ chức quốc tế như Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS, Ngân hàng đàu tư hạ tầng Châu Á (AIIB), đồng thời dùng sáng kiến “Vành đai và Con đường” làm công cụ thực hiện bố cục lại trật tự thế giới hiện nay.

Lời phản biện tại buổi trình chiếu sơ lược phim “The Vietnam War”

Ts. Nguyễn Ngọc Sẵng

– Tôi may mắn được đại diện đài truyền hình PBS và Thư Viện địa phương mời vào Ban Điều Hành Thảo Luận (discussing panel) về phim “The Vietnam War” do hai nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick bỏ ra mười năm thu thập tài liệu để làm ra cuốn phim 18 tập nầy. Phim sẽ được trình chiếu vào ngày 17 tháng 9 năm 2017 trên Đài Truyền Hình PBS của Mỹ.

Trước số lượng khán giả khoảng hơn 200 người, toàn là người Mỹ (trừ cô phụ tá, tôi là một bác sĩ trẻ, Quyên Huỳnh). Tôi rất áy náy, nhưng quyết định nhận lời vì nghĩ rằng đây là cơ hội để nói lên quan điểm của Người Lính Việt Nam Cộng Hoà về Chiến Tranh Việt Nam. Tôi lên đường vì ý niệm đó dù biết sẽ không dễ dàng, nhất là ngôn ngữ.

Sau phần trình chiếu, họ hỏi mỗi người trong Ban Điều Hành Thảo Luận một câu. Trong phim có một cựu chiến binh Bắc Việt, tên Bảo Ninh được phỏng vấn, và ông nói rằng trong cuộc chiến tranh Việt Nam KHÔNG có người thắng (no winners). Người điều khiển chương trình hỏi tôi nghĩ gì về ý kiến nầy?

Trước khi trả lời, tôi trình bày nhận định rằng muốn biết ai thắng, ai thua phải biết ít nhất ba (3) điều căn bản: (1) mục tiêu tham chiến của các bên, (2) Sự tổn thất mà họ trả giá, (3) và đánh giá trên tổng thể do cuộc chiến gây ra.

