Tinh thần tự do dân chủ Điếu Cầy tại Virginia

Posted on

15910527675_55b68fd3ee_zKhoảng trên 200 người đã đến tham dự buổi tiếp tân dành cho nhà báo Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải vào chiều Chủ Nhật, 23-11-2014, vừa qua. Buổi tiếp tân này do Ban Biên Tập của Bản Tin Hoa Thịnh Đốn thuộc hệ thống truyền hình SBTN tổ chức tại Mason District Government Center thuộc thành phố Annandale, Virginia. Nhờ đó mà tôi và nhiều người Việt khác mới có dịp được gặp gỡ Ô. Điếu Cầy, để cám ơn một người anh hùng đã can đảm đứng lên đòi quyền tự do báo chí và chống Tầu Cộng xâm lăng ngay ở trong một nước độc tài Cộng Sản Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Hải với bút hiệu là Điếu Cầy, là một blogger ở Việt Nam. Ông là một thành viên sáng lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do vào tháng 9, 2007. Nhân dịp Thế Vận Hội tại Bắc Kinh vào năm 2008, Ô. Điếu Cầy đã tham dự cũng như tường thuật về cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng lãnh hải ở Biển Đông của Việt Nam. Ông bị chính quyền Cộng Sản bắt giữ vào ngày 20-4-2008 tại Saigon và bị kết tội trốn thuế và lãnh án 30 tháng tù. Đáng lý ra, ông được trả tự do vào tháng 10, 2010, nhưng án tù của ông bị gia hạn một cách tùy tiện vì lý do chính quyền Cộng Sản muốn điều tra thêm về ông.

Vào tháng 9, 2012, Ô. Điếu Cầy bị mang ra tòa xét xử lần thứ hai về tội tuyên truyền chống nhà nước cùng với hai bloggers khác là Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Ô. Điếu Cầy bị một án nặng nề nhất với 12 năm tù. Vào tháng 3, 2012 cựu Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ Joseph Cao và BPSOS đã tung ra một chiến dịch vận động hành lang để đòi trả tự do cho một số tù nhân chính trị trong đó có Ông Điếu Cầy. Vào tháng 4, 2012, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền thả tự do cho Ông Điếu Cầy và những bloggers khác. Vào tháng 5, 2012, Tổng Thống Hoa Kỳ Obama tuyên bố rằng “Chúng ta không thể quên những nhà báo như blogger Điếu Cầy, mà việc bắt bớ ông trùng hợp với cuộc đàn áp tập thể báo chí quần chúng tại Việt Nam.”

Vào ngày 21-10-2014, Ông Điếu Cầy đã được trả tự do và lập tức bị tống xuất qua Mỹ sau 6 năm 6 tháng và 20 ngày trong 11 nhà tù của Cộng Sản.

Trước khi đến tham dự buổi tiếp tân này, tôi nghĩ hôm nay là một ngày vui cho anh Điếu Cầy, cho tôi và nhiều người khác. Nhưng sau đúng 20 phút đầu tiên, một vài kẻ chống cộng cực đoan, nhân danh dân chủ tự do bắt đầu quậy phá buổi tiếp tân thân mật này thành một cuộc hỏi cung nghi can của một cơ quan điều tra tội phạm.

Kẻ đầu tiên quậy phá đặt ra hai câu hỏi xem ra vô hại, (1) Anh nghĩ thế nào về cuộc chiến do CSBV phát động từ 8-12-1960 – 30-4-1975 và (2) Anh nghĩ gì về Hồ Chí Minh?

Anh Điếu Cầy đã trả lời rằng đa số những người ở trong nước bị bưng bít thông tin. Khả năng tiếp nhận thông tin rất giới hạn mà đưa ra những quyết định có thể sai lệch. Nên ở đây xin để cho lịch sử phán xét khi có đủ thông tin. Tôi xin miễn bình luận ở đây.

Vấn đề là hắn không cho anh Điếu Cầy tự do bầy tỏ ý kiến của anh mà cố tình ép anh Điếu Cầy phải thành khẩn chấp cung, Hắn lớn tiếng hỏi tiếp: Chúng tôi muốn biết ý kiến riêng của anh.

Anh Điếu Cầy điềm tĩnh lập lại câu trả lời trước: “Khi quý vị đưa ra một quyết định, một nhận xét về một vấn đề nào, nó tùy thuộc vào lượng thông tin tiếp nhận được. Cho nên quyết định đúng hay sai tùy thuộc vào lượng thông tin nhiều hay ít. Chúng ta đã có đủ thông tin chưa? Lịch sử sẽ phán xét. Một mình cá nhân tôi không thể phán xét.”

Vẫn không hài lòng về câu trả lời này hắn không buông tha cho anh Điếu Cầy và gay gắt đối chất lại như thể một quan tòa hỏi cung một nghi can ở tòa án : “Tôi không bảo anh phán xét. Tôi hỏi ý kiến của anh thôi. Tôi không muốn anh phê bình. Tôi muốn biết ý nghĩ của anh về cuộc chiến đó.”

Rõ ràng là tên quậy phá này đã đi quá trớn, trà đạp lên quyền tự do của người khác, nên một khán thính giả trong hội trường trước sự bất công đã phải can thiệp: “Tôi đề nghị với anh như thế này. Đây là một nước tự do. Báo chí tự do. Mọi người có quyền phát biểu ý kiến. Nếu người ta không muốn phát biểu ý kiến, anh đừng ép buộc người ta phát biểu ý kiến. Cái lối đó là lối Cộng Sản.”

Những tiếng vỗ tay đồng loạt ủng hộ trong hội trường vang lên đã giúp chấm dứt giọng điệu tra khảo diễn giả Điếu Cầy của tên phá rối đầu tiên.

Ngay sau đó một tên quậy phá thứ hai lên phát biểu. Hắn tự giới thiệu là một cựu sĩ quan Không Quân VNCH. Hắn đổ hết tội của CSVN lên đầu một anh binh nhì Bộ Đội bị cưỡng bách đi lính cho miền Bắc trong một cuộc đấu tố công khai trên một đất nước tự do Hoa Kỳ: “Tôi là nạn nhân của anh. Cách đây … (âm thanh không rõ) năm, khi anh đưa quân vào xâm lăng nước VNCH chúng tôi. Trở lại quá khứ, đất nước VNCH chúng tôi được công nhận bởi 112 nước trong thế giới tự do và là quan sát viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ và cũng là thanh viên của của Liên Hiệp Quốc Hội Âu Châu. Chúng tôi có chính nghĩa. Tôi nghĩ rằng ngày 30/4 anh cũng ở trong đoàn quân đó vào để gọi là giải phóng. Danh từ giải phóng và thống nhất của mấy anh 40 năm nay dồng bào ở trong nước và hải ngoại hiểu rõ rồi. Sau đó tôi cũng bị tù đầy. Ngày hôm nay tôi lưu vong qua đây, còn sống đây để gặp anh. Tôi chỉ hỏi một câu hỏi với cá nhân anh thôi, trong 40 năm nay, trong 10 năm, 15 năm, anh đã tỉnh ngộ được rằng chế độ Cộng Sản là sai trái và độc tài, cho nên anh mới trở thành một blogger báo chí tự do. Với tấm lòng trung thực của một người làm báo , tôi xin hỏi anh rằng cá nhân anh thôi, đối với tôi là một nạn nhân còn đây, có phải ngày đó là ngày một nước đi xâm lăng một nước hay không?”

Ô. Điếu Cầy đã điềm tình trả lời một cách đáng khâm phục: “Trong cuộc chiến này, chúng ta đều là người Việt Nam cả. Hãy đặt mình vào vị tri của tôi khi đặt câu hỏi đó. Lúc đó tôi cũng chỉ mới 18 tuổi. Tôi sinh ra và lớn lên trong xã hội Cộng Sản và anh biết rằng truyền thôn và giáo dục của họ như thế nào. Chính quyền nào công dân đó. Bởi vậy, nếu anh là tôi vào thời điểm ấy vào vị trí của tôi, anh sẽ quyết định như thế nào? Anh có nghĩ rằng tôi là người đi xâm chiếm anh không?

Chúng ta là người Việt Nam cả, nhưng chủ nghĩa này chủ nghĩa kia, học thuyết này học thuyết kia đã phân chia chúng ta thành hai phía và gây ra cuộc chiến giữa những người anh em với nhau. Mấy chục năm qua, nếu chúng ta không nói lên sự hàn gắn, dân tộc này, vết cắt đó mãi mãi không hàn gắn được. Nếu ngày hôm nay anh vẫn giữ ở trong lòng mối hận thù, tất cả những gì chúng tôi đấu tranh ở bên kia và sang đến đây, những hi sinh mà Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do và nhiều anh em trong nước đang nhìn sang các cộng đồng bên này khi tiếp đón chúng tôi, họ sẽ thấy như thế nào?”

Hội trường lại vang lên những tiếng vỗ tay tán thưởng khi anh Điếu Cầy chấm dứt phần giải đáp. Nhưng tiếp ngay sau đó một cựu quân nhân khác, một khuôn mặt quen thuôc trong sinh hoạt cộng đồng, đó là ông Nguyễn Kim Hùng đã lên phát biểu ý kiến. Một lần nữa ông này cũng lại đổ tội ác chiến tranh của CSVN lên đầu nhà báo Điếu Cầy: “Theo một cuộc hội luận của anh ở California, anh có nói lá cờ chỉ là biểu tượng. Biểu tượng có thể thay đổi. Chúng tôi tiếp nhận điều đó. Mục đích đấu tranh đem lại tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam ở quốc nội là mục đích chính và đó là mục đích không thay đổi. Tôi cũng chấp nhận chuyện đó. Tôi muốn hỏi bây giờ anh đã qua đây, đứng với chúng tôi tiếp tục đấu tranh, biểu tượng của anh là gì? “

“Câu hỏi thứ hai, trước kia anh là Bộ Đội của miền Bắc thì phải nói là các anh đã cưỡng chiếm miền Nam của chúng tôi. Dầu muốn dầu không, dầu ít dầu nhiều, anh cũng góp một phần nhỏ vào việc chiếm miền Nam của chúng tôi và hiện tại xã hội Việt Nam đã đưa dân tộc Việt Nam xuống tận cùng của đạo đức. Tất cả đều là tận cùng. Các công chuyện anh đã tham gia giải phóng, các anh nói giải phóng, nói chúng tôi là ngụy. Anh cho các chuyện đó là công hay là tội đối với cá nhân của anh. Anh đã là một trong những thành phần góp vô để cưỡng chế miền Nam chúng tôi.”

Ô. Điếu Cầy đã điềm tĩnh trả lời như sau: “Tôi muốn bà con hôm nay hiểu rằng chúng ta đến đây gặp nhau là tổ chức một cuộc hội luận. Những vấn đề được trao đổi với nhau trên tinh thần xây dựng một đất nước, chứ không phải hôm nay tới đây để một số người đưa ra đấu tố như năm 1956 của thế kỷ trước. Đó là một điều không phù hợp với giá trị dân chủ.”

“Khi chúng ta đấu tranh cho giá trị dân chủ, chúng ta phải hiểu rằng tất cả mọi người mọi nhóm trong xã hội đều có quyền biểu đạt ý kiến cá nhân, ý kiến nhóm của mình, và có quyền có biểu tượng riêng. Những nhóm khác nhau hay giống nhau đều tôn trọng biểu tượng của nhau, nhưng không áp đặt giá trị của mình lên người khác. Chúng tôi ngưỡng giá trị dân chủ đó cho nên chúng tôi đấu tranh để chống sự áp đặt của chính quyền CS lên người dân Việt Nam. Chúng tôi không thể tránh độc tài đỏ mà sang đây lại bị áp đặt một cái khác. Những người đã cho rằng cờ từ thời nhà Nguyễn để lại là lá cờ của tổ tiên đại diện cho giá trị tự do dân chủ, thì không sử dụng nó để áp đặt giá trị của mình lên người khác.”

Một lần nữa hội trường vang lên những tiếng vỗ tay ủng hộ lời giải đáp của anh Điếu Cầy. Rất may chỉ có ba nhân vật này đã công khai đánh phá anh Điếu Cầy. Thật tình đến bây giờ tôi cũng không thể hiểu được nguyên do nào khiến họ có ác cảm với người tù lương tâm với khi phách anh hùng như vậy. Căm thù một anh binh nhì Bộ Đội ư? Nếu thế thì đừng trách bọn VC đã bỏ họ vào những trại tù cải tạo. Ghen tức ư? Có thể vì anh Điếu Cầy được người Việt hải ngoại kính phục và được bao nhiêu giải thưởng quý trọng. Trong sáu năm qua Nhà Báo Điếu Cầy đã được trao một số giải thưởng về nhân quyền và tự do báo chí: Giải Nhân Quyền Việt Nam 2008, Hellman-Hammett Award 2009 của Human Rights Watch và International Press Freedom Award 2013 của Committee to Protect Journalists. Ngoài ra, Ông Điếu Cầy còn được Amnesty International vinh danh là một tù nhân lương tâm và Civil Rights Defender chỉ định Ô. Điếu Cầy là Human Rights Defender của tháng.
Thật sự tôi cũng không hiểu được vì lý do gì mà những người kẻ quá khích như thế lại chống Cộng Sản độc tài vì chính họ đã tỏ ra bản chất độc tài. Họ muốn Việt Nam thành một nước tự do dân chủ ư? Không chắc. Vì những hành động của họ đưa đến hậu quả nghiêm trọng là đẩy những người yêu chuộng tự do thực sự về phía độc tài. Trước khi có buổi tiếp tân, Cộng Đồng Việt Nam vùng Washington-DC, Maryland và Virginia đã quyết định không đón tiếp, không yểm trợ, và không tham dự buổi tiếp tân anh Điếu Cầy.

Đa số những người tham dự buổi tiếp tân đã nghĩ gì về anh Điếu Cầy và một thiểu số quậy phá? Tốt hơn hết là hãy nghe chính những người này nói gì.

Mở đầu cuộc hội luận, Ô. Trần Quang Duật, đã lên phát biểu rằng ông là một cựu Thiếu Tá TQLC-VNCH đã đi tù ở miền Bắc. Ông hân hoan chào đón Ô. Điếu Cầy, một cựu bình nhì của Bộ Đội CSVN, trở về với cộng đồng để cùng tranh đấu cho tự do và dân chủ.

GS Kim Oanh nhận xét rằng Ô. Điếu Cầy từ 2006 đã đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền và bảo vệ quê hương chống quân xâm lược Trung Quốc. Ô. Điếu Cầy đã kêu gọi chúng ta hãy cùng nhau đứng dưới một lá cờ để đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc và đất nước. Ông cũng đã xác nhận rằng lá cờ vàng có từ thời Nhà Nguyễn (Vua Thành Thái). Đó là lá cờ tổ quốc, đại diện cho tự do dân chủ. Ô. Điếu Cầy đã tuyên bố ông là một phần của chúng ta. GS Kim Oanh nhân dịp đã tặng cho Nhà Báo Điếu Cầy một chiếc khăn quàng cổ với hình lá cờ Vàng.