  1. Mục Tiêu Tham Chiến
  2. Mỹ tham gia cuộc chiến vì muốn KIỀM CHẾ Trung cộng, theo tài liệu Pantagon Papers, một nghiên cứu chính thức của Bộ Quốc Phòng Mỹ về sự tham dự của Mỹ tại Việt Nam từ 1945 đến 1967 do ông Daniel Ellsberg thực hiện và được công khai trên tờ The New York Times năm 1971, chủ yếu không nhằm bảo vệ sự độc lập của Miền Nam. Bảo vệ Miền Nam là chiến thuật trong chiến lược ngăn chận Tàu. Tài liệu nầy dài khoảng 4,000 trang và được liệt kê là Tối Mật và được giải mã ngày 4 tháng 5 năm 2011 tại thư viện của Tổng Thống Richard Nixon tại California.
  3. Mục tiêu của Bắc Việt là Giải Phóng Miền Nam bằng vũ lực để Làm Bàn Đạp cho cuộc bành trướng của cộng sản quốc tế xuống vùng Đông Nam Á. Việc nầy do Hồ Chí Minh thực hiện với sứ mạng là người lãnh đạo cộng sản Đông Dương từ năm 1932. Và điều nầy hoàn toàn phù hợp với lời tuyên bố của Tổng Bí Thư Lê Duẩn “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, Trung cộng”, nếu câu nói nầy đúng sự thật. Đây là sứ mạng của những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam.
  4. Mục tiêu của những nhà lãnh đạo Miền Nam là bảo vệ độc lập, chủ quyền Miền Nam chống lại sự xâm lăng của cộng sản Miền Bắc với sự viện trợ tối đa của Nga, Tàu và khối cộng sản Đông Âu, kể cả Cuba. Nhưng vì thế yếu họ chấp nhận và yêu cầu Mỹ và khối tư bản viện trợ để họ bảo vệ lãnh thổ, và dân chúng theo họ.
  5. Những Tổn Thất Của Các Bên
  6. Phía Mỹ có 58,307.00 binh sĩ tử trận, chi tiêu 168 tỷ Mỹ kim (có tài liệu nói 1,020 tỷ), 303,604.00 binh sĩ bị thương, 1,948.00 binh sĩ mất tích và lúc cao điểm của chiến tranh có 543,000.00 binh sĩ tham chiến. Khi chiến binh Mỹ từ chiến trường Việt Nam về bị dân chúng khinh thị, không đón tiếp trọng thể như những binh sĩ tham gia trong những cuộc chiến ngoại biên khác. Và vết thương chiến tranh chưa hoàn toàn hàn gắn được.
  7. Phía Bắc Việt có 950,765.00 binh sĩ tử trận, gần 600,000.00 bị thương, số mất tích không có con số rõ ràng, ước tính khoảng 300 ngàn người… Trong chiến cuộc, Miền Bắc được xếp vào hạng 1 trong 5 quốc gia nghèo nhất thế giới. Và cuộc chiến do Miền Bắc gây ra làm thiệt mạng 2 triệu thường dân.
  8. Phía Việt Nam Cộng Hoà có 275 ngàn chiến sĩ thiệt mạng, khoảng 1.170.000 người bị thương, không có con số mất tích được liệt kê và ngày 30 tháng 4 năm 1975 họ đầu hàng vô điều kiện.
  9. Ai Thắng? Ai Thua?
  10. Từ những phân tích trên, tôi trình bày quan điểm riêng rằng Mỹ đã đạt được mục tiêu Kềm Chế Trung cộng, vậy Mỹ là người THẮNG.
  11. Cũng từ phân tách nầy, tôi trình bày cho thính giả rằng Bắc Việt hy sinh gần 1 triệu binh sĩ, gần 6 trăm ngàn người thương tật, 300 ngàn người mất tích, làm 2 triệu thường dân bị chết oan và biến đất nước thành 1 trong 5 nước nghèo nhất thế giới, vậy Bắc Việt là người THUA vì phải trả giá quá đắt mà Trung cộng vẫn không nhuộm đỏ được vùng Đông Nam Á. Họ THUA vì không đạt được mục tiêu.
  12. Việt Nam Cộng Hoà đầu hàng vô điều kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 là người THUA. Theo bài phỏng vấn của Tướng Frederick C. Weyand ngày 12 tháng 6 năm 2006 thì cuộc chiến bị thua không phải do quân đội kém cõi mà do những người lãnh đạo chính trị ở Washington. Họ thắng trên chiến trường, nhưng thua vì sự bội ước của đồng minh. Nhưng theo thiển nghĩ thì sau khi Hoa Kỳ đã hoàn thành mục tiêu kiềm chế Trung cộng, họ rút lui bằng sự trả giá của nhiều bên, trong đó có cả binh sĩ của họ.

Kết luận sau cùng của tôi với cử toạ là cả hai phía người Việt đều là kẻ thua, nhất là dân tộc Việt Nam là người thua trong cuộc chiến tranh ủy nhiệm của người cộng sản do Hồ chí Minh, người cộng sản quốc tế, thực hiện sứ mạng trên sự đau xót vô vàn của dân tộc, làm kiệt quệ đất nước và tạo vết thương lịch sử dù 42 năm rồi vẫn chưa lành và không biết có cơ hội nào để lành vết thương dân tộc nầy.

Một cử toạ hỏi tôi về hậu quả tâm lý hiện tại của cuộc chiến, tôi chỉ đơn giản trả lời “bên thắng cuộc vẫn coi bên thua cuộc là kẻ thù cho dù chiến tranh đã chấm dứt 42 năm rồi”.

Cuốn phim vẫn trình bày những sự kiện mang tính cách tuyên truyền cũ rích dù họ bỏ ra 10 năm sưu tập tài liệu, phỏng vấn một số người trong và ngoài nước. Vẫn trưng tấm hình Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên Việt cộng Bảy Lốp trên đường phố Sài Gòn, vẫn bản cũ kết tội tên Trung úy William Calley sát hại 128 thường dân, vẫn chuyện thả bom napalm vào một số làng mạc gây thương tích cho thường dân v.v…, nhưng tôi nói thẳng với họ rằng Việt cộng pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy ngày 9 tháng 3 năm 1974 làm thiệt mạng gần 200 em học sinh tiểu học sao đoàn làm phim không biết? Trong trận Tết Mậu Thân quân cộng sản sát hại gần 6 ngàn đồng bào vô tội tại Huế, sự kiện chấn động cả thế giới mà đài truyền hình PBS không hay? Phim vẫn cho rằng công ty hoá chất Dow Chemical sản xuất bom Napalm để dội vào làng giết hại dân lành, tôi thẳng thắn nói với họ rằng bom Napalm không chế tạo để giết dân lành và vụ cô Kim Phúc là một trong những nhầm lẫn trong chiến trường như Mỹ đã từng nhầm lẫn ném bom trúng tòa đại sứ Trung cộng tại Kosovo 1999, thỉnh thoảng ném bom nhầm tại Iraq, Afghanistan, Syria v.v…, Thậm chí họ còn ném bom nhầm vào những đơn vị quân đội của Hoa Kỳ, bắn nhầm binh sĩ Hoa Kỳ v.v…, trong chiến tranh không thế nào tránh nhầm lẫn được. Thế mà bọn truyền thông dòng chính vẫn cố tình vu khống một cách lố bịch, không chút liêm sỉ, những sai lầm mà ai cũng có thể nhận thấy. Thảo nào Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump miệt thị họ không oan chút nào.

Sau buổi hội thảo, một sử gia Mỹ tên Bill Laurie gặp tôi và ông nói Bảy Lốp là tên khủng bố đã sát hại 6 người thân của viên chức VNCH, nên bắn Lốp là không vi phạm công ước Geneve.

Có thể đáng lẽ người Mỹ đã rút quân trước 1969 nếu người tư lệnh chiến trường Việt Nam của họ có chiến thuật đúng đắn, khác với chiến thuật “Truy tầm, tiêu diệt” mà Tướng Westmoreland, người được báo chí gọi là vị Tướng bại trận tại Việt Nam (The General Who Lost Vietnam) áp dụng trong nhiều năm. Những nhà bình luận quân sự chỉ trích chiến thuật dùng lực lượng hùng hậu để truy lùng giặc của Westmoland là không đúng. Chiến thuật nầy chỉ có kết quả khi đối phương chấp nhận đương đầu, nhưng quân Bắc Việt vào thời điểm đó, họ tránh né trong những cuộc hành quân lớn, họ rút sâu vào rừng hoặc vượt qua biên giới Cao Miên, Lào để bảo toàn lực lượng.

Nếu họ xử dụng những vị Tướng tài như Tướng Harold K. Johnson, Frederick C. Weyand, v,v,. thì có lẽ người lính Mỹ đã hồi hương sớm, ít thiệt hại sau khi đã hoàn thành mục đích Kềm Chế Trung cộng. Và mức độ thiệt hại mà quân đội hai phía Việt Nam sẽ ít hơn, nhất là con số thiệt hại nhân mạng dân lành sẽ thấp hơn, mức độ nghèo nàn, đói rách, lạc hậu của người dân Việt Nam sẽ ít hơn, và trên hết hận thù không dai dẳng như ngày hôm nay.

Vấn đề viện trợ quân sự cho Miền Nam cũng góp phần trong chánh sách “phủi tay” của Hoa Kỳ. Từ con số 2.8 tỉ năm 1973, còn 1 tỉ năm 1974 và 300 Triệu cho năm 1975. Và cuối cùng, tháng 12 năm 1974 quốc hội Hoa Kỳ quyết định cắt hết viện trợ quân sự, chỉ 55 ngày sau là Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ. Không có quân đội nào đánh giặc mà không có vũ khí, hoặc viện trợ vũ khí, chỉ trừ “truyền thuyết” Quân Giải Phóng với tay không bắt được máy bay Mỹ.

Không ai kéo lịch sử lùi lại được. Người gây ra cuộc chiến vì nhiệm vụ quốc tế cộng sản phải thành khẩn thú nhận trách nhiệm lịch sử. Không chấp nhận hôm nay, trong tương lai lịch sử cũng sẽ ghi lại bởi chính con cháu chúng ta, họ đọc lịch sử từ hai phía, họ đọc lại lịch sử thế giới, họ sẽ viết lại sự thật mà thế hệ cha ông họ đã trải qua. Đó là chính sử chứ không phải tài liệu tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật mà người cộng sản dùng bạo lực để bóp méo và gọi là lịch sử.

Họ phải thành tâm Hoà Giải Hoà Hợp với những nạn nhân của họ, với đồng bào trong nước để xây dựng lại sức mạnh dân tộc để chống lại giặc Tàu. Làm chậm trễ sẽ mất nước và tội của họ sẽ chồng chất thêm với đất nước và dân tộc.

Đây là bộ phim phản ảnh một phía, trình bày phân nửa sự thật, không xứng đáng bỏ thời giờ xem. Điều nầy tôi đã viết trên Yahoo, nhưng 15 phút sau bị gỡ xuống. Hy vọng Burns và Novick sẽ đọc và nhìn lại vấn đề, nếu họ muốn trình bày một số khía cạnh thật về chiến tranh Việt Nam.