Cô Nguyễn Thị Ngọc Giao, Chủ Tịch của Tiếng Nói của Người Mỹ Gốc Việt (Voice of Vietnamese Americans) nói rằng cô xin được tỏ lòng ngưỡng mộ Ô. Điếu Cầy, cám ơn Ô. Điếu Cầy và gia đình của ông và tất cả mọi người ở Việt Nam đã cùng với ông tranh đấu trong những năm qua. Cô rất vui mừng thấy ông mạnh khỏe, tinh thần minh mẫn, và rất là cương quyết dù sau nhiều năm trong tù.

Cô Phạm Quế Chi là một người trẻ đầu tiên phát biểu rằng Cô là một người Mỹ gốc Việt. Cô tôn trọng mọi người tiếng Mỹ gọi là có “gut”, nghĩa là có khí phách, giám đứng lên nói ra những gì mình thực sự tin. Cô nói Cô rất khâm phục Ô. Điếu Cầy cũng như những anh chị bloggers trẻ và lớn đã bị đánh đập, gia đình bị hại, mất việc vẫn giám đứng lên chống chế độ Cộng Sản. Ông Điếu Cầy ngồi đây ông vẫn bảo vệ ý tưởng riêng của mình. Ông không bị Cộng Sản chèn ép cũng như không bị cộng đồng Việt Nam chèn ép, buộc phải theo ý của họ. Cô đi Hướng Đạo, cô trọng lá cờ Hướng Đạo. Sống ở Mỹ, cô trọng lá cờ Mỹ. Là một phần của người Việt Nam ở Mỹ, cô trọng lá cờ của cộng đồng Việt Nam, nhưng đó là quyền của cô. Không ai có thể bắt buộc cô làm như vậy.

Một người trẻ khác: “Đầu tiên cháu cám ơn chú Điếu Cầy đã hiện diện ở đây và chia sẻ với cộng đồng hải ngoại một số suy nghĩ. Là một người trẻ Việt Nam qua Hoa Kỳ lúc 9 tuổi, cháu rất cảm phục tinh thần hi sinh của chú Điếu Cầy. Chú đã đứng lên để tranh đấu cho nhân quyền và tự do cho Việt Nam có tương lai lớn hơn. Cháu nghĩ là chú Điếu Cầy, các bác các chú ở đây cùng với cháu có một giấc mơ Việt Nam có dân tộc hơn, có nhân quyền hơn, cho tương lai của các con các cháu của con biết là Việt Nam vẫn còn tồn tại, chứ không bị CSVN hay Tầu tới xâm lược. Cháu muốn nói thêm là cháu rất bằng lòng với câu nhận xét của chú Điếu Cầy là mình là người Việt Nam hết, hãy nói lên những lời đoàn kết, chứ không phải là chia rẽ. Cháu nhận xét là phải có sự đoàn kết, nước Việt Nam mới có thể có một tương lai tốt hơn. Nếu có những ý kiến không hay hay không đoàn kết, cháu nghĩ là những người CSVN sẽ rất vui mừng vì họ đã đem lại sự chia rẽ trong cộng động Việt Nam ở hải ngoại.”

Nhà Văn Phong Thu: “Anh là một nhân vật mà tôi đã viết trong sách của tôi xuất bản vào 2012. Anh là người tôi ngưỡng mộ là vì anh là người đầu tiên chống Tầu. Mà anh biết chống Tầu là chống ông cố nội của CSVN rồi. Như anh đã nói, chúng ta đổ tất cả những tội của Cộng Sản lên đầu anh Điếu Cầy thì cũng tội cho anh. Bởi vì như thế này. Tất cả chúng ta Nam và Bắc đều là nạn nhân của chế độ Cộng Sản. Tôi ở miền Nam, tôi phải theo chế độ của miền Nam vì ba của tôi đi theo Cộng Hòa lần đầu tiên mới thành lập. Ba tôi đã hi sinh trên chiên trường, nhưng tôi không nghĩ là anh Điếu Cầy đã bắn ba tôi chết, bởi vì anh cũng là nạn nhân của Cộng Sản.”

Một người trẻ tự giới thiệu là Chính: Cá nhân tôi rất khâm phục những anh em ở trong nước như anh Điếu Cầy và những anh em bloggers khác. Mỗi tối tôi lên máy tôi coi người nào bị đàn áp, người nao bị tù đầy. Lòng tôi đau cắt như vầy nhưng tôi không biết cách nào để giúp đỡ được anh em ở trong nước. Khi các anh ra đây bị những chuyện hiểu lầm, tôi rất là búc xúc. Tôi cũng rất lấy làm vui khi thấy các anh rất là chín chắn đối phó với …. (âm thanh nghe không rõ), chúng tôi rất là yên tâm. Tôi có một lo âu là không biết mấy anh chị ở trong nước thấy anh bị như vậy có nản lòng hay không, Do đó tôi muốn gửi một message (thông điệp) cho những anh em ở trong nước rằng có một số đông thầm lặng, có thể không ồn ào cho lắm, sẵn sàng góp công góp sức với quý anh. Chúng ta phải tích cực hơn trong việc nối kết với đám đông thầm lặng.

Không phải người cựu quân nhân nào cũng có một tư tưởng hẹp hòi. Ông Phạm Văn Tiền, cựu thiếu tá Quân Lực VNCH đã viết về anh Điếu Cầy và những kẻ chống cộng bằng mồm như sau:

“Niềm vui chưa được bao lâu thì những kẻ luôn chống cộng bằng mồm, những thành phần chống cộng cực đoan trong cộng đồng Người Việt tại hải ngoại, thay vì mở rộng vòng tay chào đón người anh hùng chống cộng để an ủi giúp đỡ, thì lại tìm mọi cách mọi phương tiện để cố tình hạ nhục giết chết tên tuổi Điếu Cày.”

“Chúng ta có nguyền rủa cộng sản 30 năm, 50 năm v.v… thì cộng sản vẫn là cộng sản không làm chúng suy yếu tí nào. Lật đổ được cộng sản hay không là do chính bàn tay của người dân trong nước mà đại diện là những nhà đấu tranh trong lòng chế độ như Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Lê Thị Công Nhân, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức… Người Việt hải ngoại chỉ có khả năng tiếp sức, hỗ trợ và sức mạnh của chúng ta là sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Những tổ chức tự xưng là ủy ban nầy chính phủ nọ để rồi về giải phóng quê hương là những tổ chức mộng du không tưởng. Họ chỉ là những con rối dao to búa lớn chuyên phá hoại chẳng làm nên tích sự gì!

“Hãy thông cảm và đón nhận những sự hy sinh phi thường của những người cộng sản phản tỉnh. Việc mở rộng vòng tay tiếp đón hỗ trợ Điếu Cày và nhiều nhà đấu tranh dân chủ khác tại quê nhà mới là điều cần thiết, nhất trong giai đoạn sống còn của đất nước hiện nay.”

Chí lý thay nhận xét của Ông Phạm Văn Tiền

Trần Quốc Nam (Tác giả gửi đăng)

Thấy gì qua việc bắt GS. Hồng Lê Thọ chủ nhân blog Người Lót gạch?

Posted on

Kami

Tin nhà nước Việt nam tiến hành bắt GS. Hồng Lê Thọ là điều hoàn toàn bất ngờ đối với nhiều người, kể cả bạn bè của Giáo sư, đặc biệt là đối với những ai quan tâm theo dõi tin tức trên mạng qua các blog tiếng Việt. Cũng có lẽ vì blog Người Lót gạch của GS. Hồng Lê Thọ cũng chỉ là một blog điểm tin khá khiêm tốn, nói đúng là không có nhiều người biết đến blog này. Hơn nữa trong bầu không khí chính trị Việt nam được cho là khá cởi mở trong quan hệ với Phương Tây như hiện nay thì đây là một điều khiến người quan tâm hết sức hoài nghi.

Những ai đã từng đọc blog Người Lót gạch, có lẽ đều có nhận xét đây đúng là một nhật ký cá nhân của một người quan tâm đến các tin tức chính trị, là nơi tổng hợp tin tức chính trị với các bài viết đáng chú ý của cả truyền thông nhà nước và ngoài luồng. Với bố cục của blog có phần hơi lộn xộn, với đủ các loại fonts chữ và độ to nhỏ khác nhau, có thể nói là thiếu sự chăm chút về mặt thẩm mỹ, (đây cũng là đặc trưng cho các chơi blog của những bloggers người Việt có tuổi). Nói điều đó để cho thấy việc sử dụng blog Người Lót gạch của GS. Hồng Lê Thọ hoàn toàn mang mục đích là nhật ký cá nhân để đọc và lưu trữ tin tức. Chứ tác giả không hề coi trọng mục đích tuyên truyền chống nhà nước như lý do bắt giữ của cơ quan an ninh cho rằng vì đã “công bố trên mạng internet những bài viết có nội dung xấu, thông tin sai lệch, làm suy yếu uy tín và niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, với các tổ chức xã hội, với các công dân, thể theo điều 258 bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Được biết GS. Hồng Lê Thọ là một Việt kiều Nhật bản đã hồi hương – Nguyên Tổng Thư Ký Tổ Chức Người Việt Tại Nhật Bản Đấu Tranh Cho Hòa Bình Và Thống Nhất Đất nước (BEHEITO). Đây là một tổ chức của Sinh viên Miền Nam VN tại Nhật trước năm 1975, với thái độ không công nhận chính quyền Sài Gòn, đồng thời đấu tranh trực diện với các chính sách xâm lược của Mỹ và chế độ VNCH ở Nhật Bản trong suốt nhiều năm cho đến ngày kết thúc chiến tranh ở VN năn 1975. Mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh quyết liệt 50 ngày đêm cùng với những đoàn thể phản chiến khác tổ chức chặn xe tăng, không cho lên tàu sang chiến trường Việt Nam trước căn cứ Sagamihara (Yokohama) vào tháng 8 năm 1972. Sau năm 1975, GS. Hồng Lê Thọ đã từng làm việc tại Tòa Đại sứ Việt nam tại Nhật bản 4 năm trước khi hồi hương về sinh sống và kinh doanh ở Việt nam. Những năm gần đây, trong mắt bạn bè thì GS. Hồng Lê Thọ là một trí thức giàu lòng yêu nước, thích đồng thuận và không thích đấu tranh. Thậm chí theo ông André Menras – Hồ Cương Quyết cho biết thì “Anh không thích những cơn sóng lớn. Anh không bao giờ tham gia vào bất kỳ cuộc biểu tình phản đối người Tàu xâm lăng nơi biển đảo. Cho dù các cuộc biểu tình đó bị cấm hoặc được phép hoặc được nhà cầm quyền điều khiển từ xa thì anh cũng không tham gia.”. Điếu đó cho thấy, việc có người cho rằng “Thiệt là trớ trêu: Ông Hồng Lê Thọ đã từng chống Mỹ cứu… đảng, rồi nay chống đảng… cứu nước” là điều hoàn toàn không có căn cứ.

Vậy vì sao chính quyền chọn bắt GS. Hồng Lê Thọ vào thời điểm này là câu hỏi được nhiều người quan tâm đặt ra? Nhất là vào thời điểm được người ta cho là tương đối thoải mái đối với những người tranh đấu cho dân chủ hay các nhà báo, các bloggers tự do. Khi mà có nhiều biểu hiện về sự thỏa hiệp và ngả về phương Tây của Đảng CSVN có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ Việt – Mỹ được đánh giá là khá sáng sủa và quan hệ Việt – Trung cũng có phần bớt “nồng ấm” so với trước. Bằng chứng là việc chính quyền liên tiếp thả trước thời hạn hoặc trục xuất một số tù chính trị. Cũng có người thẳng thắn đặt câu hỏi tại sao có nhiều người trong giới báo chí và bloggers lề trái “đáng” bị bắt hơn GS. Hồng Lê Thọ mà vẫn ung dung tồn tại. Và nhiều ý kiến thì cho rằng đây là động thái của nhà nước nhằm dọn đường cho việc đàn áp Hội Nhà báo Độc lập và bắt giữ TS. Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội.

Theo thông cáo của Cổng thông tin điện tử Bộ công an cho biết, căn cứ vào tin tố giác của quần chúng, vào hồi 10.30 đêm ngày 29/11/2014, cơ quan an ninh điều tra TP.HCM đã ‘bắt quả tang’, sau đó “khám xét khẩn cấp” và bắt giam ông Hồng Lê Thọ – chủ trang blog Người Lót Gạch. Điều đó cho thấy chủ đích của việc bắt giữ GS. Hồng Lê Thọ của cơ quan công an là việc làm có vấn đề, đáng chú ý là các bắt người, thay vì bắt khẩn cấp đối tượng như lệ thường thấy trong việc bắt giữ các blogges từ trước đến nay. Thì lần này cơ quan công an đã dùng cách khám xét khẩn cấp và tạm giữ hình sự đối với GS. Hồng Lê Thọ, điều đó có nghĩa là đến lúc này họ còn để ngỏ cửa cho việc sẽ quyết định truy tố hoặc trả tự do cho GS. Hồng Lê Thọ trong những ngày tới đây.

Nếu kết hợp việc này với việc GS. Hồng Lê Thọ hiện vẫn mang Quốc tịch Nhật bản, lại diễn ra trong bối cảnh nhà nước Việt nam đã và đang có xu hướng thỏa hiệp với các nước Phương Tây, đặc biệt là Hoa kỳ trong vấn đề nhân quyền, quyền tự do của công dân là điều mang rất nhiều ý nghĩa. Đặc biệt sự việc bắt giữ GS. Hồng Lê Thọ, xảy ra trước ngày khai mạc Hội nghị TW 10 sắp tới với hàng loạt các động thái đấu đá giữa phe cải cách và phe bảo thủ. Một số việc như vụ thu hồi tài sản của Tổng thanh tra Chính Phủ Trần Văn Truyền, hay việc thay Bí thư Thành ủy Hải phòng Nguyễn Văn Thành trước Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 chỉ còn gần một năm là điều khá bất thường. Nên nhớ thành phố Hải phòng là địa bàn ứng cứ ĐBQH của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Qua những phân tích nói trên cho thấy, việc bắt GS. Hồng Lê Thọ là một toan tính chiến thuật hoàn toàn mang ý nghĩa chính trị, nhằm chuyển đi một thông điệp khẳng định rằng, mọi ý nghĩ cho rằng sẽ có các cải cách mạnh mẽ của phái cấp tiến, kể cả cải cách thể chế như thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là điều “viển vông”. Qua đó muốn cho dư luận thấy rằng, kể cả với đà tiến triển và sự thỏa hiệp của nhà nước Việt nam nhằm cố gắng ký kết được hiệp định TPP hay vấn đề nỗ lực cải thiện quan hệ bang giao với Hoa kỳ trong thời gian qua thế nào, thì việc bắt blogger và đàn áp tự do ngôn luận sẽ vẫn không thay đổi. Và các tù nhân lương tâm được sử dụng như một món hàng để thương lượng, khi cần thiết chúng tôi vẫn cứ bắt và cần chúng tôi sẽ thả. Điều đó tùy thuộc vào mối bang giao quốc tế. Đồng thời quan trọng nhất là thông điệp đó cho thấy, đồng chí X không phải là người làm chủ cuộc chơi trong lúc này như dư luận đánh giá, cũng là điều nhiều người tin là như vậy.

Vậy tại sao người ta chọn bắt GS. Hồng Lê Thọ mà không phải là những đối tượng cộm cán và nguy hiểm hơn trong vấn đề tự do ngôn luận và tự do báo chí? Cụ thể như là TS. Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập, một tổ chức XHDS trái phép lại mang tính đối lập. Không thì ít ra cũng phải là một trong những blog nổi bật mang tính truyền bá thông tin và thường xuyên đăng bài “nhạy cảm” hơn blog Người Lót Gạch của GS. Hồng Lê Thọ mà ai cũng dễ dàng biết đến?

Câu trả lời là: Nếu trong trường hợp bắt TS. Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập là cả một vấn đề, vì bắt TS. Phạm Chí Dũng là động chạm tới các vấn đề trầm trọng như: tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do lập Hội. Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm trong vấn đề nhân quyền mà các nước Phương Tây hết sức quan tâm. Nếu quyết định bắt TS. Phạm Chí Dũng thì buộc chính quyền phải truy tố, xét xử với bản án khá nặng chứ không thể tha bổng. Điều đó có nghĩa là bắt TS. Phạm Chí Dũng là chuyện dễ, nhưng việc thả TS. Phạm Chí Dũng (việc trước sau cũng phải thả trước áp lực của Hoa kỳ và Phương Tây trong tương lai) là việc vô cùng khó. Việc bắt TS. Phạm Chí Dũng chỉ xảy ra khi chính quyền ra tay đán áp thẳng thừng các tổ chức XHDS mang hơi hướng đối lập với chính quyền. Thời điểm hiện tại chưa phải là lúc để nhà nước Việt nam làm điều đó.

Do vậy việc tạm giữ hình sự một trí thức người Nhật gốc Việt đang ở trong tình trạng sức khỏe kém với tội danh “công bố trên mạng internet những bài viết có nội dung xấu, thông tin sai lệch, làm suy yếu uy tín và niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước” là một tính toán cao kiến của họ. Đặc biệt là trong việc chọn bắt một trí thức nổi tiếng, mang quốc tịch nước ngoài nhưng là một chủ blog không mấy tên tuổi và hầu như không gây những điều nguy hại đáng kể. Điều đó có người cho rằng vô tình GS. Hồng Lê Thọ bị vào tầm ngắm của chính quyền, vì hội đủ nhiều tiêu chuẩn để cho họ biến thành một vật tế thần. Vì đã nói là hành động chiến thuật, cho nên giam giữ GS. Hồng Lê Thọ trong thời gian bao lâu là tùy, chỉ cần kéo dài thời gian tạm giữ để điều tra theo đúng như Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định. Khi con bài đã hết tác dụng thì chỉ cần công bố một quyết dịnh cảnh cáo để trả tự do là kết thúc được vấn đề.

Tất nhiên mọi phân tích ở đây phải ngoại trừ trường hợp GS. Hồng Lê Thọ có các hành động vi phạm pháp luật khác mà người ta “chưa tiện” công bố. Đây là điều rất có thể xảy ra, kiểu như trong quá khứ đã có các vụ trốn thuế hay hai bao cao su đã qua sử dụng. Nhưng theo ông Đinh Kim Phúc, một chuyên gia nghiên cứu biển Đông cho biết về GS. Hồng Lê Thọ là: “Con người anh rất là khẳng khái, cái gì đúng anh bảo vệ tới cùng, cái gì sai thì phê phán. Không phải bất cứ người nào công kích chính phủ Việt Nam hiện nay anh đều hùa theo mà anh có lý lẽ riêng. Tất cả đều phải bắt đầu bằng sự trung thực, không nhằm vào mục đích lật đổ chế độ hay tấn công một cá nhân nào.” thì cho thấy khả năng này ít có thể xảy ra

Chỉ việc thông tin về vụ bắt giữ GS. Hồng Lê Thọ được công bố nhanh chóng duy nhất trên trang web của Bộ Công an, và từ đó cho đến hôm nay không có bất kỳ phương tiện truyền thông nào của nhà nước Việt Nam đăng tải thông tin về vụ bắt giữ này là điểm khá bất thường. Điều đó cho thấy việc bắt giữ GS. Hồng Lê Thọ là bài toán có nhiều ẩn số, chứ hoàn toàn không phải là chuyện bình thường như chúng ta nghĩ.

Ngày 03 tháng 12 năm 2014

Chống tham nhũng ở VN ‘là mị dân’

Posted on

Lãnh đạo Vinashin nhận án tù và Thủ tướng Dũng từng ‘nhận trách nhiệm cá nhân’.

Nhìn lại “Đối thoại về phòng, chống tham nhũng lần thứ 13” ngày 26/11/2014. Với nỗ lực cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam trong công tác phòng, chống tham nhũng đã đem đến hiệu quả ít nhiều.

Với kết quả chống tham nhũng năm 2014, thu hồi 46,9 tỷ đồng từ 54 vụ tham nhũng trên toàn quốc. Giá trị khiêm tốn trên cũng chỉ tương đương chi phí % đúng giá cho giao nhận và chi phí “ bôi trơn” khác của một dự án xây dựng cơ bản với tổng mức khoảng 500 tỷ đồng.

Chống tham nhũng ở Việt Nam ngày càng đi vào bế tắc. Bởi một nghịch lý đó là người thực thi pháp luật chống tham nhũng cũng chính là người dung dưỡng tham nhũng, đã từng phụng sự tham nhũng, đã tham nhũng hoặc vẫn đang trong lợi ích nhóm, đang là hậu duệ, có ân huệ, có quan hệ…với tổ chức, cá nhân tham nhũng.

Chống tham nhũng ở Việt Nam bản chất là cuộc chiến tương tàn giữa các tầng lớp đồng chí, dòng họ, ơn nghĩa thừa kế, có quan hệ chằng chịt về kinh tế, đã hoặc đang hoạt động chung lợi ích. Ngoài ra tham nhũng trong chính trị, từ những người làm chính sách trực tiếp hưởng lợi chớp nhoáng, cũng khó mà phát hiện và chống được. Do đó hiệu quả của công cuộc chống tham nhũng cũng chỉ dừng lại ở số ít cá nhân đại diện cho một bộ máy tham nhũng có hệ thống khổng lồ “bị lộ” qua phản ánh từ nước ngoài, qua doanh nghiệp phá sản, qua đấu đá nội bộ mà thôi.

Phụng sự tham nhũng

Tham nhũng hiện nay đã là thói quen, là văn hóa, tập quán của người Việt trưởng thành khi bước vào ngưỡng cửa công chức. Việc này làm cho xã hội bị đình trệ phát triển, một nguồn nhân lực lớn của đất nước chỉ mong xây dựng cuộc sống của mình gắn liền với quan niệm phải ổn định, được nhàn hạ, ít động não, làm ra thật nhiều tiền từ những trạng thái làm việc mơ hồ, hơn là tạo ra sản phẩm vật chất lẫn sản phẩm tinh thần có cạnh tranh, có ích cho xã hội.

Một tập thể lớn tri thức tham gia vào việc hợp thức hóa rửa tiền từ tham nhũng là công việc bình thường hàng ngày của họ, và họ không có khái niệm phạm tội, họ coi là bình thường việc đang tiếp tay cho tham nhũng.

Đã có nhiều quy định của chính phủ về quản lý giao dịch tiền mặt vốn là đặc trưng ở Việt Nam đến nay với mục đích chống rửa tiền, chống khủng bố. Nhưng vẫn tồn tại rất nhiều cửa để chung chi, bằng những con số tiền mặt rất lớn từ các doanh nghiệp phụng sự tham nhũng, và giá trị tham nhũng sẽ hoàn khép chứng từ để hoàn vốn một cách dễ dàng.

Hình thức giao dịch tham nhũng bằng tài sản, bằng trao đổi bổ nhiệm chức vụ, mua bán chức quyền và bằng nhiều hình thức tinh vi khác ngoài tiền thì hầu như vẫn đang diễn biến tốt đẹp.

Chắc chắn rằng không ai tự kết tội chính mình, dòng họ mình, phe cánh mình, đưa mình vào thế phản ơn, phản thầy một cách tự nguyện. Cho nên công cuộc chống tham nhũng hiện tại cũng chỉ là hình thức xoa dịu lòng dân, hình thành những tổ chức chống tham nhũng không ngoài mục đích đủ thành phần hành pháp, cân bằng quan hệ chính trị nhóm vì lợi ích.

Bầu Kiên yêu cầu giới chức nhà nước ra đối chất nhưng không được đáp ứng đầy đủ.

Tham nhũng ở Việt Nam muôn hình vạn trạng, đang phát triển bình thường:

Hiện tại tham nhũng Việt Nam đang phát triển ngày càng tinh vi hơn, nguy hại hơn cho nền kinh tế đang bế tắc về phát triển với nhiều nợ công, nợ xấu. Dễ dàng nhìn thấy tham nhũng phát sinh hàng ngày khắp nơi, mọi chốn.

Việc mua sắm tài sản công, vật tư, nguyên liệu, thiết bị, đấu thầu theo quy định cũng dễ dàng thao túng hành vi “tham nhũng nhưng đúng luật” với hình thức cung cấp hồ sơ đấu thầu, chào thầu, quân xanh quân đỏ, chính từ người trực tiếp trúng thầu thực hiện, được bật đèn xanh bởi cả hệ thống điều hành. Luật bất thành văn, thống nhất chia chác tỷ lệ tham nhũng từ trên xuống dưới vẫn đang tiếp diễn.

Tham nhũng có giá trị lớn trong xây dựng cơ bản như trước đây thông qua giao nhận các dự án. Trực tiếp tham nhũng bằng cách thu theo tỷ lệ % dự án thì hiện tại biến hóa hơn, có tổ chức hơn. Các công ty mới, lợi ích nhóm mới hình thành có sự hỗ trợ mạnh từ ngân hàng. Mượn năng lực để hợp thức hóa giao nhận làm chủ dự án, chủ đầu tư và lách luật “cấm thầu phụ”, bằng hình thức biến hợp đồng các công ty có năng lực thật sự thành những đội trực thuộc, giao khoán và thu tỷ lệ % cao hơn nhiều. Vì cần việc làm để tồn tại, các doanh nghiệp chuyên nghiệp cũng trở thành nguyên nhân tiếp tay cho tham nhũng và làm giảm đi chất lượng công trình.

Người dân hàng ngày nhận hàng hóa từ nước ngoài qua cửa hải quan sân bay cũng được thỏa thuận đóng thuế hai mức giá, tùy thuộc vào việc lấy hóa đơn nộp thuế hay không.

Thậm chí tham nhũng của các cơ quan hành pháp, tư pháp phát sinh trên những cá nhân, tổ chức tham nhũng cũng là chuyện không hiếm.

Rất nhiều hình thức tham nhũng khác mà người dân ai cũng biết, liên quan đến cuộc sống của mình. Họ ngoan ngoãn tiếp tay tham nhũng có thể vì lợi ích trước mắt, và ít ai dám nói ra.

Những “đồng chí chưa bị lộ” còn lại, không phải là chưa lộ, mà hầu hết đã lộ giữa ban ngày, thể hiện qua khối tài sản không thể biện minh, là thực tế trên cả nước.

Bằng cách nào để chống tham nhũng một cách hữu hiệu thật sự?

Nhìn lại việc ông Trần Văn Truyền, nguyên Tổng thanh tra Chính Phủ. Chưa kể tham nhũng hay không, thì việc phạm luật trốn thuế thu nhập là điều chắc chắn. Và hầu hết các quan chức ở Việt Nam đều vi phạm luật thuế này.

Không riêng gì ông Truyền lúc tại vị, những phát biểu đình đám cho công tác phòng chống tham nhũng của những người đương nhiệm xét cũng chỉ thực hiện theo nhiệm vụ hơn là lương tâm và trách nhiệm.

Việt Nam đã từng tồn tại thuế thu nhập bất thường từ thời bao cấp, chủ yếu là từ việc trúng số kiến thiết. Cụ thể hơn theo Nghị định 147/2004/NĐ-CP và Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định thuế suất thu nhập cá nhân (hoặc bất thường) từ 5% đến 40% với giá trị thu nhập tương ứng.

Nếu nhìn vào tài sản bề nổi hiện tại, so sánh hồ sơ lưu trữ kê khai và nộp thuế tại các cơ quan thuế thì người dân ít nhiều là những đối tượng trốn thuế thu nhập. Hầu hết quan chức nhà nước lại là đối tượng trốn thuế thu nhập lớn hơn, chưa kể sau năm 2006 đảng viên mới được hợp thức làm kinh tế tư nhân.

Hợp thức hóa tài sản

VN không có hệ thống tư pháp độc lập và tòa bị xem là ‘nghiêm nhưng không minh’

Để hợp thức hóa tài sản, giảm giao dịch tiền mặt cho mục đích thực thi phòng chống tham nhũng hiệu quả, phải chăng nên làm một cuộc cách mạng “công nhận, hợp thức hóa tài sản sở hữu hợp pháp” bằng cách “truy thu thuế” thu nhập cá nhân hiện tại, và nhất là tài sản lớn của quan chức nhà nước.

Phải hợp thức một mặt bằng minh bạch tài sản, từ đó làm cơ sở quản lý chống rửa tiền từ tham nhũng và chống thất thu thuế là điều kiện cần bắt buộc. Đây là việc mà hầu hết các nước phát triển đã thực hiện từ lâu, nhằm quản lý thuế nhân sự, chống rửa tiền và phòng chống tham nhũng hiệu quả.

Nếu vẫn tồn tại vòng luẩn quẩn, mập mờ về tài sản quá khứ, hiện tại và tương lai thì công cuộc hô hào chống tham nhũng ở Việt Nam phải chăng chỉ là mục đích mị dân. Đẩy mạnh thực chất chống tham nhũng đối với các đối tượng quan chức, khác nào tự tạo nên cuộc chiến huynh đệ tương tàn, thậm chí tự giết chính bản thân mình, một việc làm quá ư trừu tượng.

Thực tế hóa việc phòng chống tham nhũng:

Việc phòng chống tham nhũng chỉ hữu hiệu khi quán triệt từ tư tưởng, từ chấp pháp, chứ không phải chống tham nhũng mà vẫn cứ chấp nhận tham nhũng từ lách luật, từ những biến hóa chứng từ hợp lý và từ lạm dụng ảnh hưởng chức quyền.

Đánh chuột hay giữ bình chỉ thiết thực khi hợp thức hóa, công nhận hình thành tài sản cá nhân hợp pháp của các quan chức thông qua kê khai và truy thu thế thu nhập, làm cơ sở pháp lý. Sau đó được kiểm soát hoạt động, thu nhập quan chức bằng công cụ thuế và dễ dàng giám sát từ toàn dân.

Vẫn phải “dùng chuột để diệt chuột”, vẫn duy trì “lách luật đúng quy trình” thay cho các biện pháp “thuốc diệt chuột”, và chuột cũng chính là chủ nhà, thì công cuộc chống tham nhũng bằng tự kê khai tài sản các quan chức ở Việt Nam mãi chỉ là câu chuyện khôi hài.