Ts. Nguyễn Ngọc Sẵng

 

Bí quyết phá vỡ quan niệm ‘không ai giàu 3 họ’ của gia tộc hùng mạnh suốt hơn 1 thế kỷ qua

Tháng 3 vừa qua, tỷ phú được mệnh danh là huyền thoại cuối cùng của kỷ nguyên những “Gatsby vĩ đại” – những người lũng đoạn nền đại công nghiệp Mỹ – đã qua đời ở tuổi 101. David Rockerfeller là ông trùm nhà băng, nhà từ thiện, cố vấn Tổng thống kiêm người thừa kế của một trong những gia tộc Mỹ giàu có nhất trong hơn 100 năm qua.

Cuộc đời tỷ phú David Rockefeller như một câu chuyện truyền kỳ, ông là đời thứ ba của gia tộc dầu mỏ hùng mạnh, là người nhỏ tuổi nhất trong số các anh em và cũng là người xuất sắc, tài giỏi nhất. Tuy nhiên, sự nghiệp rực rỡ của ông không phải ở lĩnh vực dầu mỏ của ông nội mà gắn với hệ thống ngân hàng vô cùng nổi tiếng xếp thứ 6 trong số 10 ngân hàng lớn nhất trên thế giới – Ngân hàng Chase Manhattan. Sinh ra trong nhung lụa và đầy đủ, nhưng những thành công của ông và gia tộc có liên quan mật thiết với nền giáo dục của gia đình từ khi còn nhỏ.

Tỷ phú ngân hàng David Rockefeller (Ảnh: Encyclopedia)

Ông nội của Rockefeller chính là John Davison Rockefeller – người được mệnh danh là cá nhân giàu có nhất trong lịch sử thế giới hiện đại với khối tài sản vào khoảng 3 tỷ USD ở đầu thế kỷ 20, tương ứng 663 tỷ USD theo thời giá năm 2007.

Vua dầu mỏ John Davison Rockefeller (Ảnh: The Hustle)

Ngoài người cháu trai David Rockefeller từng giữ cương vị CEO của Chase Manhattan trên 20 năm, thế hệ sau của gia tộc Rockefeller đều là những doanh nhân hoặc chính trị gia thành đạt. Nelson Rockefeller, từng là thống đốc New York và Phó Tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ. Cháu trai thứ ba, Winthrop Rockefeller từng là thống đốc bang Arkansas. Jay Rockefeller – chắt của “vua dầu lửa” hiện đang là thượng nghị sĩ đảng Dân chủ miền Tây Virginia và cựu thống đốc Tây Virginia.

Có được những thành công như vậy, một phần rất quan trọng là bởi các thành viên trong gia tộc đều được hưởng một nền tảng giáo dục gia đình rất nghiêm khắc và đầy tự trọng.

Tự thân vận động, coi tài sản thừa kế là gánh nặng

Khi John Davison Rockefeller qua đời, ông đã hiến tặng một khối lượng tiền khổng lồ và được coi là “Mạnh Thường Quân” vĩ đại nhất trong lĩnh vực nghiên cứu y tế và giáo dục. Dù vậy, ông vẫn còn cả tỷ USD để lại cho con trai của mình John D. Rockefeller Junior. Tuy vậy, ông John D. Rockefeller Junior coi khoản tiền này là “gánh nặng” của đời mình và nghiêm khắc yêu cầu 6 người con của mình phải “tự thân vận động” thay vì trông chờ vào khoản thừa kế khổng lồ.

Mỗi tuần David Rockefeller và các anh chị chỉ được cho rất ít tiền tiêu vặt, đồng thời mỗi người còn phải chuẩn bị một quyển sổ chi tiêu để ghi chép lại từng việc cần tiêu với số tiền ít ỏi của mình. Sau khi được kiểm tra, nếu sử dụng hợp lý thì có thể được thưởng. Số tiền tiêu vặt sẽ tăng dần theo số tuổi: năm 11-12 tuổi, mỗi tuần sẽ được 1 USD; năm 15 tuổi, mỗi tuần sẽ được nhận khoảng 2 USD.

Mới 7 tuổi, tỷ phú David Rockefeller đã phải làm công việc thu gom lá rụng trong suốt 8 giờ/ngày tại dinh thự rộng 3.400 mẫu Anh ở Westchester trong dịp nghỉ lễ. Những ngày còn lại, ông chịu trách nhiệm nhổ cỏ tại tư dinh nghĩ dưỡng của gia đình tại Maine để kiếm 1 cent/bụi cỏ.