Có định hướng đi theo chủ nghĩa nào đi nữa, thì việc minh bạch tài sản và lành mạnh thu nhập, tuân thủ theo các qui định thuế là điều cần thiết tối thiểu cho một xã hội. Chủ động duy trì một mớ bòng bong tài sản nhập nhằng, thực hiện phòng chống tham nhũng bằng những lý thuyết suông mãi chỉ là mơ mộng viển vông.

Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả.

Anh Hồng Lê Thọ bị bắt vì lý do gì?

Posted on

Phạm Chí Dũng
Sáng sớm ngày 30/11/2014, tôi đến nhà anh Hồng Lê Thọ ở 32 Cửu Long, Phường 15, quận 10, TP.HCM. Sau khi anh Thọ bị bắt vào hôm trước, ở nhà chỉ còn chị Nga (vợ anh Thọ). Tôi muốn gặp chị để bàn việc sẽ đi thăm nuôi anh Thọ và thu xếp luật sư bảo vệ anh như thế nào.

Giáo sư Hồng Lê Thọ

Quen biết đã nhiều năm, cho đến giờ tôi vẫn không thể hình dung khác hơn rằng Hồng Lê Thọ là một trí thức ôn hòa chính trị và rất chừng mực về cách cư xử. Là một Việt kiều Nhật hồi hương, anh lặng lẽ sống và làm việc ở Sài Gòn, mở trang blog Người Lót Gạch như một kênh tổng hợp thông tin phản biện xã hội. Rất nhiều lần ngồi cà phê với anh, tôi luôn được thuyết phục bởi tình cảm quá nặng lòng với dân tộc của anh, về tất cả những gì mà tâm trí anh thường trực nỗi bức xúc trước hiện tình rối ren đổ nát của xã hội và nền chính trị. Với tôi, anh cũng là một trong những trí thức có cái nhìn sắc sảo và tách bạch nhất về quan hệ quốc tế và quan điểm “thoát Trung”.

Tuy lặng lẽ, Hồng Lê Thọ không hề là một nhân vật “nhỏ”. Anh có chỗ đứng được tôn trọng trong giới kiều bào Việt Nam ở hải ngoại. Anh cũng được nhiều người trong giới tranh đấu dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam biết đến.
Nhưng cũng bởi thế, điều có vẻ khó hiểu là Cơ quan an ninh điều tra lại “chọn” bắt anh, thay vì hành xử tương tự đối với một nhân vật nào đó ít tên tuổi và uy tín xã hội.

Chưa biết họ sẽ “điều tra” ra những gì, chỉ có thể hiểu rằng việc Hồng Lê Thọ bị bắt sẽ lập tức gây phát sinh phản ứng ở mức độ căng thẳng của số đông kiều bào người Việt đối với Nhà nước Việt Nam. Rồi tất yếu cũng dẫn đến phản ứng có thể không hề trầm lắng của Hoa Kỳ, một số nước phương Tây và các tổ chức quốc tế về nhân quyền dành cho ngành công an và chính quyền Việt Nam, vô hình trung sẽ càng làm khó hơn lối thoát lận đận của nhà nước này nhờ vào TPP và các lợi ích khác về ngoại giao và chính trị.

Một lần nữa, điều luật 258 về “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” được Cơ quan an ninh điều tra ngành công an áp chế. Từ giữa năm 2013, thay cho các điều luật 88 về “tuyên truyền chống nhà nước” và điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền”, người ta đã “vận dụng” điều luật 258 để bắt hàng loạt người bất đồng chính kiến như blogger Phạm Viết Đào, Đinh Nhật Uy, nhà báo Trương Duy Nhất, và gần đây nhất là bắt blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh vào tháng 5/2014.

Tuy nhiên cũng có vài khác biệt đáng để ý trong động thái bắt blogger Hồng Lê Thọ. Khác với những trường hợp trước đây, cơ sở để tuyên truyền cho việc bắt giữ anh Thọ là “theo tin tố giác của quần chúng”. Trong thực tế điều tra xét hỏi tội phạm, cơ sở này thường áp dụng với đối tượng hình sự chứ không phải đối tượng chính trị.

Mặt khác, Cơ quan an ninh điều tra cũng sử dụng hình thức “Lệnh khám xét và tạm giữ hình sự” mà không phải là “bắt khẩn cấp, tạm giam” hay “bắt giam”, và chưa kèm theo lệnh khởi tố bị can.

Hai tuần trước khi anh Hồng Lê Thọ bị bắt, chúng tôi đã gặp nhau nói chuyện phiếm. Cũng như những lần gặp nhau trước đó, tôi không nghe anh Thọ nói về một dấu hiệu cảnh báo “sẽ bị bắt” nào từ phía cơ quan an ninh.

Vụ việc bắt giữ anh Hồng Lê Thọ khiến tôi có cảm giác không khí bắt bớ bất đồng chính kiến có những dấu hiệu đang quay trở lại gần giống với trường hợp bắt luật sư công giáo Lê Quốc Quân vào cuối tháng 12/2012, sau khi Quân nhiều lần xuống đường phản đối Trung Quốc can thiệp Biển Đông.

Còn lần này, Nhà nước và ngành công an Việt Nam liệu có trưng ra được nguyên cớ nào đủ “thuyết phục” đối với hành động bắt giữ blogger Hồng Lê Thọ, hay là không?

Những nước bình thường: phương Đông 25 năm hậu cộng sản

Posted on

Andrei Shleifer và Daniel Traisman
Trần Ngọc Cư dịch
Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, một cảm thức nuối tiếc về cơ hội đã bỏ lỡ đang trùm lên các nước một thời nằm ở phía Đông đường ranh này. Trở lại thời điểm đó, hi vọng của dân chúng tại đây đã dâng cao trong không khí hồ hởi đón mừng sự sụp đổ đột ngột của chủ nghĩa cộng sản. Từ Bratislava đến Ulaanbaatar, cơ hồ thể chế dân chủ và sự thịnh vượng kinh tế đã đến đợi ở góc đường.Ngày nay, tâm trạng người dân tại những nước này trở nên u ám hơn. Với một vài trường hợp ngoại lệ, như Estonia và Ba Lan, những nước hậu cộng sản còn lại bị coi là những trường hợp thất bại – kinh tế bị oằn xuống dưới sức nặng của tầng lớp hưởng hưu bổng đang sống chật vật và giới đầu sỏ chính trị đang sống xa hoa, còn chính trị thì bị hoen ố bởi các trò gian lận ở thùng phiếu và sự xuất hiện những lãnh đạo độc tài. Từ Yugoslavia cũ đến Chechnya và bây giờ đến miền Đông Ukraine, các cuộc chiến đã làm gián đoạn sự liên tục của thời gian hơn 40 năm hòa bình lạnh [cold peace] trên lục địa châu Âu, để lại nhiều vùng lõm âm ỉ bạo động. Đối với nhiều quan sát viên thời sự, chế độ kìm kẹp độc tài và tham vọng địa chính trị hiếu chiến của Tổng thống Nga Vladimir Putin tiêu biểu cho một tình trạng suy thoái dân chủ tổng quát hơn lan ra từ phía Đông. “Điều tồi tệ nhất của chủ nghĩa cộng sản là những gì diễn ra sau nó,” Tổng Biên tập của một nhật báo Ba Lan và trước đây là một nhà bất đồng chính kiến chống cộng, ông Adam Michnik, mỉa mai.

Ngày kỷ niệm là một dịp tốt để chiêm nghiệm lịch sử và chẩn đoán tương lại. Nhiều thay đổi đã diễn ra từ khi các nước hậu cộng sản – gồm 15 quốc gia kế thừa Liên Xô, 14 nước cộng sản cũ của Đông Âu, và cựu chư hầu Xô-viết Mông Cổ – đã thoát khỏi các chế độ Mác-xít tàn bạo cách đây một thế hệ. Không phải mọi thay đổi đều phải trở thành một cái gì tốt đẹp hơn. Nhưng nếu coi những cải tổ hậu cộng sản là thất bại, thì đó lại là một sai lầm, và sai lầm này có nhiều ý nghĩa vượt ra ngoài khu vực. Một số nhà nghiên cứu, choáng ngợp trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và bị sốc do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, gần đây đã coi chủ nghĩa tư bản nhà nước độc tài là một phương án sinh động thay thế cho sự rối loạn chức năng của thể chế dân chủ tự do. Quan niệm sai lầm cho rằng nỗ lực cải tổ thị trường đã thất bại tại Đông Âu đã tăng cường cái ảo giác này.

Sự thật là lối tường thuật u ám đang thịnh hành về thế giới hậu cộng sản phần lớn là sai lầm. Gạt qua một bên các hình ảnh thời sự hiện nay, chúng ta sẽ thấy cuộc sống đã được cải thiện ngoạn mục khắp khối Đông cũ. Từ thời kỳ quá độ đến nay, các nước hậu cộng sản đã phát triển kinh tế nhanh chóng; ngày nay, người dân trở nên giàu có hơn, có tuổi thọ cao hơn, và sống hạnh phúc hơn. Gần như trên mọi phương diện, những quốc gia này hiện nay hoàn toàn giống như bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới có cùng một mức độ phát triển kinh tế. Chúng đã trở thành những nước bình thường – và, trong nhiều cung cách, tốt đẹp hơn cả bình thường.

Mặc dù tính trung bình, chúng giống như các quốc gia đồng đẳng kinh tế, nhưng trên thực tế các quốc gia chuyển đổi thể chế này đã trở nên đa dạng hơn nhiều. Sau khi thoát ra khỏi mô hình do Moscow áp đặt, chúng chịu sức thu hút của những quốc gia láng giềng phi cộng sản gần nhất: các nước ở Trung Âu nghiêng về châu Âu hơn; các nước ở Trung Á nghiêng về châu Á hơn. Trong những năm sắp tới, con đường phát triển của chúng có khả năng cùng phản ánh sự ganh đua giữa hai lực tác động chính: tính năng động toàn cầu của hiện đại hóa và sức níu kéo của địa lý [khu vực].

CÁC QUỐC GIA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Để hiểu rõ các nước hậu cộng sản nói trên đã thay đổi ra sao ta hãy nhớ lại chúng đã xuất phát như thế nào. Về chính trị, chúng đều là những quốc gia độc tài được cai trị bởi một đảng cầm quyền. Mỗi nước đều có cán bộ tuyên giáo để dạy bảo người dân phải nghĩ gì, có mật vụ để phát hiện bất đồng chính kiến, và có trại tù để giam giữ những người chỉ trích chế độ. Tất cả đều bày ra các cuộc tuyển cử khôi hài trong đó đảng chiếm hơn 95 phần trăm phiếu bầu. Trừ Yugoslavia và Albania sau năm1960, các nước khác đều nhận lệnh từ Moscow, một trung tâm quyền lực đã đưa xe tăng vào Hungary năm 1956 và Tiệp Khắc năm 1968 để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng.

Tất cả các nước trong khối cộng sản vào thời đó có nền kinh tế do trung ương kiểm soát. Hầu hết hoặc tất cả tài sản đều thuộc về nhà nước, và giá cả được các nhà làm kế hoạch kinh tế đặt ra, chứ không do thị trường định đoạt. Công nghiệp nặng chiếm ưu thế trong khi khu vực dịch vụ thì èo uột. Tại Liên Xô, chi phí quốc phòng đã ngốn tới 25 phần trăm GDP vào cuối những năm 1980, so với dưới 6 phần trăm tại Mỹ. Vào năm 1986, các nhà máy của Liên Xô đã sản xuất một kho vũ khí gồm 45.000 đầu đạn hạt nhân.

Làm thoả mãn người tiêu thụ không phải là một ưu tiên. Để mua được một căn hộ vào những năm 1980, người nạp đơn ở Bulgaria phải đợi đến 20 năm, và tại Ba Lan phải đợi đến 30 năm; một phần tư số người trong danh sách chờ tại Liên Xô là người đã nghỉ hưu. Người mua xe hơi tại Đông Đức phải đặt hàng trước 15 năm. Tại Romania, nhà độc tài Nicolae Ceausescu buộc mọi người phải theo một chế độ ăn uống thiếu calorie vào đầu những năm 1980 để dành tiền trả nợ nước ngoài. Ông qui định mỗi phòng chỉ được thắp sáng bằng một bóng đèn 40 watt, sưởi ấm các công sở chỉ đến 14 độ C là tối đa, và thời gian phát sóng truyền hình mỗi ngày là hai giờ với các chương trình tẻ nhạt.

Các nước cộng sản có thể rêu rao một số thành tích. Với chỉ 8 phần trăm dân số thế giới, Liên Xô và các nước Đông Âu đã giành được 48 phần trăm huy chương tại Thế vận hội Seoul năm 1988 và có đến 53 trong số 100 tay cờ tướng hàng đầu năm đó. Tỉ lệ người có học và biết chữ là cao.

Tuy nhiên, vào những năm suy tàn của chủ nghĩa cộng sản, ít ai chịu đứng ra bênh vực nó. Theo Vaclav Havel, nhà bất đồng chính kiến về sau trở thành Tổng thống Cộng hòa Séc, hệ thống đó là một “cỗ máy đồ sộ quái đản, inh ỏi và tanh hôi.” Nhiều năm sau khi rời bỏ quyền hành, Mikhail Gorbachev, chủ tịch cuối cùng của Liên Xô đã mô tả đặc tính của nền kinh tế mà có thời ông giám sát là “ngốn ngấu” và “phung phí tài nguyên.”

Cuối cùng, toàn bộ hệ thống Xô-viết thình lình sụp đổ. Các lãnh đạo mới được dân bầu ra khắp khối cộng sản cũ phải đối diện với nền kinh tế nước mình trong cơn khủng hoảng. Năm 1989, lạm phát tăng vọt 640 phần trăm tại Ba Lan và 2.700 phần trăm tại Nam Tư. Khoảng thời gian trước 1991, thời điểm Liên Xô tan rã, sản lượng của nước này giảm 15 phần trăm một năm.

Các chính phủ hậu cộng sản đồng loạt thực thi các chương trình cải tổ – được thiết kế để giảm bớt việc kiểm soát giá cả, thúc đẩy mậu dịch, quân bình ngân sách, tư hữu hóa các xí nghiệp nhà nước, và thiết lập các chương trình phúc lợi xã hội – mặc dù một số nước có thể theo đuổi các chương trình này nhanh hơn và mạnh hơn các nước khác. Những cải tổ này đã thay hình đổi dạng nền kinh tế của họ. Nói chung, nhờ từ bỏ đường lối hoạch định kinh tế trung ương, các nước hậu cộng sản có điều kiện phát triển kinh tế thị trường hơn phần còn lại của thế giới. Khoảng năm 2011, các nước này đạt một chỉ số tự do kinh tế trung bình là 7,0, một chỉ số do Viện Fraser, một nhóm nghiên cứu tại Canada đúc kết, so với chỉ số trung bình toàn cầu là 6,8. Nước được cải tổ nhiều nhất trong khối,Estonia, có chỉ số tự do kinh tế nằm giữa Đan Mạch và Hoa Kỳ.

Hầu như khắp mọi nơi, các con khủng long công nghiệp nhà nước phải nhường bước cho các công ty tư nhân là những công ty bắt đầu sản xuất phần lớn tổng sản phẩm nội địa (GDP). Sản lượng trung bình của khu vực tư tại các nước hậu cộng sản hiện nay chiếm khoảng 70 phần trăm. Công nghiệp nặng được giảm thiểu, và trung bình, khu vực dịch vụ tăng từ 36 phần trăm đến 58 phần trăm sản lượng quốc gia trong thời gian từ 1990 đến 2012. Không có một khu vực nào trên thế giới mà mậu dịch quốc tế phát triển nhanh như thế, với kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu cùng tăng vọt từ 75 phần trăm đến 114 phần trăm GDP. Sau nhiều thập niên chủ yếu trao đổi mậu dịch với nhau trong cùng một khối, các quốc gia hậu cộng sản đã nhanh chóng tái định hướng kinh tế để nhắm tới các thị trường nước ngoài tại châu Âu và những khu vực khác. Tính đến năm 2012, giá trị hàng xuất khẩu từ các nước Đông Âu cũ sang EU tăng trung bình 69 phần trăm và từ các nước cộng hòa Xô-viết cũ 47 phần trăm.

Tóm lại, những nước này đã chuyển đổi hệ thống kinh tế do nhà nước quản lý, được quân sự hóa và công nghiệp hóa cao độ thành một nền kinh tế thị trường hướng về dịch vụ, đặt cơ sở trên sở hữu tư nhân và hội nhập vào mạng lưới thương mại toàn cầu. Không còn bị bóp méo theo đường lối Mác-xít, các định chế kinh tế, chính sách mậu dịch, và các môi trường điều tiết tại những nước này ngày nay giống hệt các nước khác có cùng một mức lợi tức quốc gia.

Bất chấp những thay đổi này, các quan sát viên thường qui trách nhiệm cho các cải tổ thời hậu cộng sản về thành tích kinh tế tồi tệ tại các quốc gia đang trải qua thời kỳ quá độ. Hai cáo buộc thông thường cho rằng trên cơ bản các cải tổ này đã được quan niệm một cách sai lầm và rằng chúng đã được thi hành một cách quá triệt để [too radical]. Việc chỉ trích này nêu lên hai câu hỏi: một là, liệu thành tích kinh tế của các quốc gia này có thực sự tồi tệ hay không, và hai là, liệu các chiến lược triệt để hơn có mang lại kết quả tồi tệ hơn so với các đường lối cải tổ tuần tự hơn hay không. Câu trả lời vắn tắt cho cả hai câu hỏi là không.

HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐI LÊN

Một khởi điểm hợp lý trong việc đánh giá thành tích kinh tế của một nước là lợi tức quốc gia của nó, nhưng bất cứ một sự so sánh nào dùng số liệu của thời Xô-viết cũng cần phải được xét đến bằng một thái độ hoài nghi. Vì nhiều lý do khác nhau, phần lớn sản lượng mà các kế toán viên của thời cộng sản ghi lại trong sổ sách thường không có giá trị như con số mà họ rêu rao. Các nhà máy báo cáo láo sản lượng của mình để lãnh tiền thưởng, do đó thổi phồng các số liệu GDP lên đến 5 phần trăm. Nhiều hàng hóa do các nhà máy này sản xuất có phẩm chất tồi tệ đến nỗi người tiêu thụ không chịu mua. Chính phủ phát động nhiều dự án đồ sộ nhưng không bao giờ được hoàn thành (mà vẫn được tính vào chi phí đầu tư, làm gia tăng các giá trị GDP) và duy trì các chi phí quốc phòng to lớn với trị giá rất đáng hoài nghi. Rốt cuộc, chỉ một phần rất nhỏ trong lợi tức chính thức của quốc gia lọt vào túi của người dân mà thôi. Vào năm 1990, chẳng hạn, lượng tiền dùng để tiêu thụ trong các hộ gia đình tại hầu hết những nước phi cộng sản [noncommunist countries] chiếm đến 60 phần trăm GDP. Nhưng tại Nga, con số này chiếm chưa được một phần ba GDP, và tại Azerbaijan, con số này rơi xuống dưới một phần tư.

Phần lớn sự suy thoái kinh tế được ghi nhận trong những năm đầu của thời kỳ quá độ hậu cộng sản – theo một vài ước tính, có thể giảm đến một nửa – đã phản ánh việc cắt bỏ sản lượng hư cấu hay các đầu tư vô bổ của thời cộng sản. Nhưng thậm chí nếu những con số chính thức này được thừa nhận theo giá trị bề mặt của chúng, bức tranh mà chúng cho thấy vẫn sáng sủa hơn người ta thường lầm tưởng. Bất chấp nền kinh tế bị suy giảm lúc đầu, trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2011, một nước hậu cộng sản có mức tăng trưởng trung bình (Uzbekistan) cũng tăng trưởng nhanh hơn một chút so với một nước có mức tăng trưởng trung bình ở một nơi khác trên thế giới (Norway). Trong khi GDP đầu người của Norway tăng lên 45 phần trăm trong thời gian nói trên, Uzbekistan tăng được 47 phần trăm. Bosnia, nơi lợi tức quốc gia tăng hơn 450 phần trăm, đã đạt tỉ lệ tăng trưởng ở vị trí thứ ba trên thế giới trong giai đoạn vừa nói. Albania đứng ở vị thứ 16, tăng trưởng 134 phần trăm, và Ba Lan vị thứ 20, tăng trưởng 119 phần trăm. Ba nước hậu cộng sản này còn qua mặt cả những cỗ máy có truyền thống tăng trưởng như Hồng Kông và Singapore.

Sự gia tăng về mức tiêu thụ cũng ngoạn mục không kém. Từ năm 1990 đến năm 2011, mức tiêu thụ trong các hộ gia đình tính theo đầu người tại các nước hậu cộng sản đã tăng trung bình 88 phần trăm, so với mức tăng trung bình 56 phần trăm tại các nơi khác trên thế giới. Tại Ba Lan, mức tiêu thụ hộ gia đình đã tăng 146 phần trăm, ngang với tỉ lệ của Hàn Quốc. Tại Nga, mức tiêu thụ đã tăng 100 phần trăm.

Người dân bình thường đã trông thấy mức sống của mình được cải thiện đáng kể. Số người sở hữu xe hơi, một thước đo đáng tin cậy về lợi tức có thể đem ra tiêu xài, đã gia tăng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ mặc dù GDP có sa sút trong những năm đầu của thời kỳ quá độ. Trong thời gian từ 1993 đến 2011, con số trung bình của xe hơi chở người [passenger cars] đã tăng từ một chiếc cho 10 đầu người đến một chiếc cho 4 đầu người. Hiện nay số xe hơi tính theo đầu người tại Lithunia, Ba Lan, và Lithuania còn cao hơn cả Anh.

Trong công nghệ thông tin, Đông Âu cũng vươn lên phía trước, đi từ lạc hậu đến tiến bộ vượt bậc. Vào năm 2013, tỉ lệ số điện thoại di động được sử dụng cho mỗi đầu người là 1,24 [cứ 100 người thì có đến 124 chiếc điện thoại], một con số vượt cả phương Tây. Thế giới hậu cộng sản ngày nay có một tỉ lệ cư dân mạng là 54 phần trăm dân số trong một nước trung bình – cao hơn bất cứ khu vực nào trên thế giới ngoại trừ Bắc Mỹ và Tây Âu.

Công dân của các quốc gia hậu cộng sản cũng đi du lịch nhiều hơn bao giờ; họ thực hiện 170 triệu chuyến du lịch nước ngoài năm 2012. Và ở trong nước, họ sống trong những hộ chung cư rộng rãi hơn: từ năm 1991, không gian sống tính theo đầu người đã tăng lên 99 phần trăm tại Cộng hòa Séc, 85 phần trăm tại Armenia, và 39 phần trăm tại Nga. Nhờ các chương trình tư hữu hóa nhà ở cho đại chúng, tỉ lệ sở hữu nhà ở tại một vài nơi đã vượt đến mức cao nhất thế giới. Dân chúng cũng ăn ngon hơn trước. Tại bảy trong số chín cộng hòa Xô-viết cũ có công bố các số liệu thống kê liên quan, việc tiêu thụ trái cây và rau đã tăng vọt. Vào năm 2011, chẳng hạn, dân Ukraine ăn 58 phần trăm nhiều rau hơn và 47 phần trăm nhiều trái cây hơn so với 20 năm về trước. Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, và Slovenia trải qua một hiện tượng mà các nhà nghiên cứu y khoa đã mô tả vào năm 2008 trong Tạp chí Dịch tễ học châu Âu [the European Journal of Epidemiology] “gần như chắc chắn là một đợt giảm thiểu bệnh tim mạch nhanh nhất chưa từng thấy” sau khi người tiêu thụ bắt đầu thay thế dầu thực vật cho các loại mỡ động vật.

Về sự thăng tiến trong xã hội, các số liệu thống kê phủ nhận thành kiến cho rằng xã hội hậu cộng sản đang bị phân hóa giữa giới đại gia đầu sỏ và tầng lớp ăn mày. Tỷ số sinh viên ghi danh đại học, vốn đã cao, sau năm 1989 thậm chí còn gia tăng hơn nữa, ở mức trung bình 33 phần trăm trước năm 2012. Cũng trước năm 2012, tại những nước hậu cộng sản, tỉ lệ trung bình học sinh vừa xong trung học quyết định tiếp tục học thêm là cao hơn tỉ lệ tương ứng tại Thụy Sĩ. Mặc dầu tỉ lệ nghèo khổ và bất bình đẳng lợi tức thường tăng lên vào lúc đầu của thời kỳ quá độ, nhưng những tỉ lệ này tại các quốc gia hậu cộng sản hiện nay là thấp hơn các nền kinh tế khác có cùng mức lợi tức tương đương.

Các chính phủ cũng đang có thêm nhiều nỗ lực để đảm bảo cho người dân có thể hít thở không khí trong lành hơn. Chế độ cộng sản đã để lại một rừng ống khói nhà máy, nhưng từ 1990, cả 11 nước hậu cộng sản thành viên của EU đã cắt giảm hơn một nửa các lượng khí thải carbon monoxide, ốc-xít ni-tơ, ốc-xít lưu huỳnh. Thậm chí trong khi kinh tế đang tăng trưởng, 12 hai nước cộng hòa Xô-viết cũ đã cắt giảm các khí thải ô nhiễm thoát ra từ các nguồn cố định vào không khí, ở tỉ lệ trung bình 66 phần trăm trong thời gian từ 1991 đến 2012.

Và mặc dù thường có những bài báo nêu lên tỉ suất tử vong tăng vọt [soaring mortality] do căng thẳng của thời kỳ quá độ, các xu thế phát triển liên quan đến dân số của khu vực này là không đen tối. Tính trung bình, tuổi thọ tại các quốc gia hậu cộng sản đã tăng từ 69 tuổi vào năm 1990 đến 73 tuổi vào năm 2012. Thậm chí tại Nga, từ lâu đã bị mô tả là một vùng thảm họa dân số [demographic disaster zone], tuổi thọ trung bình cũng đứng ở mức ngoài 70 một chút – nghĩa là cao hơn bao giờ hết trong lịch sử Nga. Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh, vốn đã thấp, lại giảm nhanh hơn tại các các nước hậu cộng sản tính theo tỉ lệ phần trăm so với bất cứ khu vực nào trên thế giới trong thời gian từ 1990 đến 2010. Lượng rượu cồn tiêu thụ [của mỗi người] tính trung bình cũng nhích xuống từ 2,1 gallon [hay 7,95 lít] cồn tinh chất vào năm 1990 xuống 2,0 gallon [hay 7,57 lít] vào năm 2010. Có vài ngoại lệ: lượng rượu tiêu thụ đã tăng lên tại Nga và các quốc gia Baltic. Nhưng thậm chí lượng rưọu trung bình cho mỗi đầu người tại Nga vào năm 2010 là 2,9 gallon [hay gần 11 lit] vẫn còn thấp hơn ở Áo, Pháp, Đức, hay Ái Nhĩ Lan.

Mặc dù những tiến bộ như về mức sống, chẳng hạn, là quan trọng; nhưng chuyển đổi cơ bản nhất đã diễn ra tại các nước trong khối Đông cũ là chính trị. Người dân của hầu hết các quốc gia chuyển đổi chế độ hiện sống dưới những chính phủ tự do và cởi mở hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử của họ. Thậm chí khi đối chiếu với bối cảnh trong đó thể chế dân chủ đã trỗi dậy trên toàn cầu vào những thập niên gần đây, mức độ chuyển đổi chính trị trong khối Đông cũ vẫn là rất ngoạn mục.

Một vài số liệu có thể chứng minh điều này. Sử dụng thước đo phổ biến nhất về các chế độ chính trị, gọi là Chỉ số Chính thể [Polity index], do Trung tâm Nghiên cứu Hoà bình của các Thể chế [the Center for Systemic Peace], chúng tôi đặt các nước trên một thang điểm từ số không (thuần túy độc tài) đến 100 (thể chế dân chủ vững mạnh nhất). Vào năm 1988, các quốc gia khối Đông được xếp từ vị thứ 5 (Albania) đến 40 (Hungary), tính trung bình các nước trong khối này có điểm số 20, gần với điểm số của Ai Cập và Iran. Dựa vào trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, các nước cộng sản nổi bật lên như là những chế độ độc tài khác thường trên thế giới. Sau các cuộc cách mạng 1989-91, Chỉ số Chính thể trung bình của chúng đã tăng vọt, vươn tới điểm số 76 vào năm 2013. Ngày nay, một nước hậu cộng sản trung bình được hưởng tự do của một nước bình thường như người ta kỳ vọng, dựa vào mức lợi tức quốc gia của nó. Có đến 6 nước hậu cộng sản có Chỉ số Chính thể cao nhất, ngang hàng với Đức và Mỹ.

VƯƠN CAO HƠN NỮA

Các nước hậu cộng sản ngày nay còn lâu mới trở nên hoàn hảo. Nhưng hầu hết các khuyết điểm của chúng cũng là thuộc tính tiêu biểu cho các quốc gia có cùng một trình độ phát triển kinh tế. Trên nhiều mặt, các nước này còn đạt được những thành tích tốt đẹp hơn, vượt ra ngoài các dự đoán dựa vào lợi tức quốc gia. Và trong một số ít trường hợp tụt hậu, các nước này gần như luôn luôn đi đúng hướng.

Xin lấy nạn tham nhũng làm ví dụ. Khu vực này thường xuyên bị đánh giá rất thấp trên các chỉ số đo lường nạn tham nhũng mà người ta tin là có thật [perceived corruption]. Thành tích yếu kém này là không đáng ngạc nhiên vì những chỉ số đo lường nạn tham nhũng phần nào đã dựa vào các cuộc thăm dò các nhà doanh nghiệp quốc tế, là những người có khả năng bị lung lạc do cái hình ảnh bẩn thỉu của khu vực này được nêu lên trên các phương tiện truyền thông toàn cầu. Nhưng các chỉ số của nạn hối lộ được chính người dân của những nước hậu cộng sản này tường thuật trong các cuộc thăm dò không tiết lộ danh tánh lại vẽ ra một bức tranh khác hẳn. Những chỉ số này, mặc dù cao, vẫn là tiêu biểu cho các nước có một mức lợi tức tương đương. Các cuộc thăm dò do tổ chức giám sát Minh bạch Quốc tế [Transparency Internatonal] tiến hành từ năm 2010 đến năm 2013 cho thấy rằng số người thú nhận đã hối lộ quan chức tại một quốc gia hậu cộng sản trung bình (23 phần trăm) là ít hơn con số trung bình tại những nước khác (28 phần trăm).