Sau khi trưởng thành, David Rockefeller rời khỏi nhà, lúc này ông đã có rất nhiều quyển sổ chi tiêu. Cha của David Rockefeller đã cố ý đặt các con của mình dưới áp lực kinh tế để giáo dục họ về giá trị của đồng tiền ngay từ khi còn nhỏ.

Từ trái qua phải: Nelson Rockefeller, Winthrop Rockefeller, Jay Rockefeller (Ảnh: Internet)

David Rockefeller có một người bạn đại học, người này là con nhà giàu tiêu tiền như nước, thậm chí còn có được thứ mà mình muốn ngay cả trước khi mở miệng nói ra. Thế nhưng David Rockefeller cho rằng: “Anh ấy là người bất hạnh nhất mà tôi biết, anh ta kết hôn ba lần, nhiều lần đổi công việc, anh ta sẽ mãi mãi chẳng thể phát huy được khả năng của mình”.

Từ sự giáo dục của John D. Rockefeller dành cho con cháu của mình, có thể thấy được bí quyết để gia tộc này luôn thành công, đó là không chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền ra sao mà quan trọng hơn là để thế hệ sau biết được phải sống thế nào.

Tiết kiệm trong đời sống cá nhân

Tuy giàu có nhưng vua dầu mỏ John D. Rockefeller và vợ luôn dạy cho con cái về những giá trị của lối sống thanh bạch để tránh cho chúng bị hủy hoại bởi chính những khoản thừa kế lớn. Rockefeller “con” phải đi bộ từ nhà đến trường trong khi những đứa trẻ con nhà giàu khác được đưa đón bằng xe và có người phục vụ đi cùng. Còn để có tiền tiêu vặt, cậu phải làm việc tại các điền trang của cha với mức lương giống như những công nhân khác.

Truyền thống tiết kiệm của gia tộc bắt nguồn từ bà Aleza – mẹ của John D. Rockefeller, một người phụ nữ cần kiệm chăm lo cho gia đình. Chịu sự ảnh hưởng từ mẹ, John D. Rockefeller đã rèn luyện thói quen tiết kiệm ngay từ khi còn nhỏ. Ông chưa từng xin tiền mẹ, nhưng đã để dành được “số tiền vốn” 24,7 USD vào năm 12 tuổi, số tiền này khi đó tương đương với tiền sinh hoạt nửa tháng của một gia đình 5 người.

Các thành viên ưu tú của gia tộc Rockefeller (Ảnh: The Event Chronicle)

Sau khi ông mất người ta tìm thấy rất nhiều quyển sổ chi tiêu, có thể thấy bắt đầu từ năm 16 tuổi, khi xin được việc làm, cho tới khi chết, sự tiết kiệm của ông làm cho bất kỳ ai cũng phải kinh ngạc. Cuốn sổ ghi lại đầy đủ các khoản chi của ông từ năm 1826 đến năm 1872, không để sót một khoản nào, từ chi phí theo đuổi người bạn gái, sau này trở thành vợ ông, như số tiền của mỗi lần tặng hoa, 118 USD mua nhẫn hột xoàn cho lễ đính hôn, cho đến 20 USD chi phí hôn lễ, 1,10 USD tiền đăng ký kết hôn, 10,75 USD đi hưởng tuần trăng mật tại thác Niagara… Thậm chí đến 3 xu để mua tem thư cũng được ghi vào sổ.

Bà Aleza còn để lại cho John D. Rockefeller một bí quyết tiết kiệm khác: khi cần tiêu thì phải tiêu, khi không cần thì đều phải để nó ở nơi có thể sinh lợi. Với sự dẫn dắt của mẹ, John D. Rockefeller dùng 8,2 USD trong số tiền này để mua và nuôi một con gà con, cuối cùng ông đã kiếm lại được 12 USD.

Một lần, khi ông Rockefeller đến công ty kiểm tra sổ sách, ông phát hiện một khoản chi phí lớn, ông đã chất vấn con và dạy con rằng: “Hành vi tiêu tiền lãng phí của người thiếu thông minh là rất không nên. Nếu dùng quá lãng phí thì sẽ bị người ta xem là đồ ngốc, sẽ chẳng ai muốn tiếp tục làm ăn với loại người như vậy”.