Về xung đột vũ trang cũng thế, khu vực này không khác với những vùng có cùng mức độ phát triển tương đương. Mặc dù chiến tranh đã xảy ra tại Nam Tư cũ, Chechnya, và hiện nay tại Ukraine, các nước hậu cộng sản không khác với các quốc gia có cùng một mức độ phát triển, trong khả năng trải qua xung đột vũ trang hay nội chiến trong 25 năm qua. Các quốc gia này cũng không cho thấy tỉ lệ tử vong cao hơn, cả trong chiến tranh hay bạo động lẫn qua số liệu tuyệt đối hoặc tính theo đầu người. Và mặc dù cuộc xung đột vũ trang tại Ukraine là quá mới để được tính vào những con số này, nhưng nó không có khả năng thay đổi kết quả thống kê, trừ phi chiến sự ở đó leo thang ra ngoài vòng kiểm soát.

Đằng sau những dữ liệu này, người ta còn chứng kiến tiến trình phi quân sự hóa nhanh chóng của toàn khu vực: so với chi phí quốc phòng của Liên Xô cũ có khi lên đến 25 phần trăm GDP, ngày nay không một quốc gia kế tục nào của nó, kể cả Nga, có ngân sách quốc phòng vượt quá 5 phần trăm GDP. Thậm chí khi liên minh của chúng tan rã, các quốc gia trong khối Warsaw cũ đã cho giải ngũ một triệu binh lính.

Nạn lạm phát và thất nghiệp cũng là hai vấn đề khác cần được bàn đến. Vào những năm 1990, hầu hết các nước hậu cộng sản đều kinh qua những gian khổ do vật giá leo thang và nạn thất nghiệp tăng vọt. Tuy nhiên, trước năm 2012, tình trạng lạm phát gần như đã được ổn định tại hầu hết những nước này; tỉ lệ lạm phát trung bình của các nền kinh tế hậu cộng sản trên thực tế đã rơi xuống dưới tỉ lệ lạm phát trung bình toàn cầu. Và mặc dù nạn thất nghiệp tại các nước chuyển đổi chế độ này vẫn còn cao hơn vài phần trăm so với các quốc gia có cùng trình độ kinh tế, nhưng tỉ lệ này vẫn tiếp tục đi xuống kể từ khi chạm đỉnh khoảng năm 2000.

Những năm gần đây còn chứng kiến những cải thiện trong một lãnh vực khác mà các nước hậu cộng sản đã từng tụt hậu so với phần còn lại của thế giới: đấy là hạnh phúc của người dân. Theo đợt thăm dò mới nhất của tổ chức Nghiên cứu các Giá trị Thế giới [the World Values Survey], được tiến hành trong những năm 2010-14, các nước trong khối Đông cũ cũng sắp bắt kịp thế giới về phương diện hạnh phúc. Tính trung bình, 81 phần trăm dân chúng được hỏi ý kiến tại các nước hậu cộng sản cho biết rằng họ hoặc là “rất” hoặc là “hoàn toàn” hạnh phúc, so với 84 phần trăm toàn thế giới. Với mức lợi tức hiện có, người dân tại những nước này không còn đặc biệt trầm cảm [particularly depressed] như trước – mặc dù họ vẫn bày tỏ nỗi bất bình khác thường [unusual dissatisfaction] với công việc, với chính phủ, cũng như với hệ thống giáo dục và y tế. Tỉ lệ tự sát, mặc dù vẫn còn tương đối cao, đã giảm bớt đáng kể từ khi chế độ cộng sản cáo chung.

CÁC QUI LUẬT VỀ SỰ THU HÚT GIỮA CÁC QUỐC GIA

Bài nghiên cứu các giá trị trung bình này làm lu mờ sự khác biệt to lớn diễn ra từ khi tính đồng phục [uniformity] do Moscow áp đặt lên chư hầu của mình cáo chung. Ngày nay, sự tương phản giữa các quốc gia hậu cộng sản đa dạng này là rất rõ nét. Ba Lan đã trở thành một nước dân chủ thị trường tự do có lợi tức quốc gia tăng lên hơn hai lần kể từ năm 1990; Tajikistan vẫn là một nước độc tài, trên mình còn mang thương tích chiến tranh và cực kỳ nghèo khổ, do một nhà lãnh đạo duy nhất đứng đầu suốt hơn 20 năm.

Một lý giải được lặp đi lặp lại nhiều lần về sự cách biệt giữa các thành quả kinh tế là, tại một số nước các quan chức chính phủ đã phá hoại hiệu quả bằng cách theo đuổi các cải tổ quá táo bạo. Theo luận cứ này, một đường lối chậm rãi hơn, có bài bản hơn đã giúp một số nước khác thực hiện các cuộc chuyển đổi thành công hơn. “Các chính sách theo đường lối tuần tự [gradualist policies] sẽ ít gây thiệt hại trong ngắn hạn, nhưng sẽ dẫn đến ổn định kinh tế và xã hội rộng lớn hơn, và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn,” nhà kinh tế Joseph Stiglitz đã lập luận trong cuốn sách ông xuất bản năm 2002, Globalization and Its Discontents [Toàn cầu hóa và những nỗi bất bình]. “Trong cuộc chạy đua giữa con rùa và con thỏ, hình như con rùa lại thắng cuộc một lần nữa.” Lý giải này đã thu hút những người trong khối Xô-viết cũ khi họ nhận thấy các đặc quyền của mình bị tiến trình tự do hoá đe dọa và những người ở phương Tây mất lòng tin vào các thế lực kinh tế thị trường. Nhưng lý luận như vậy là sai lầm: khoảng giữa thập niên 1990, các nước theo đuổi cải tổ một cách nhiệt tình đã thành công vượt bậc so với những nước trì hoãn cải tổ.

Chỉ nhìn sơ vào các dữ liệu cũng đủ cho ta hậu thuẫn kết luận này. Để đo lường tiến độ của sự cải tổ, chúng tôi dựa vào các chỉ số được Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu đưa ra, điều chỉnh chúng để định cho mỗi nước một số điểm hàng năm từ 0 đến 100, tùy theo mức độ mà nước đó tiến gần đến kinh tế thị trường tự do. Chúng tôi gọi những nước vượt lên trên 40 điểm trong ba năm đầu của thời kỳ quá độ là “những nước cải tổ triệt để [radical reformers].” Chín quốc gia hội đủ tiêu chuẩn này: Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Estonia, Ba Lan, Nga, và Slovakia. Chúng tôi gọi những nước có điểm từ 25 đến 40 là những nước “cải tổ tuần tự [gradual reformers],” và những nước chưa vươn tới 25 điểm là “những nước cải tổ chậm [slow reformers].”

Việc so sánh thành tích kinh tế của ba nhóm nước này cho thấy rằng những cải tổ nhanh chóng hơn và triệt để hơn sẽ giảm thiểu, chứ không tăng thêm khó khăn kinh tế. Công bằng mà nói, khi bắt đầu quá trình chuyển đổi, các nước thuộc nhóm cải tổ triệt để đã chứng kiến sự suy giảm sản lượng trầm trọng hơn một chút so với các nước thuộc nhóm cải tổ tuần tự. Nhưng sau ba năm, những nước cải tổ triệt để đã xốc tới phía trước, vượt xa các nước cải tổ tuần tự. Trong khi đó, những nước cải tổ chậm gặp nhiều khó khăn nhất và ngày nay tiếp tục tụt hậu so với hai nhóm kia.

Cuối cùng những nước cải tổ tuần tự đã bắt kịp những nước cải tổ triệt để, nhưng việc này chỉ xảy ra sau nhiều năm chịu thiệt thòi vì phải trả giá đắt cho hiệu quả thấp [underperformance]. So với những nước hăng hái đi theo thị trường tự do, những nước cải tổ tuần tự mất nhiều thời gian hơn để lấy lại mức tiêu thụ hộ gia đình đã có trước đó và để ổn định giá cả lạm phát. Và trong mức độ người ta có thể phán đoán, dựa vào các dữ liệu thống kê hiện có, nạn thất nghiệp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến những nước chậm cải tổ như Armenia và Madedonia, nghiêm trọng hơn các nước khác cùng kinh qua thời kỳ quá độ. Nhìn chung, không có bằng chứng nào cho thấy đường lối cải tổ tuần tự có thể giảm bớt sự nhức nhối của quá trình chuyển đổi. Tất cả mọi dấu hiệu đều chỉ theo chiều ngược lại: chính những con thỏ, chứ không phải những con rùa, đã thắng cuộc đua. Nhiều con rùa cuối cùng cũng theo kịp, nhưng chỉ sau khi lặn lội một hành trình gian khổ hơn.

Ngoài sự khác biệt vì cải tổ nhanh hay chậm, một mô hình nổi bật khác phát sinh từ vị trí địa lý của một quốc gia ở trong khu vực. Những tiên đoán trước đây, rằng tất cả các nước đang chuyển đổi rồi sẽ giống các quốc gia phương Tây, đã không trở thành hiện thực. Quá trình hội tụ quả thật đã diễn ra, nhưng ở hướng khác: giữa các nước hậu cộng sản và các lân bang phi cộng sản. Trên nhiều phương diện, các quốc gia hậu cộng sản đã trở nên tương tự với những nước phi cộng sản gần biên giới của chúng nhất.

Những quốc gia Baltic xích gần với Phần Lan hơn, những nước trong vùng Caucasus xích gần với Iran và Thổ Nhĩ Kỳ hơn. Những quốc gia Trung Á trở nên gần giống với Afghanistan và Iran hơn. Những nước Trung Âu thì xích gần với Áo và Đức hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn được các nước láng giềng ở phía Đông níu kéo. Có vài ngoại lệ đối với mô hình này – đáng lưu ý nhất là Belarus, một nước đã trở nên độc tài hơn so với những nước hậu cộng sản láng giềng. Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, sau khi thoát khỏi gọng kềm của Moscow, các chư hầu Xô-viết cũ đã nhanh chóng bung ra, hội nhập vào môi trường khu vực của mình.

Các đặc tính của những nước láng giềng không cộng sản gần gũi nhất của mỗi quốc gia vào thời điểm 1990 có thể gợi ý mạnh mẽ về đường hướng phát triển sau này của quốc gia đó. Nếu xét đến khởi điểm của từng nước, chúng ta sẽ thấy rằng hễ các nước láng giềng phi cộng sản càng giàu có, càng dân chủ và càng tự do về mặt kinh tế, thì cuối cùng nước hậu cộng sản đó sẽ trở nên giàu có, dân chủ và tự do về mặt kinh tế hơn trước. Sự hội tụ này còn biểu hiện trong nhiều cung cách tế nhị hơn nữa – chẳng hạn, trong tỉ lệ sinh viên đăng ký vào đại học, trong mức tiêu thụ rượu cồn, và thậm chí trong tuổi thọ trung bình. Đôi khi, các nước láng giềng còn ảnh hưởng trực tiếp lên viễn ảnh phát triển của những nước hậu cộng sản này, như trường hợp quân chiến đấu Hồi giáo từ bên kia biên giới Afghanistan tấn công vào Tajikistan hay khi các công ty Đức thành lập các nhà máy sản xuất tại Cộng hòa Séc. Nhưng một động lực quan trọng hơn thúc đẩy tính đồng qui này chắc hẳn là những đặc tính văn hóa cơ bản đã có trước chế độ cộng sản và các biên giới quốc gia hiện nay.

NHỮNG KỲ VỌNG TO LỚN

Mười năm về trước, chúng tôi đã lập luận trong tạp chí này rằng Nga đã trở thành “một quốc gia bình thường,” với các khuyết tật chính trị và kinh tế tương tự khuyết tật của những quốc gia cùng trình độ phát triển. Chúng tôi dự đoán rằng tăng trưởng kinh tế của Nga sẽ tiếp diễn, đồng thời hiện đại hóa xã hội theo bước phát triển đó. Tiên đoán này đã trở thành hiện thực: GDP tính theo đầu người của Nga đã tăng thêm 39 phần trăm kể từ năm 2004, và sự thâm nhập Internet tại Nga đã tăng lên 4 lần, qua mặt Hy Lạp.

Quay sang chính trị, chúng tôi phác họa hai kịch bản có thể xảy ra. Kịch bản thứ nhất nêu lên “sự cạnh tranh ngày một gia tăng giữa các đảng phái dân chủ và sự xuất hiện của một xã hội dân sự ngày một vững mạnh hơn.” Kịch bản thứ hai tiên đoán một “sự tuột dốc hướng tới một chế độ độc tài được quản lý bởi các cán bộ nhà nghề trong ngành công an dưới chiêu bài của các thủ tục dân chủ hình thức.” Tiên đoán của chúng tôi cho rằng Nga sẽ vạch ra một con đường nằm giữa hai thái cực này – một tiên đoán hóa ra là quá lạc quan, xa vời thực tế. Cuối cùng, Tổng thống Nga đã chọn phương án thứ hai.

Việc Putin chọn con đường độc tài rõ ràng làm cho Nga trở thành nguy hiểm hơn. Tuy nhiên, cho đến nay, việc này vẫn chưa làm cho Nga trở nên bất bình thường về mặt chính trị. Thật vậy, trên một biểu đồ đối chiếu chỉ số Chính thể [Polity scores] của nhiều quốc gia khác nhau với chính lợi tức của chúng, Nga vẫn chỉ chệch hướng một chút so với mô hình tổng quát. Đối với một nước có lợi tức quốc gia như Nga, chỉ số Chính thể dự kiến vào năm 2013 là 76 trên thang điểm 100. Chỉ số thực của Nga là 70, ngang hàng với Sri Lanka và Venezuela.

Nếu Nga thậm chí trở nên giàu có hơn nữa mà không chịu tự do hóa chính trị, nó mới thực sự trở thành bất bình thường. Chỉ có ba nhóm nước giàu hơn Nga hiện nay là các nước dân chủ phát triển, các nước độc tài dầu lửa (hầu hết nằm trong vùng Vịnh Ba Tư), và các quốc gia đô thị (city-states) như Singapore và Macao. Rõ ràng là Nga không thể trở thành một quốc gia đô thị, và nó không có đủ tài nguyên thiên nhiên để trở thành một nước độc tài kiểu Ả-rập. (Lợi tức từ dầu khí hàng năm của Nga là 3.000 USD mỗi đầu người, so với 34.000 USD đối với Kuwait.) Vì thế Nga hiển nhiên phải chọn giữa trải qua bế tắc kinh tế và theo đuổi phát triển kinh tế song song với dân chủ hóa mạnh mẽ hơn trước. Hiện nay, Điện Kremlin có vẻ quyết tâm đi theo lựa chọn thứ nhất, nhưng những lựa chọn của nó có thể thay đổi theo thời gian.

Tuy vậy, chủ nghĩa độc tài ngày càng gia tăng của Nga chắc chắn không làm cho thế giới sao lãng những tiến bộ ngoạn mục của khu vực hậu cộng sản này nói chung. Hai mươi lăm năm về trước, những nước thuộc về khối Đông tiêu biểu cho một trong hai nền văn minh loại trừ lẫn nhau trên thế giới [an alternative civilization]. Vào lúc đó mà tưởng tượng chúng nhanh chóng hòa nhập vào dòng chính toàn cầu [the global mainstream], phải cần đến một sự bạo gan nào đó. Thời kỳ quá độ đã gây ra không ít thất vọng. Nhưng nhìn chung, những thay đổi từ năm 1989 đến nay là một thành công nổi bật.

Đã đến lúc phải xét lại cái cảm thức sai lầm về giai đoạn này. Những cải tổ thị trường, những nỗ lực xây dựng dân chủ, những cuộc tranh đấu chống tham nhũng đã không thất bại, mặc dù chúng vẫn chưa hoàn tất. Luận điệu cho rằng một đường lối cải tổ kinh tế tuần tự sẽ có hiệu quả hơn và ít gây đau đớn hơn đã bị các bằng chứng dữ liệu bác bỏ. Thời kỳ quá độ hậu cộng sản không hề cho thấy sự bất cập của chủ nghĩa tư bản tự do hay sự rối loạn chức năng của thể chế dân chủ. Nói đúng hơn, nó chứng minh tính ưu việt và lời hứa hẹn trường tồn của cả hai.

______

ANDREI SHLEIFER là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Harvard. DANIEL TREISMAN là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Calfornia, Los Angeles, và là tác giả cuốn The Return: Russia’s Journey From Gorbachev to Medvedev [Trở về thế giới bình thường: Hành trình của Nga từ Gorbachev đến Medvedev.]

Hình: Baku, thủ đô Azerbaijan ngày nay

Nguồn: Dịch từ bản tiếng Anh: “Normal Countries. The East 25 Years After Communism”. Foreign Affairs số tháng Mười Một/Mười Hai 2014.

Bản tiếng Việt @ 2014 Trần Ngọc Cư & pro&contra

Nguyễn Hữu Vinh – Một cuộc tọa đàm công phu và… quyết liệt

Posted on

JB Nguyễn Hữu Vinh
Ngày 26/11/2014, tại Nhà thờ Thái Hà đã diễn ra một cuộc Tọa đàm với chủ đề: Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ nhân quyền. Cuộc Tọa đàm do Diễn Đàn Xã hội Dân Sự và Nhóm Công tác UPR Việt Nam tổ chức.
Lẽ ra, sẽ chẳng có gì quá lớn lao và nghiêm trọng khi có một cuộc Tọa đàm như vậy. Bởi số lượng người tham gia không lớn lắm và nội dung cũng không có gì quá ghê gớm, ảnh hưởng nghiêm trọng, tức thời đến đời sống xã hội ngay lập tức hoặc có nội dung chống đối, phá phách.

Sở dĩ cuộc Tọa đàm đã trở thành nghiêm trọng, thu hút sự chú ý của dư luận, tập trung đông đảo người theo dõi và diễn ra thành công ngoài sự mong đợi của nhiều người, là do nó đã được lực lượng Công an, an ninh tốn thời gian, công sức và tiền bạc của người dân để nâng cuộc Tọa đàm lên một tầm mức quan trọng.

Cuộc viếng thăm không hẹn trước và những người lạ trước ngõ

Tối 25/11, gia đình Điếu Cày tổ chức liên hoan, tri ân anh chị em miền Bắc đã sát cánh cùng gia đình trong quá trình đấu tranh cho Điếu Cày được ra khỏi nhà tù Cộng sản. Sau khi đi dự về, tôi được người nhà cho biết: Có Cảnh sát khu vực đến tìm gặp. Tôi đi vắng, hỏi có việc gì thì chỉ là “muốn gặp trao đổi’. Mãi về sau mới nói là mai anh có đi dự họp về nhân quyền có Đại sứ các nước tham dự hay không?

Buổi sáng, hàng xóm hỏi: Hôm nay có sự kiện gì mà có mấy con chim lợn lại đứng trước ngõ xóm như vậy? Tôi không lạ gì hiện tượng cứ mỗi lần có sự việc gì như biểu tình chống Trung Quốc hoặc phiên tòa xử người yêu nước, thì đầu ngõ cứ xuất hiện những nhân vật đáng ngờ, nhiều khi qua đêm. Bà con xung quanh ngõ và trong xóm không lạ gì kiểu đó. Thậm chí khi một số đứng ám vào hàng rào, bờ tường… người dân ra đuổi, đám này còn xưng xưng: Ông, bà lên Công an mà hỏi, bọn tôi có việc thật chứ không phải ăn cắp. Người dân xua quầy quậy: “Tôi không việc gì phải đi hỏi đâu cả, cứ đứng đây lấm la lấm lét là không được, người đàng hoàng không ai làm thế cả. Đứng ra nơi khác, không được đứng ở chỗ nhà tôi, giờ trộm cắp như rươi”.

Tôi dắt xe hết khúc quẹo ra ngõ, mấy người lạ mặt đã lên xe sẵn (hẳn nhiên là tôi biết đã có tên anten báo cho họ) và bám theo. Bốn chiếc xe máy chở mấy người cứ bám sát tôi cách xa không đến chục mét.

Về chuyện theo dõi, bám theo, tôi không rõ họ làm vậy để làm gì? Chẳng lẽ tiền thuế của dân lại đi phung phí vào những việc vô bổ như vậy mà không ai xót sao? Những việc tôi làm, những người tôi gặp, những nơi tôi đi là công khai, đàng hoàng và hoàn toàn không vi phạm pháp luật. Vậy thì việc rình rập, theo dõi, bám theo… nhằm mục đích gì? Chuyện về việc theo dõi, bám đuôi, rình rập… chắc sẽ phải kể trong một dịp khác. Ở đây chỉ nói về những gì xảy ra ngày hôm nay, không chỉ có tôi, Ts Nguyễn Quang A, một diễn giả trong cuộc tọa đàm cũng đã bị vây ngay từ khi ra khỏi nhà riêng lúc 5h sáng.

Đường Hà Nội buổi sáng đông đúc nhộn nhịp, tôi chạy trước, bốn người bám sát và tôi dẫn họ đi đến nơi cần đến sáng nay: Nhà thờ Thái Hà, nơi tôi được mời đến dự Tọa đàm ” Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ nhân quyền”.

Quyết liệt ngăn chặn

Đến nhà thờ. Điều đầu tiên đập vào mắt, là chiếc xe Công an Phường đã đứng ngay trước cổng. Không như mọi hôm, hôm nay hàng quán xung quanh đường vào nhà thờ bị dẹp sạch, chỉ để lại vài quán nước có ghế con cho những người lạ mới đến ngồi. Họ là những người như bốn người đã bám theo tôi từ nhà đến đây. Có thể nói, nếu ai chưa chứng kiến tận mắt, sẽ không nhờ nhà cầm quyền đã huy động một lượng An ninh đông đảo như vậy để “hóa trang” cho những mục đích của mình. Trước cửa nhà thờ Thái Hà khi đó như một cái chợ.

Trước cửa Nhà Thờ Thái Hà, lực lượng An ninh hùng hậu như họp chợ.

Không chỉ thế, trên nóc của nhà Tu Viện Thái Hà mà nhà cầm quyền đã “mượn” làm bệnh viện nhưng không trả, một số các chiến sĩ đang dùng các phương tiện quay phim, ghi hình, chụp ảnh từ xa. Tình cảnh cứ như một cuộc chiến.

Trong sân nhà thờ, một số giáo dân tập trung ở sân với tinh thần chờ đợi tiếp khách. Nghe nói tối qua, khi đã muộn, công an, dân phòng còn vào để “kiểm tra hộ khẩu” và giáo dân đã phải kéo chuông báo động.

Lần lượt những người được mời cũng tập trung đầy đủ và lên Hội trường, nơi sẽ tổ chức buổi Tọa đàm hôm nay. Đó là các hội đoàn dân sự được mời tham dự buổi Tọa đàm hôm nay. Các nhân viên tòa Đại sứ các nước Anh, Mỹ, Ireland, Đức… và Cộng Đồng Châu Âu. lần lượt đến nơi, mặc dù một số vị đi xe hơi bị chặn ngay từ đầu ngõ phải đi bộ vào.

Tôi bước vào Hội trường thì nhận được tin từ Ts Nguyễn Quang A, ông đang phải đi bộ đến Thái Hà, ông đang ở quán Cafe trên đường Lý Nam Đế và được vây dày đặc bởi lực lượng an ninh theo ông từ cửa. Một số giáo dân nghe tin vậy xung phong đi đón ông. Nhưng, khi họ đến thì ông đã tiếp tục cuộc hành trình bằng đôi chân của mình về phía Thái Hà nên không gặp được.

Vượt một quãng đường hơn 15km với một người có tuổi là một thử thách lớn, nhưng khi ông đến ô Chợ Dừa, thì toán An ninh đã chặn ông lại không cho đi tiếp. Thông tin được báo một số giáo dân báo về và họ cùng với một số anh em lên đường ứng cứu. Cho đến khi ông có mặt ở 180, Nguyễn Lương Bằng thì hàng rào an ninh, công an, dân phòng khép chặt ông lại.

Nhận được tin đó, một số nhân viên sứ quán Mỹ, Anh, Ireland… đã đứng bật dậy, tay cầm máy ảnh và bước ra khỏi Hội trường. Họ bước ra với vẻ mặt bất mãn ghê gớm. Và họ đi ra để giải vây cho Ts Nguyễn Quang A. Riêng tôi, khi nhìn ba người phụ nữ nước ngoài, với những bước chân mạnh mẽ, kiên quyết đi giải vây cho một người Việt Nam, đang bị chính người Việt Nam vây hãm bất chấp pháp luật trên đất nước Việt Nam thì cảm giác đau xót, xấu hổ và nhục nhã không thể nào tả nổi bằng lời.

Những người bạn đã đến kịp thời khi đám đông đã xô đẩy và vây chặt Ts Nguyễn Quang A. Ông đã được giải thoát và đi vào Hội trường trong tiếng vỗ tay của mọi người.

Nhân viên các sứ quán Mỹ, Anh, Australia đi đón Ts Nguyễn Quang A.

Có lẽ, với những tiếng vỗ tay, những ánh mắt và hành động của những nhân viên Sứ quán các nước hôm nay, thì có thể nói rằng: Không ai có đủ khả năng làm nhục quốc thể, hạ nhục đất nước Việt Nam và kéo thấp vị thế của đất nước trước con mắt người nước ngoài như các cán bộ, nhân viên an ninh, công an hôm nay.

Tọa đàm

Đúng giờ, buổi Tọa đàm vẫn diễn ra, dù cả khi Ts Nguyễn Quang A đang trên đường đi và người ta đã tiên liệu rằng ông có thể không đến được. Điều mà những người ngăn chặn đã không tính đến ở đây, là tinh thần vì Công lý, Sự thật và Chính nghĩa mới là yếu tố chính của buổi Tọa đàm. Những ý nghĩa đó không hoàn toàn phụ thuộc ai là diễn giả.

Nội dung buổi Tọa đàm đã bám sát các vấn đề mà chủ đề cuộc Tọa đàm đã đề cập: ” Cơ chế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ Người bảo vệ nhân quyền”. Nhiều định nghĩa được giải thích, nhiều câu hỏi được giải đáp, nhiều văn bản, nghị quyết và Tuyên ngôn nhân quyền dã được đề cập để nêu rõ và làm nổi bật những điều cần thiết cho mọi công dân được hiểu biết về vấn đề bảo vệ người bảo vệ nhân quyền trong mọi điều kiện xã hội, nhất là xã hội Việt Nam.

Đặc biệt, Tọa đàm còn nêu rõ các khuyến nghị của Cộng đồng Quốc tế với VN trong kỳ kiểm điểm định kỳ phổ quát mà Việt Nam đã chấp nhận là những gì…


Nhiều người, dù đã có nhiều năm quan tâm, tham gia các hoạt động bảo vệ Quyền Con người. Nhưng có lẽ đến Tọa đàm này họ mới hiểu rõ hơn về những khái niệm căn bản, những điều khoản luật pháp cũng như các định chế quốc tế cho vấn đề này. Đặc biệt là những thủ đoạn, những lời lẽ buộc tội, tuyên truyền dọa dẫm vô căn cứ của báo chí và cơ quan công quyền đối với những người bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam được giải thích rõ ràng đúng, sai và cách làm thế nào khi bị gán ghép những tội trạng đó…

Sau phần trình bày của diễn giả, là những câu hỏi, những cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề làm thế nào để bảo vệ Quyền Con người và bảo vệ người bảo vệ quyền con người. Các câu hỏi nêu những trường hợp cụ thể, các khả năng có thể xảy ra đối với những người đã và đang có các hoạt động bảo vệ quyền con người.

Tất cả những vấn đề được nêu ra, hết sức cần thiết cho bất cứ một người dân, một nhà nước và một xã hội nào muốn tiến bộ.

Ngăn chặn bằng được: Nghịch lý?

Cần phải khẳng định rằng: Quyền Con người là một quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng. Do vậy Tạo hóa đã sinh ra con người bình đẳng với nhau không phân biệt bất cứ xuất thân, thành phần, chủng tộc, màu da, tín ngưỡng… Vì thế, bất cứ một thể chế chính trị nào, muốn tồn tại đều phải có mục đích là phục vụ người dân mà trước hết bảo đảm cho người dân được những quyền căn bản nhất: Quyền Con người và sự bình đẳng của con người trong các quyền đó.

Chỉ có các chế độ phát xít, độc tài và diệt chủng hoặc phân biệt chủng tộc mới không quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ đển Quyền con người của công dân.

Khi mà một bộ phận trong một chế độ tự cho mình có đặc quyền, đặc lợi hơn những bộ phận khác trong xã hội, thì chúng không quan tâm đến Quyền con người của các bộ phận khác trong xã hội. Đó là chế độ độc tài.

Khi một thể chế chỉ coi dân tộc, giai cấp mình là đẳng cấp cao hơn các dân tộc, các giai cấp khác, không quan tâm đến sự bình đẳng giữa các dân tộc, thì đó là chế độ phát xít.

Việt Nam, một đất nước mà ngay từ 1945 đã khẳng định tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng trong Tuyên ngôn Độc lập[1]. Lại có một nhà nước “của dân, do dân và vì dân’ thì việc bảo vệ quyền con người và những người bảo vệ quyền con người lại càng phải được tôn trọng mới hợp lý.

Gần đây, Việt Nam vừa được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, vậy việc phố biến kiến thức về bảo vệ nhân quyền và bảo vệ những người bảo vệ nhân quyền, các định chế quốc tế và trong nước về vấn đề nhân quyền… lẽ ra là việc của nhà nước.

Vì thế, khi công an, an ninh Việt Nam ngăn chặn việc Tọa đàm hôm nay đã tạo ra những điều như là nghịch lý ?