Hào phóng và có trách nhiệm với xã hội với tâm niệm: Người giàu chỉ là người được Chúa ủy thác quản lý tài sản mà thôi

Truyền thống làm từ thiện của gia đình bắt nguồn từ người mẹ là tín đồ Cơ Đốc giáo đầy lòng từ tâm của ông vua dầu mỏ John D. Rockefeller. Ngay từ khi bắt đầu kiếm ra tiền, Rockefeller đã tài trợ những khoản tiền nhỏ cho nhà thờ. Từ giữa thập niên 1890 cho đến khi qua đời vào năm 1937, Rockefeller chủ yếu tập trung vào các hoạt động từ thiện. Khi qua đời ở tuổi 98, tổng tài sản của tỉ phú giàu nhất mọi thời đại chỉ còn lại 26.410.837 USD sau khi đã quyên góp phần lớn tài sản cho hoạt động từ thiện, cho con trai và những người thừa kế khác.

Bà Elizabeth Rockefeller, mẹ của vua dầu mỏ John D. Rokefeller (Ảnh: Geni)

Bắt nguồn từ đức tin của mình, tỷ phú dầu mỏ luôn cho rằng những gì mình có được là nhờ vào Chúa, trong bài phát biểu nhân dịp thăm một ngôi trường do mình thành lập, John D. Rockefeller đã nói:

Tôi tin tưởng vào việc thành lập trường đại học này. Đây là vụ đầu tư tốt nhất tôi từng thực hiện trong đời. Chúa đã cho tôi tiền bạc, làm sao tôi có thể không tài trợ cho trường chứ?

Ông cho rằng chỉ có theo đuổi sự nghiệp từ thiện, tạo phúc cho xã hội thì mới có thể thực hiện ý nghĩa thật sự của tài sản. Từ thiện là trách nhiệm của người giàu, nhưng đối với ông John D. Rockefeller thì trách nhiệm này không phải là trực tiếp ủng hộ tiền bạc, cung cấp tài nguyên cho người ta mà phải dạy họ phương pháp, “không phải cho người ta con cá mà phải dạy người ta cách câu cá”. Bởi vì, “cách mang đến tổn thương cho người khác tiện lợi nhất chính là tiền”.

Vì điều này mà ông đã viết thư cho con trai mình, dùng phương pháp kể chuyện xưa để nói với con rằng:

Cách từ thiện bằng việc giúp đỡ tiền bạc sẽ khiến người nghèo đánh mất khả năng của bản thân, đánh mất tự tôn, cuối cùng sẽ trở thành kẻ lười biếng, còn người giàu chính là người tạo nên kẻ lười biếng đó.

Trên đời này không có gì là miễn phí, người giàu chỉ nên giúp người nghèo nâng cao khả năng mưu sinh, cung cấp công cụ để họ phát triển vì lợi ích cộng đồng.

Trường đại học Rockefeller (Ảnh: Internet)

Giống như ông nội mình, tỷ phú David Rockefeller cũng là một người làm từ thiện có tâm, ông được cho là đã hiến tặng 900 triệu USD cho các quỹ từ thiện và là người cực kỳ ghét những kẻ tìm cách trốn thuế.

Gia tộc Rockefeller đã lật đổ quan niệm “không ai giàu ba họ” bằng thái độ đúng đắn đối với của cải vật chất và sự giàu có. Những người lớn trong gia đình này đã giúp con cái hình thành quan niệm tốt về tài sản, ý thức độc lập và ý chí kiên cường ngay từ lúc nhỏ thông qua việc giáo dục nghiêm khắc truyền từ đời này sang đời khác về tài sản và từ thiện cũng như trách nhiệm và trau dồi thử thách đối với mỗi cá nhân.

Gia tộc Rockefeller đã trải qua hơn một thế kỷ, đến nay họ vẫn đang viết tiếp lịch sử huy hoàng của mình. Thế hệ sau đã lên kế hoạch làm sao để bảo vệ tài sản của mình, tích cực tham gia vào sự nghiệp văn hóa, y tế và từ thiện, họ dùng rất nhiều tiền để xây dựng các quỹ từ thiện, đầu tư vào trường đại học, bệnh viện để cả xã hội cùng chia sẻ tài sản của họ. Bởi họ có đức tin rằng sự giàu có của mình không phải tự nhiên mà có, họ được trao cho của cải là để quay lại giúp đỡ xã hội.

Thu Hiền (TH) /daikynguyen