Tuy nhiên, chúng ta đều biết một nguyên lý cơ bản: Chống lại ánh sáng, chỉ có bóng tối.

Khi anh chống lại sự thật, thì anh đang đứng về phía dối trá.

Khi anh chống lại xu thế của xã hội dân chủ, thì anh đang đứng về phía độc tài.

Khi anh chống lại quyền con người, thì anh đứng về phía bất nhân.

Và sự quyết liệt của nhà cầm quyền khi ngăn chặn cuộc Tọa đàm hữu ích và cần thiết này, đã chứng minh họ đang đứng ở đâu trong xã hội loài người.

Hà Nội, ngày 30/11/2014

J.B Nguyễn Hữu Vinh


[1] Tuyên ngôn Độc lập 1945 – Hồ Chí Minh – đọc như sau: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đằng”. Theo tôi có thể là sự nhầm lẫn khi đọc hoặc do trình độ về ngữ pháp. Bởi thực tế thì không phải “tất cả mọi người đều sinh ra” vì có rất nhiều người không được sinh ra.Tuy nhiên, từ trước đến nay, chưa có ai phân tích rõ điều này là lỗi chính tả, ngữ pháp hay câu nói. Nên vẫn tạm hiểu theo nghĩa “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Ở đây cũng tạm dùng theo nghĩa đó.

Con trai lớn tìm “bồ nhí” cho cha

Posted on

Dư luận Pháp trong những ngày gần đây tạm quên đời sống khó khăn, thất nghiệp gia tăng, Chánh phủ gần như bất lực giựt dậy nền kinh tế suy thoái trầm trọng từ mấy năm nay, nhờ báo chí vừa tung lên trương nhứt với cả hình ảnh chuyện tình tập mới của ông Tổng thống Hollande với nàng tài tử Julie Gayet .

Chuyện cũ nhưng nay mới vì được báo chí hâm nóng . Hình đôi giai nhân chụp được trong Điện Elysée, tuần báo Voici đưa lên trang nhứt.

Xưa nay, chuyện yêu đương gay cấn, nếu có thêm đánh ghen, lúc nào cũng hấp dẩn . Nếu không phải vậy thì làm sao cuốn sách «Cảm ơn lúc đó» của bà bồ cũ của Ông Hollande sẽ đem lại cho tác giả hơn 1 triệu euros? Đáng buồn thật trong lúc đó, Bà Fleur Pellerin, Tổng trưởng Văn Hóa của Chánh phủ Valls, lại không biết một tựa sách của nhà văn pháp, Ông Patrrick Modiano, được Giải Nobel 2014!

Tổng thống Phủ kinh ngạc vì tấm hình chụp được Ông François Hollande và người tình Julie Gayet ngồi sát bên nhau, vị trí không cách xa người chụp. Tức muôn nói người chụp đang đứng gần đó. Nhưng Phủ Tổng thống xác nhận vấn đề an ninh của Tổng thống được bảo đảm hoàn toàn. Ba tấm hình này chắc do một nhân viên ở đây chụp. Vậy Ông Tổng thống muốn mượn cớ để công khai hóa úp úp mở mở chuyện tình của ông? Trong lúc đó, Bà Julie Gayet lại loan báo, trên tuần báo Les Valeurs Actuelles của tuần này (Valeurs Actuelles là 1 tuần báo chánh trị kinh tề nghiêm chỉnh, không phải loại báo People) bà đã đính hôn với Ông François Hollande rồi.

Bà Bồ cũ, Valérie Trierweiler, nắm lấy ngay cơ hội tấn công: «Cách đây vài hôm, Ông François Hollande xác nhận với tôi là Julie Gayet không bao giờ vào Điện Elysée!».

Chuyện tình của Ông Tổng thống Hollande chắc chưa yên. Cây muồn lặng nhưng gió chẳng ngừng! Bà Bồ củ Valérie Trierweiler nhắm ai là mục tiêu chánh cần hạ thủ?

Bà Julie Gayet hiện nay là « Đệ Nhứt Phu Nhơn bán chánh thức »?

Đây là lần đầu tiên các bức hình chụp Ông Tổng thống Hollande bên người tình trẻ đẹp được phổ biến trên báo chí pháp tuần vừa qua . Riêng tạp chí Voici khẳng định tài tử trẻ đẹp Julie Gayet đã trở thành « Đệ Nhứt Phu nhơn bán chánh thức » của nước Đệ V Cộng Hòa Pháp .

Bìa tạp chí Voici

Tạp chí Voici, xuất bản tại Paris, ngày 21/11, đã đăng tải các bức ảnh chụp Ông Hollande, 60 tuổi, và Bà Gayet, 42 tuổi, bên nhau tại Điện Elysée . Bà Julie Gayet nhỏ hơn Ông François Hollande 18 tuổi được xem là Bồ Nhí không ? Hay phải chênh lệch nhau những 40/50 tuổi như các ông Vìệt nam nhà ta mới được gọi là bồ nhí?

Nhưng chuyện tuổi tác không quan trọng. Chuyện bồ nhau mới thật sự quan trọng. Tình yêu không hệ ở tuổi tác!

Các bức ảnh cho thấy dường như cặp tình nhân này thường ngồi bên nhau ở sân trong của Điện Elysée . Khi hình lên báo, nhiều người thắc mắc như vậy quyền riêng tư có bị xâm phạm không nếu không được cho phép .

Báo Voici viết: «Kể từ khi họ bắt đầu qua lại, chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy họ đi cùng nhau ” .

Hồi tháng 1/2014, tạp chí Closer đã đăng tải những bức ảnh tiết lộ mối quan hệ bí mật của cặp tình nhân này, trong khi Tổng thống Hollande vẫn đang sống công khai với bà bồ Valérie Trierweiler tại Điện Elysée.

Vả lại trước đó, Ông Hollande cũng gặp Bà Anne Hidalgo, hiện Thị trưởng Paris, trong lúc đang ăn ở với Bà Ségolène Royal có 4 con . Và trong lúc này, ông lại âm thầm gặp gở Bà Valérie Trierweiler và thời gian sau, công khai . Ông Tổng thống của nước Pháp lúc nào cũng ngon lành ! Ít nhứt về món tình ái liên tục và không bao giờ chịu cưới ai . Trái lại, ông muốn mọi người hãy cưới nhau. Cả những người cùng phái.

Theo Bà Marion Alombert, Chủ bút tạp chí Voici, « Bà Julie Gayet, diễn viên kiêm nhà sản xuất, thường xuyên tới Điện Elysée trong những tháng gần đây . Bà dành hầu hết buổi tối và các dịp cuối tuần để tới Điện Elysée sống với ông Hollande và bà cảm thấy ở đây từ nay giống như bà đang ở nhà mình vậy .

Nhân viên đã quen với việc gặp bà ấy hàng ngày » .

Nhà báo Alombert nói rỏ thêm rằng Bà Gayet có mặt tại Elysee là để ” hỗ trợ ông Hollande. Bà ấy đã gần như trở thành Đệ Nhứt Phu Nhân bán chánh thức của nước Pháp ” .

Trước đây, người ta ít khi bắt gặp Bà Gayet, mẹ của 2 con, xuất hiện bên cạnh Tổng thống Hollande kể từ chiến dịch tranh cử của ông vào năm 2011 .

Trong thời gian gần đây, một tạp chí khẳng định đã chụp được ảnh Bà Gayet lái xe vào điện Elysee bằng cổng sau . Nhưng các nguồn tin trước đó vào mùa hè năm nay nói rằng mối quan hệ giữa họ đã chấm dứt .

Kể từ khi chia tay với bà Trierweiler, ông Hollande như muốn xếp lại chuyện đời tư của ông . Và ông, một lần, tuyên bố sẽ « không có người đàn bà nào ở trong Elysée » .

Tuy nhiên, Tổng thống Hollande đã bày tỏ ” sự tức giận tột độ ” khi đời tư của ông bị ” vi phạm ” trong cuốn hồi ký ” Cảm ơn lúc ấy ” của bà bồ củ Valérie Trierweiler, xuất bản tại Paris, được dịch ra tiếng Anh . Bà Alombert phủ nhận rằng các bức ảnh cặp tình nhân Hollande và Gayet, được chụp hồi tháng 10, là Elysée có ý công khai hóa mối quan hệ của hai người ấy nhằm đối phó với dư luận của báo chí anh ngữ theo ảnh hưởng của Bà Valérie Trierweiler.

Trong cuốn sách, bà Valérie Trierweiler đã phơi bày Ông Tổng thống Hollande là “một kẻ nói dối lạnh lùng, không chung thủy và chế nhạo người nghèo”.

Người ta hỏi liệu tạp chí Voici sẽ có thể bị truy tố vi phạm đời tư hay không ? Bà Alombert khẳng định rằng « các bức ảnh là vấn đề quan tâm của dân chúng . Vì suốt 9 tháng qua, mọi người đều đặt một câu hỏi hai người đó có còn ở bên nhau hay không. Tôi nghĩ đăng tải những bức hình ấy là đã trả lời rỏ ràng được điều đó » .

Hoạn Thư phục hận

Bà Valérie Trierweiler không thể quên dễ dàng chuyện bị Ông Hollande cho « de » với 1 bản tin 18 chữ gởi AFP phổ biến. Khi bà quị, đưa vào nhà thương, trong ba ngày đầu, ông không một lời hỏi thăm . Đối đãi với nhau như vậy quả thật là cạn tàu ráo máng chớ còn gì nữa.

Nhưng cái oán hận của bà không thấy do tình thương của bà bị phụ bạc mà tập trung ở chuyện bà «mất ghế Đệ Nhứt Phu Nhân » tuy chỉ là thứ « ghế rởm » bởi bà không phải là vợ Tổng thống . Điều này quả thật lại rõ hơn . Trên tờ Republica của Ý, trước vài ngày những bức hình cặp Hollande và Gayet được phổ biến, Bà Valérie Trierweiler vẫn nhắc lại đìều bà bị mất: «Ông Hollande quả quyết Bà Julie Gayet không bao giờ vào Đìện Elysée».

Nhơn dịp giới thiệu cuốn sách « Cảm ơn lúc ấy » của bà, bản ngoại ngữ ở ngoại quốc, bà vẫn không ngớt kể chuyện riêng tư về Ông Hollande .

Trả lời phỏng vấn của báo Républica, bà thả một trái bom 50 kg vào Điện Elysée :

«Các bạn muốn 1 scoop không? Cách đây vài hôm, ông ấy tới gặp tôi . Ông ấy ngồi đúng vào chiếc ghế dài này đây . Ông muốn nói với tôi là ông không khó chịu vì cuốn sách của tôi . Và ông quả quyết với tôi là Julie Gayet không bao giờ vào Elysée cả . Rõ ràng là ông nói dối vói chúng ta đến cùng».

Bà valérie Trierweiler nói thêm:

«Tất cả đàn ông phụ bạc đều nói dối . Nhưng với một Ông Tổng thống, có lẽ người ta tin tưởng có một cách cư xử khác hơn, có ý thức trách nhiệm lớn hơn . Khi ông ấy nhìn thẳng vào mắt tôi, ông thề trên đầu các con của ông là ông không có một mối quan hệ nào khác hơn. Tôi đã tin ông ấy».

Theo Bà Nadia Le Brun, nhà báo thân cận và viết tiểu sử của Bà Valérie Trierweiler, phân tích hiện tình thì Bà Valérie Trierweiler đang đặt trọng tâm vào tình địch Julie Gayet hơn là Ông Hollande.

Cuốn hồi ký chỉ mới mở đường mà con đường bà đi sẽ còn dài lắm. Hiện nay, không có gì có thể làm lệch mục tiêu của bà .
Bà valérie Trierweiler muốn trả thù cho tới chết. Bà muốn giết chết sự nghiệp chánh trị của Ông Hollande. Bà chỉ hành động theo hướng đó mà thôi. Sau khi bị Ông Hollande cho về vườn, Bà Valérie Trierweiler tuyên bố trong uất hận:

 ”Tôi sẽ trả thù và ông sẽ rơi xuống tận cùng vực thẩm như tôi vậy » .

Nhưng sau đó, vẫn theo Bà Nadia Le Brun, từ nay Ông Hollande không còn là mục tiêu duy nhứt của bà Bồ cũ nữa. Bà Valérie Trierweiler bắt đầu chĩa mũi dùi vào Bà Julie Gayet . Bà sẽ tìm cách trút hết sự căm hờn, ganh tỵ nhắm thẳng tình địch . Qua báo chí, bà rót từng câu, từng chữ chọn lọc, cân nhắc thât kỹ. Bà Valérie Trierweiler không hạ thủ đối tượng theo cách thường tình của phụ nữ . Bà lập lại chuyện «Ông Hollande mới vừa gởi cho bà một SMS . Ông quả quyết Julie Gayet không bao giờ vào Elysée».

Nay là dịp báo của phụ nữ tranh nhau khai thác chuyện tình của Ông Tổng thống nước Pháp . Cả từ lúc đầuu, cách nay hơn một năm, Bà Julie Gayet kể lại là bà gặp được một người trong chánh giới, có tuổi, rất khác với những người bạn của bà trước đây, cũng trong chánh giới . Tờ báo xác nhận chính cậu Thomas, con trai lớn của Ông Hollande, làm mai cho ông nữ tài tử Julie Gayet mà cậu và mẹ của cậu, Bà Ségolène Royal, quen biết. Thomas tìm cơ hội đẩy cha mình « gắn bó » với nữ diển viên Julie Gayet trong những buổi làm phim, và sau đó, năm 2012, gặp lại nhân chiến dịch vận động bấu cử . Bà Julie Gayet yểm trợ ứng cử viên Hollande . Mối tình của hai người khởi manh nha từ những cuộc thảo luận về phim ảnh để trở thành đôi tình nhân như ngày hôm nay.

Bà Ségolène Royal và con trai biết khi Ông Hollande gặp Bà Julie Gayet sẽ buông ngay Bà Valérie Trierweiler. Thông thường khi người ta được trăng thì phải quên đèn . Dưới ánh sáng dìu dặt của mặt trăng mà còn giữ ngọn đèn dầu leo lét để làm gì nữa? Phải thực tế, phải biết đổi mới chớ! Hơn nữa Ông Hollande còn là Ông Tổng thống mà không biết chánh trị sao?

Nhờ đó mà thấy cậu Thomas đã thật sự trưởng thành . Biết tìm bồ nhí cho cha. Thật đẹp!

Nhưng có ai nghĩ trong chuyện này lại không có âm mưu uyên thâm của Bà Ségolène Royal gìàn dựng đưa một phụ nữ trẻ đẹp thay thế Bà Valérie Trierweiler, người vì ghen ngược, đã hất cẳng bà rớt ghế Dân biểu, đưa bà vào tình trạng gần như tiêu tan sự nghiệp chánh trị. Quyết tâm chết sống của Bà Valérie Trierweiler đã tìm mọi cách làm «embargo» không cho bà Ségolène Royal có cơ hội gặp ông Hollande.

Vậy mới biết võ quít dày có móng tay nhọn . Và vũ khí muôn đời của các bà vẫn là móng tay nhọn!

Có ông nào mình đồng da sắt nên không ngán hay không?

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt