‘Trung Quốc chỉ là voi ăn cỏ’

Posted on Updated on

Tàu sân bay Liêu Ninh là niềm tự hào của hải quân Trung Quốc

“Không ai phải sợ chúng tôi cả vì Trung Quốc chỉ là người khổng lồ ăn cỏ.”

Đó là câu trả lời của ông Từ Quang Dư, một viên tướng về hưu của Trung Quốc, trước câu hỏi về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của nước này.

Tướng Từ năm nay đã 80 tuổi và đã phục vụ trong Giải phóng Quân từ năm 16 tuổi.

Các nhà báo nước ngoài không được cho vào các doanh trại quân đội nên chúng tôi gặp nhau ở một quán cà phê ở Bắc Kinh để nói chuyện về chuyến công du châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

‘Voi không ăn thỏ’

“Dĩ nhiên voi thì không thể biến thành thỏ được nữa như cái cách thỏ biến thành voi,” ông nói, “Nhưng voi thì không ăn thỏ. Nguy cơ duy nhất là nó có thể giẫm lên thỏ mà thôi.”

Đây là thông điệp của Tướng Từ đối với Philippines trong bối cảnh Bắc Kinh và Manila có tranh chấp với một quần đảo trên Biển Đông.

Nhưng đối với ông Từ, điều đáng ngại hơn là tranh chấp với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông.

Theo quan điểm của ông, Nhật nên xem xét thực tế về dân số hai nước.

“Trung Quốc có dân đông gấp 10 lần Nhật Bản nên Nhật Bản cần ghĩ rằng Trung Quốc mạnh hơn 10 lần,” ông nói.

Bắc Kinh không nằm trong nghị trình chuyến công du này của ông Obama.

Tuy nhiên trong lúc ông bàn bạc về các chủ đề kinh tế và an ninh với các đồng minh ở Nhật Bản, Nam Hàn và Philippines,Trung Quốc sẽ giống như con voi trong phòng đang dõi theo chặt chẽ mọi diễn biến.

Chính quyền của Tổng thống Obama đã cam kết cái mà họ gọi là ‘xoay trục sang châu Á’ mà trong nghĩa an ninh có nghĩa là thay đổi cán cân lực lượng của Mỹ.

Thay vì phân bổ lực lượng cân bằng 50:50 giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương thì mục tiêu sẽ là 40:60 nghiêng về phía châu Á.

Tướng Từ chỉ trích việc Mỹ tăng cường quân ở châu Á

“Họ có cảm thấy thích thú không nếu chúng tôi đưa 60% lực lượng của mình và đi qua đi lại trước cửa nhà họ?” ông Từ đặt vấn đề.

“Chúng tôi muốn có sự tương xứng vì chúng tôi không muốn bị ức hiếp. Chúng tôi sẽ cần thêm 30 năm nữa.”

Điều trớ trêu là kể từ khi Chủ tịch Mao Trạch Đông gặp Tổng thống Richard Nixon hồi năm 1972, sự thống trị của quân đội Mỹ ở Á châu đã tạo điều kiện cho Trung Quốc trỗi dậy giúp nước này có được an ninh để trở nên thịnh vượng và mạnh mẽ.

Trung Quốc đã bừng tỉnh?

Đó là lúc trước. Còn giờ đây, với ngân sách quốc phòng ở mức hai con số và giọng điệu mạnh mẽ từ Chủ tịch Tập Cận Bình trở xuống, Trung Quốc đang cho thế giới thấy họ muốn thay đổi luật lệ và vẽ một bản đồ mới.

Ông Ôn nói ông muốn cháu nội ông nhìn thấy đất nước hùng cường

Nói như Tướng Từ: “Cũng như Napoleon đã nói: khi Trung Quốc bừng tỉnh họ sẽ làm rung chuyển thế giới. Và người Mỹ không thể nào chấp nhận được. Chúng tôi đã bừng tỉnh và chúng tôi sẽ khôi phục sức mạnh của mình.”

Một ông lão 80 khác đi ủng lội nước và đội mũ lưỡi trai ngâm mình dưới nước biển và đẩy một mô hình hàng không mẫu hạm dài 12 mét ra Biển Hoa Đông.

“Tôi làm cái này cho cháu nội tôi,” ông Ôn Dư Chuẩn nói trong khi ông đang kéo một mô hình máy bay chiến đấu lên trên boong mô hình hàng không mẫu hạm.

‘Thanh Đảo là căn cứ của hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc nhưng chúng tôi lại không thể đến gần để xem được,” ông nói.

Ở tuổi 80, ông Ôn nói ông không còn sống lâu bao nhiêu để thấy Trung Quốc trở thành một cường quốc trên biển, nhưng ông hy vọng rằng cháu nội ông sẽ thấy được.

“Một chiếc hàng không mẫu hạm thì chưa đủ. Mười chiếc cũng chưa đủ. Hãy xem chuyện gì đang xảy ra: Nhật Bản đang bắt nạt Trung Quốc. Họ xem Trung Quốc không đủ mạnh trong khi chúng ta thì không thể làm gì,” ông nói.

Ông Ôn, cũng như ông Từ, sẽ chăm chú lắng nghe ông Obama nói gì ở châu Á để xem có dấu hiệu nào cho thấy Mỹ muốn khích lệ tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng với Trung Quốc.

Cùng với chính phủ và nhiều người dân Trung Quốc khác, những ông lão này đang mơ đến một ngày Trung Quốc sẽ đủ sức mạnh để đảm bảo những đòi hỏi chủ quyền của mình trên biển

@bbc

Obama coi nhẹ quan hệ với VN?

Posted on

 

Tổng thống Barack Obama muốn khẳng định Mỹ coi trọng châu Á

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã bắt đầu chuyến thăm châu Á và bốn điểm dừng chân của ông trong chuyến đi kéo dài tám ngày này là Nhật Bản, Nam Hàn, Malaysia và Philippines.

Dù Trung Quốc không nằm trong lịch trình của chuyến đi, quốc gia này vẫn bao trùm lên toàn bộ chuyến công du của ông Obama.

Với Việt Nam, việc ông Obama vẫn chưa quyết định tới thăm dù đây là lần thứ sáu ông tới châu Á ít hay nhiều cho thấy giữa Washington và Hà Nội vẫn còn có nhiều bất đồng.

Trấn an đồng minh

Một trong những mục đích quan trọng của chuyến đi là để tái khẳng định chính sách ‘xoay trục’ sang châu Á của Mỹ mà ông Obama đã khởi xướng cách đây ba năm.

Trong thời gian vừa qua, vì những khủng hoảng tại Mỹ cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, chính quyền của ông không có nhiều thời gian, tâm trí và điều kiện để thực hiện chính sách này.

Điều đó đã làm một số nước trong vùng – đặc biệt những quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc và lo lắng về những động thái mạnh bạo của Bắc Kinh gần đây – đặt nghi vấn về cam kết gia tăng hiện diện của Mỹ trong khu vực.

Việc Nga dùng sức mạnh sáp nhập Crimea và chuyện Washington không thể ngăn cản Moscow thôn tính lãnh thổ của Ukraine cũng làm một số nước trong vùng quan ngại và đặt câu hỏi liệu Mỹ có can thiệp nếu Bắc Kinh có hành động giống như Nga đã làm với Ukraine.

Chuyến công du này có thể được coi là dịp để ông Obama giải tỏa, xua tan những nghi ngại ấy.

Cụ thể, qua chuyến đi cũng như các hoạt động của mình tại bốn nước đó, ông Obama muốn nhắn gửi rằng Mỹ rất coi trọng sự hợp tác với các nước châu Á và luôn tìm cách gia tăng vai trò, ảnh hưởng của mình trong khu vực.

Đây là lần thứ tư ông Obama tới Nam Hàn và lần thứ ba ông sang thăm Nhật. Chuyến đi Nhật của ông là một chuyến thăm cấp nhà nước và đây là lần đầu tiên kể từ khi ông Bill Clinton sang Tokyo vào năm 1996, Tổng thống Mỹ có một chuyến thăm như vậy tại Nhật.

Trong thời gian ở Nhật, có thể ông Obama sẽ công khai lên tiếng ủng hộ việc chính phủ nước này quyết định thay đổi chính sách quốc phòng.

Ông Obama cũng là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Malaysia kể từ khi ông Lyndon Johnson đến thăm nước này vào năm 1966.

Đến Philippines, ông sẽ bàn thảo với giới lãnh đạo tại Manila về một thỏa thuận hợp tác quân sự mới, trong đó cho phép Mỹ được mở lại các căn cứ quân sự (bị đóng vào năm 1992) tại quốc gia này.

Nhưng an ninh không phải là lý do duy nhất khiến chính quyền ông Obama đổi hướng sang châu Á. Kinh tế cũng đóng một vai trò quan trọng trong chính sách xoay trục này. Hiện tại, có đến khoảng 60% hàng hóa của Mỹ được xuất khẩu sang các nước châu Á.

Đó cũng lý do tại sao, ông Obama quyết tâm theo đuổi Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình dương (TPP) và một mục đích quan trọng khác của chuyến đi này là nhằm loại bỏ những khác biệt, bất đồng còn lại – đặc biệt giữa Mỹ và Nhật – để tiến tới việc ký kết TPP.

Nhật Bản và Trung Quốc căng thẳng vì tranh chấp biển đảo

Nhật Bản, Nam Hàn và Malaysia là ba trong 12 quốc gia tham gia vào TPP.

Một yếu tố khác, dù không phải là chính yếu, nhưng không kém phần quan trọng trong các chuyến đi nước ngoài của ông Obama nói chung và chuyến thăm châu Á lần này nói riêng là cổ võ những giá trị mà Mỹ luôn coi trọng.

Chẳng hạn, trong thời gian ở Malaysia – một quốc gia đang trong quá trình dân chủ hóa – Tổng thống Obama sẽ tiếp xúc với sinh viên và chủ trì cuộc họp Sáng kiến Lãnh đạo trẻ Đông Nam Á do ông khởi xướng. Tại những cuộc gặp gỡ, nói chuyện đó chắc chắn ông sẽ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tự do, nhân quyền, dân chủ.

Đây là những giá trị căn bản mà nhiều nước trong khu vực – trong đó có Trung Quốc – vẫn không coi trọng.

Trung Quốc lo ngại

Với những mục đích như vậy, Trung Quốc sẽ theo dõi sít sao từng cử chỉ, ngôn từ, hành động của Tổng thống Obama cũng như lãnh đạo của bốn nước chủ nhà trong chuyến thăm này.

Dù ông Obama muốn né tránh, không dám nói thẳng vì sợ Bắc Kinh bất bình và làm căng thẳng quan hệ giữa hai nước, lý do sâu xa của chuyến đi của ông vẫn là nhằm canh chừng và khống chế Trung Quốc.

Mỹ muốn mở lại căn cứ quân sự tại Philippines phần lớn chỉ vì sự lớn mạnh của Trung Quốc và những động thái mạnh bạo của Bắc Kinh trong vấn đề tranh chấp biển đảo gần đây.

Ông Obama khởi xướng, theo đuổi TPP một phần cũng muốn cô lập Trung Quốc.

Việc ông nhiều lần tới thăm hai nước đồng minh của mình tại Đông Á – trong khi đến giờ chỉ mới tới Bắc Kinh một lần vào năm 2009 – cũng là một ví dụ nữa cho thấy Washington đang tìm cách giới hạn ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Việc ông nhiều lần tới thăm hai nước đồng minh của mình tại Đông Á – trong khi đến giờ chỉ mới tới Bắc Kinh một lần vào năm 2009 – cũng là một ví dụ nữa cho thấy Washington đang tìm cách giới hạn ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines và một số quốc gia khác trong khu vực muốn tăng cường quan hệ, hợp tác quân sự, kinh tế với Mỹ cũng vì lo ngại về các hành động khá hung hăng của Bắc Kinh trong thời gian qua.

Về phần mình, giới lãnh đạo Trung Quốc chắc chắn cảm thấy khó chịu – thậm chí tức giận –khi biết Mỹ muốn hạn chế, kìm kẹp họ và nhiều nước trong khu vực cũng nghiêng về Mỹ nhằm đối phó với họ.

Chẳng hạn, cũng giống như khi ông Obama hứa sẽ gia tăng sự hiện diện quân sự tại Úc khi ông tới đây cách đây gần ba năm, một thỏa thuận hợp tác quân sự giữa Washington và Manila chắc chắn làm Trung Quốc tức giận.

Việc nhiều nước tại châu Á tìm cách tăng cường quan hệ, hợp tác với Washington nhằm đối phó với Trung Quốc cũng cho thấy uy tín, vị thế và tầm ảnh hưởng của Mỹ tại đây vẫn còn mạnh và Bắc Kinh không nhận được nhiều sự tin tưởng, ủng hộ từ các quốc gia trong vùng.

Coi nhẹ Việt Nam?

Tổng thống Obama gặp Chủ tịch Trương Tấn Sang ở Nhà Trắng

Việc ông Obama tới Malaysia và Philippines nhưng không sang thăm Việt Nam – một quốc gia Đông Nam Á đang có tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc và có thể đóng một vai trò quan trọng trong chính sách ‘xoay trục’ của Mỹ – trong chuyến công du châu Á này chứng tỏ giữa Hà Nội và Washington vẫn còn có nhiều khác biệt.

Và một trong những bất đồng ấy – nếu không muốn nói trở ngại lớn nhất cho quan hệ giữa hai nước – là hồ sơ nhân quyền của Việt Nam.

Được biết, trong chuyến thăm Mỹ vào tháng Bảy năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã mời Tổng thống Obama sang thăm Việt Nam và ông Obama đã hứa sẽ ‘cố gắng’ đến Việt Nam trước khi kết thúc nhiệm kỳ (vào năm 2016).

Chưa biết ông Obama có ‘cố gắng’ thăm Việt Nam trước khi rời chức vụ hay không chuyện ông vẫn chưa sang thăm Việt Nam cho thấy chính quyền của ông vẫn chưa coi trọng quan hệ với Hà Nội.

Và điều đó có thể gây nên những bất lợi cho Việt Nam cả về cả đối nội và đối ngoại.

Trong 10 thành viên của ASEAN, hiện chỉ có Brunei, Lào và Việt Nam là ba quốc gia ông Obama chưa tới thăm.

Trong 10 thành viên của ASEAN, hiện chỉ có Brunei, Lào và Việt Nam là ba quốc gia ông Obama chưa tới thăm.

Riêng Brunei đã được vào lịch trình của chuyến công du bốn nước Đông Nam Á (Indonesia, Brunei, Malaysia và Philippines) của ông Obama vào tháng 10 năm 2013 nhưng cuộc khủng hoảng về ngân sách tại Mỹ lúc đó đã ông buộc phải hủy bỏ chuyến đi.

Nếu Tổng thống Mỹ sang thăm Hà Nội lúc này chắc chắn mối quan hệ giữa hai nước được cải thiện rất nhiều về nhiều mặt.

Dù quan hệ Việt-Mỹ đã được cải thiện nhiều và được nâng thành ‘quan hệ đối tác toàn diện’, Mỹ vẫn chưa trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam.

Trong khi đó, Hà Nội đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia khác – trong đó có những nước xa xôi và ít hay chẳng có vai trò ‘chiến lược’ gì đối Việt Nam như Tây Ban Nha.

Nếu cuối cùng ông Obama có ‘cố gắng’ đến Việt Nam trước khi ông kết thúc nhiệm kỳ, một chuyến đi như vậy chẳng có tác động gì nhiều đến quan hệ tương lai giữa hai nước.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một cây bút bình luận đang sinh sống ở Anh quốc.

Thư từ nước Mỹ gởi bạn bè

Posted on

NSUT Kim Chi
 
Chúng tôi được lời mời tới Mỹ dự hội thảo về vấn đề tự do báo chí VN của hai vị dân biểu Hoa Kì là bà Loretta Sanchez và Joe Lojgren. Ban tổ chức gửi vé bay, đưa đón chúng tôi ở các sân bay và lo mọi chuyện ăn ở đi lại trong nước Mỹ.Vậy là các dư luận viên bắt đầu tấn công chúng tôi rằng : “ Bọn họ là những kẻ vì những đồng Dola mà bán rẻ Tổ Quốc…” Thấy những lời thóa mạ vô căn cứ đó của 

những người “trung thành” chỉ khiến tôi tức cười. Họ nguyền rủa , kết tội chúng tôi vì lòng họ yêu nước và đang ra sức bảo vệ đất nước thật ư? Họ nói rằng lịch sử VN sẽ phán xét chúng tôi những kẻ đi bêu xấu tổ quốc. Tôi thì nghĩ khác họ. Những kẻ nào bòn rút đất đai tiền của của dân để đem ra nước ngoài giấu vào các ngân hàng thì mới là kẻ có tội với dân. Những kẻ nào cậy đứng trên đỉnh cao quyền lực đã dùng bộ máy chuyên chính bịt mắt, bịt miệng và đàn áp thẳng tay những người lương thiện dám đấu tranh thì mới là kẻ có tội. Những kẻ chạy theo bám đít bọn tham nhũng và bưng bít sự thật để được chủ thưởng thì mới có tội với dân với nước.

Đây xin mọi người hãy xem bản tổng kết của nhà bào nào đó mà Oanh Bùi đã gửi cho tôi thì mọi người sẽ biết rõ thêm tình trạng VN.

Thấy chúng tôi dám nói, dám viết sự thật hiện trạng của VN trên các trang mạng nên các dân biểu quốc hội Mỹ đã mời chúng tôi tới Hoa Kì. Đoàn hiện chỉ có 5 người, năm người đã bị chặn lại ở các sân bay. Còn nếu nhà nước cử người đi đại diện cho VN thì bọn tôi chẳng bao giờ tới lượt. Những người đang biểu diễn lập trường chắc chắn sẽ được cử đi để “bảo vệ danh dự của đảng cộng sản VN và nhà nước”. Lúc đó các nhà lý luận sẽ viết sẵn cho họ những bài tham luận đầy tự hào rằng: “Việt Nam tuy còn khó khăn, nhưng đang phát triển và dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản”… Việt Nam “dân chủ” mới có những người như Đoàn Văn Vươn, Đặng Ngọc Viết phải đem cả mạng sống của mình ra giành lại đất đai… Việt Nam tự do nên các blogger và những người dám xuống đường đấu tranh chống Trung Quốc bành trướng đã bị đàn áp và lần lượt vào tù.

Họ làm trò gắp lửa bỏ tay người chẳng mấy ai tin. Chúng tôi dẫu biết sẽ rất nhiều hệ lụy trong ngày trở về, chúng tôi sẵn sàng đón nhận tất cả. Tù đày ư, tra tấn đánh đập ư? Chúng tôi sẵn sàng dấn thân cho một Việt Nam ngày mai được TỰ DO, DÂN CHỦ, GIÀU MẠNH, VĂN MINH, KHÔNG THÙ HẬN.

Nguyễn Thị Kim Chi

Những im lặng đáng khinh

Posted on

Cánh Cò
Báo chí Việt Nam không biết từ bao giờ đã có cụm từ “sự im lặng đáng sợ” khi mô tả các cấp chính quyền cao nhất không trả lời đơn thư hay phản ảnh của báo chí, nhân dân trước các tiêu cực. Lâu dần sự im lặng ấy đã có kết quả trông thấy: tham nhũng nhiều hơn, chống đối công khai hơn và toàn bộ các “mặt trận” đều tan vỡ.Những im lặng ấy khi được nâng lên mức đáng sợ có làm cho Bộ Chính trị ưu tư hay không? Chắc chắn là không, mà ngược lại.

Đối với một số lãnh đạo cao nhất luôn chủ trương mọi việc phải bí mật, phải đóng cửa bảo nhau, phải xử lý nội bộ còn “công khai” là một từ taboo, nhạy cảm có thể làm chế độ sụp đổ. Im lặng sẽ tạo ra nhiễu thông tin do nhiều câu hỏi và không ít những câu hỏi ấy dẫn dư luận sang những câu trả lời mang tính suy luận và suy luận càng nhiều sự thật càng lùi xa.

Thí dụ như vụ bauxite.

Tại sao một dự án rõ ràng là chỉ có hại cho Việt Nam nhưng nhà nước vẫn im lặng để cho Bộ Công thương tái oai tác quái bất kể mọi chống đối từ các nhà khoa học cho tới nhân sĩ trí thức điển hình cả nước, và chưa một ai trong bốn ông cao nhất công khai làm rõ vấn đề trước người dân từ khi những gầu đất đầu tiên được múc lên từ Tây nguyên. Hai giả thuyết đặt ra đối với người theo dõi:

Phe thân Trung Quốc ghìm cương dư luận. Bất kể kết quả ra sao họ phải chứng tỏ cho Trung Quốc thấy quyền lực của phe này là có thể cô lập, không chế bất cứ ai để thực hiện những gì mà Việt Nam đã hứa.

Phe thứ hai, không thân ai cả chỉ thân với người thuộc phe mình và sẵn sàng thừa gió bẻ măng tạo dư luận bất lợi cho đối thủ bằng cách ngấm ngầm lợi dụng quyền lực đang có để đổ dầu vào lửa khi lửng lơ khuyến khích Bộ Công thương tiếp tục khai thác bauxite còn hậu quả tính sau: tính sổ cho người ký dự án.

Nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh là người trách nhiệm khi ông này vào ngày 3 tháng 2 năm 2001 ký trong Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc, tại điều khoản 6, Việt Nam và Trung Hoa “nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắc Nông”.

Ông Mạnh về hưu, ông Nguyễn Phú Trọng không chịu trách nhiệm và vẫn giữ im lặng. Trong trường hợp này im lặng không còn đáng sợ nữa vì nó đã trở thành quốc sách.

Để giải mã độc theo kiểu suy đoán này Bộ chính trị phải lấy gai để lể gai, chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải lên tiếng bảo vệ những gì mà ông Nông Đức Mạnh đã ký. Mặc dù ông ăn nói không mấy lưu loát nhưng đừng để cái im lặng đáng sợ ấy quay lại bao vây mình.

Thí dụ thứ hai: 356 gia đình tại Dương Nội.

Cho tới nay chưa thấy Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên tiếng đối với vụ khiếu kiện của người dân Dương Nội khi một doanh nghiệp lại có thể công khai mua chuộc, sử dụng côn đồ, công an và cả cán bộ của UBND thành phố Hà Nội để bao che, đỡ đầu cho các hành động chỉ có thể xảy ra trong thời Pháp thuộc.

Chính quyền càn quét, đánh đập, bỏ tù, ủi ruộng đang canh tác cùng muôn hình vạn trạng hình thức khác cốt để đẩy người dân ra khỏi đất đai của họ cho bằng được.

EcoPark trong trường hợp này đứng cao hơn chính quyền bởi các nấc thang chất bằng tiền của họ. Công an đứng nhìn người dân bị côn đồ đánh đập. Cán bộ địa phương đổ trách nhiệm cho nhau và cho dân. UBND thành phố xem vụ này không phải của mình và Bộ Chính trị coi đây chỉ là một vụ tranh chấp không cần phải lên tiếng, vì vậy khi hàng đoàn dân oan Dương Nội kéo về văn phòng tiếp dân đưa đơn đã không được người nào ra nhận.

Hai chữ “nhân dân” đã bị xóa trắng ra khỏi bộ nhớ của đảng, của chính phủ.

Sự im lặng trong trường hợp này không còn đáng sợ nữa, nó đã trở thành đáng hy vọng đối với những ai tin vào sự nổi dậy của quần chúng và đáng lo cho những ai còn tin vào sức mạnh của dùi cui và bạo lực. Một sự im lặng đồng lõa với cái ác.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chính là người trách nhiệm trong vụ lên tiếng này. Ông có sứ mạng nối liền giữa chính phủ và dân, trong đó phần dân nghiêng hơn khi so với Thủ tướng. Khi thấy dân lầm than mà không lên tiếng là ác, khi thấy chính phủ bất công mà không can ngăn là hèn. Tôi tin ông không có đức tính nào trong cả hai điều vừa nói vì dù sao ông cũng là một chủ tịch nước gần dân hơn các ông tiền nhiệm.

Thí dụ thứ ba: Công an đánh dân chết trong đồn công an, Bộ trưởng Trần Đại Quang xem như mất tích.

Với học hàm học vị Giáo sư, Tiến sĩ được xem là dày cộp so với nhiều bộ trưởng công an các đời trước, Bộ trưởng Trần Đại Quang khác với hầu hết các bộ trưởng của triều đại Nguyễn Tấn Dũng: ông không hề lên tiếng trước bất cứ trường hợp tiêu cực nào xảy ra trong ngành công an, kể cả vụ Phạm Quý Ngọ, một thứ trưởng bị tố đã ăn hối lộ 500 ngàn đô la để rò rỉ thông tin cho Dương Chí Dũng chạy trốn.

Tuy nhiên điều này dễ hiểu vì ông sợ bức dây động rừng. Nhưng điều khó hiểu hơn cả là trước các thông tin từ báo chí về việc công an tra tấn người bị bắt trong đồn đến chết xảy ra tràn lan, ông vẫn im lặng, làm như ông đang giữ chức Bộ trưởng công an của nước bạn chứ không phải tại Hà Nội.

Ông Trần Đại Quang có nỗi khỗ tâm gì? Liệu nỗi khổ tâm ấy có lớn hơn sự uất ức của hàng trăm thân nhân các nạn nhân bị nhân viên dưới quyền ông lạm dụng “quyền được đánh” của họ hay không?

Sự im lặng của ông có thể ví ngang với nụ hôn Juda trong kinh thánh. Juda lừa bọn Do Thái khi nghĩ rằng Chúa rất quyền phép không thể nào bị bắt và ông ta đã nhận 30 đồng bạc để thông đồng với chúng: khi hôn ai thì người đó là Chúa Jesus.

Chúa quyền phép đã đành nhưng nhân dân không có quyền phép như người ta nghĩ. Họ chỉ có nổi loạn, mà nổi loạn thì không thể xem là quyền phép.

Hôn trong sự im lặng để khuyến khích bọn Do Thái giết người có khác gì sự im lặng của ông Bộ trưởng trước hành vi bất nhân hàng loạt? Sự im lặng này không còn khó hiểu, nó đã có một định nghĩa mới: Sự im lặng bất nhân.

Thí dụ thứ tư: Bộ trưởng y tế và bệnh sởi.

Mọi thông tin về sởi đã có. Các tiêu cực chung quanh nó cũng đã và đang có. Bà bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến bị báo giới giải phẩu tới những tế bào nhỏ nhất. Lần đầu tiên giới giải trí lên tiếng đòi bà từ chức. Chính phủ im lặng như từ xưa tới nay và sự im lặng này có thể nhìn ở một góc nào đó thì chính phủ đúng. Tuy nhiên cái đúng ấy đã bị giới hạn khi sự việc có khả năng lan tới tầm uy tín quốc gia và khả năng chịu đựng hạn hẹp của người dân.

Một bộ trưởng có quyền giải quyết những việc xảy ra liên quan đến bộ của mình mà chính phủ không nên can thiệp, đó là tiêu chí đúng đắn của một đất nước dân chủ. Tuy nhiên giới hạn của tiêu chí này nằm ở chỗ: chính phủ phải can thiệp ngay lập tức nếu trình độ, cách giải quyết vấn đề, ngay cả sự phát ngôn lệch chuẩn của một bộ trưởng.

Sự can thiệp này là chìa khóa cho mọi chính quyền dân cử, riêng với chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng e rằng sẽ có ngoại lệ vì như nhiều thủ tướng đời trước từng tuyên bố: thủ tướng không có quyền bãi nhiệm một bộ trưởng.

Không bãi nhiệm được chẳng lẽ không nói được?

Ít ra một tiếng nói của Thủ tướng trong lúc này sẽ có tác dụng giải vây cho Bộ y tế qua trả lời của chính bà Tiến. Mọi thắc mắc, nghi ngờ hay cáo buộc bà Tiến sẽ được giải tỏa và vượt qua sự im lặng ấy là trách nhiệm của Thủ tướng chính phủ chứ không ai khác.

Im lặng trước chống đối rộng khắp của nhân dân phản ánh sự run sợ của chính quyền và sự run sợ ấy chỉ có thể làm nguội đi bằng các giải thích và chịu trừng phạt của dư luận.

Thí dự thứ năm: xé bằng của trí thức.

Sự im lặng tiếp tục bao trùm hai bộ phận của ngành giáo dục: Bộ giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội khi chính ra hai cơ quan này có trách nhiệm giải thích cho dư luận biết về hành động tịch thu bằng thạc sĩ của cô giáo Đỗ Thị Thoan, bút danh Nhã Thuyên bởi một hội đồng thẩm định luận văn khác do Đại học sư phạm Hà Nội triệu tập.

Thạc sĩ Đoan được đánh giá đã trình một luận văn thạc sĩ xuất sắc với điểm 10 tuyệt đối khi cô nghiên cứu khoa học về nhóm Mở miệng và những hoạt động của họ với cách nhìn mới. Hơn ba năm sau khi lấy bằng và được mời ở lại trường tiếp tục giảng dạy, vài kẻ tố cáo cái luận văn này có tư tưởng chống đảng, vô văn hóa và yêu cầu hủy bỏ.

Những tiếng nói bâng quơ ấy không ngờ lại được những kẻ khác thực hiện cho bằng được. Một Hội đồng thẩm định được lập ra, luận văn thạc sĩ bị xé toạc và người hướng dẫn cô giáo Đoan bị cho về vườn.

Một vài người trong “hội đồng xé” ấy viết bài bênh vực cho luận điểm xé của họ, tuy nhiên đây không phải nhân vật thẩm quyền trả lời dư luận, người phải trả lời là Bộ trưởng Bộ giáo dục, kế đó là Hiệu trưởng trường Đại học sư phạm Hà Nội nơi tổ chức và thực hiện việc cấp và xé luận văn thạc sĩ ấy.

Cho tới nay họ vẫn im lặng. Cho tới nay hai thể chế giáo dục ấy vẫn tỏ ra cao ngạo trước đòi hỏi bức thiết của dư luận: không được quyền thao túng nền học thuật nước nhà dù anh là ai và quyền lực đến đâu.

Sự im lặng này ban đầu thấy vô hại hơn bauxite, hơn cướp đất, hơn bệnh sởi, hơn công an đánh chết dân nhưng thực ra nó chính là đầu mối cho tất cả các nguy hại này.

Nền giáo dục bị bức hại bởi các quyết định chính trị mờ ám sẽ sản sinh ra loại vi rút câm nín nguy hiểm cho cả dân tộc. Thử tưởng tượng khi tất cả các học hàm học vị đều dắt tay nhau đi dưới sự chỉ đạo của đảng hay ít ra của những kẽ nịnh đảng thì nền học thuật của Việt Nam sẽ ra sao?

Tất cả những im lặng ấy bây giờ đã không còn đáng sợ nữa mà chính danh nó phải được nói lại bởi chữ khác: “đáng khinh”.

Xử phúc thẩm đồng chí Dương Chí Dũng và đồng bọn – Nhìn sơ thấy gì?

Posted on

Vũ Đông Hà
1. Đồng chí Dương Chí Dũng, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, chủ tịch Vinalines đỗ thừa vụ mua ụ nổi 83M sang cho tập thể Hội đồng quản trị Vinalines và đồng chí Tổng giám đốc Vinalines là Mai Văn Phúc. Đồng chí họ Dương thề sống thề chết, thề có trời có đất rằng không có nhận lại quả 10 tỷ đồng từ đứa nào cả, chỉ nhận phong bì tết và rượu biếu của cấp dưới.Đồng chí Chí Dũng dù thề thốt không tham ô tài sản nhưng hối hận vì “không hiểu sao” lại bỏ trốn. Và một lần nữa, khẳng định được “mật báo” từ Thượng tướng công an Phạm Quý Ngọ vào chiều ngày 17/5/2012. Dù một mực đấm ngực kêu oan nhưng (cũng không hiểu sao) gia đình đồng chí Dũng lại tự phê, tự kiểm, tự bán hết tài sản, nộp cho đảng và nhà nước 4,7 tỷ đồng nhằm bồi thường, trả nợ cho tội gì thì… không biết.
 

2. Đồng chí Mai Văn Phúc đỗ thừa mình là Tổng giám đốc Vinalines nhưng không có chuyên môn, không nắm rõ quy định đầu tư xây dựng và không hiểu văn bản chỉ đạo của Thủ tướng là cái giống gì, nhiều lúc ký văn bản nhưng không đọc. Đồng chí ta mới vào bàn ăn có 2 tháng nên “không biết chuyện gì”, ăn uống ra sao… cho đến khi bị bắt mới “biết”.

Sau khi đỗ thừa mình “không biết” cái củ gì cả thì:

Đồng chí TGĐ Mai Văn Phúc đỗ thừa cho đồng chí Phó giám đốc Vinalines là Trần Hữu Chiều mới là người nắm hết mọi khâu.

Đồng chí TGĐ Mai Văn Phúc đổ thừa đồng chí tổng giám đốc Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines là Trần Hải Sơn nói láo và khẳng định mình không thò tay nhận lấy 10 tỷ đồng từ đồng chí Sơn. Đồng chí Phúc chỉ rón rén đưa tay nhận từ đồng chí ấy một phong bì chỉ có 2 triệu đồng và chai rượu Chivas 18 tuổi đời.

Dù chỉ có phong bì 2 triệu và chai rượu già nhưng gia đình đồng chí TGĐ Mai Văn Phúc cũng đã biết điều nộp trước cho đảng và nhà nước 3,5 tỷ đồng – và cũng không biết nộp cho tội gì.

3. Đồng chí Trần Hải Sơn đỗ thừa chính đồng chí Cục trưởng / Chủ tịch Dương Chí Dũng và đồng chí TGĐ Vinalines Mai Văn Phúc đã chỉ đạo đứng ra… tiếp thu 1,666 đô la tiền lại quả và cho vào trương mục nhà băng công ty Phú Hà của cô em gái.

Đồng chí Sơn lại quả cho đồng chí chỉ đạo Dũng, Phúc mỗi ngài 10 tỷ đồng, đồng thời tự nguyện đút vào túi đồng chí Phó giám đốc Vinalines, cũng là trưởng đoàn khảo sát mua ụ nổi là Trần Hữu Chiều 340 triệu đồng.

Về phần mình, trong vụ được nhận ụ nổi xấu – cũ – già 42 năm để sửa cho đẹp – mới – trẻ, đồng chí Trần Hải Sơn đã bỏ túi được hơn 3 tỷ đồng. Tổng cộng cho việc ký nháy, đồng chí Sơn được lại quả cho mình 7,8 tỷ đồng.

4. Đồng chí Trần Hữu Chiều đổ thừa rằng thời điểm các đồng bọn “quyết” và tiến hạnh dự án ăn chia thì đồng chí chỉ mới là Chánh văn phòng Vinalines, không được tham gia vào việc lập, hoạch định dự án. Nên không biết cái củ gì cả.

Cho nên, đồng chí Chiều chỉ chịu “hiểu” rằng 340 triệu đồng do đồng chí Sơn thương mến đưa cho là khoản tiền bồi dưỡng, không có ăn nhậu gì đến cái ụ nổi ụ chìm.

*

Tóm lại, theo lời của mỗi đồng chí kêu oan (không tính việc đỗ thừa được mùa mất mùa gì gì đó từ các đồng bọn thân mến khác) thì:

Đồng chí cao cấp nhất là Dương Chí Dũng được lại quả phong bì tết và chai rượu.

Đồng chí cao cấp hai là Mai Văn Phúc được lại quả phong bì 2 triệu đồng và chai rượu.

Đồng chí cao cấp ba là Trần Hữu Chiều được lại quả 340 triệu đồng.

Đồng chí cao cấp tư là Trần Hải Sơn được lại quả 7,8 tỷ đồng.

Các đồng chí con sâu của đảng ta có một hệ thống ăn chia thật “bình đẳng”… trước tòa. Càng cao chức càng được lại quả ít!

Nhưng tính lại: Nếu nhìn vào tổng số tiền lại quả là 1,666 triệu đô tức 28 tỷ đồng và trừ đi tiền bỏ túi của các đồng chí cao cấp ba, cấp tư, xuống cấp năm, cấp sáu… thì biết ngay số tiền thực sự trong mấy cái phong bì, không tính chai rượu, dành cho đồng chí cục trưởng/ chủ tịch Dương Chí Dũng và TGĐ Mai Văn Phúc sẽ là bao nhiêu.

Nhưng xin đừng kết luận rằng đồng chí Dũng và Phúc ôm trọn gói. Trên hai đồng chí ấy còn có các đồng chí cao cấp 0, cấp trừ, cấp trừ 2… Làm sao ăn được một mình!? Nếu thế thì làm sao có chuyện đồng chí Thượng tướng thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ rộng lòng từ bi mật báo cho ngài Dũng chủ tịch Vinalines “lánh mặt” sang Miên để ngày nay đồng chí Dũng hối hận vì “không hiểu sao” và đồng chí Ngọ đã không còn được thở.

Nhắc lại bản án sơ thẩm dành cho các đồng chí, đồng bọn:

Dương Chí Dũng: Tử hình về tội “Tham ô tài sản”, 18 năm tù về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Tổng cộng mức hình phạt: “Tử hình”.

Mai Văn Phúc: Tử hình về tội “Tham ô tài sản”; 18 năm tù về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Tổng cộng mức hình phạt: “Tử hình”.

Trần Hải Sơn: 22 năm tù.

Trần Hữu Chiều: 19 năm tù.

Lê Văn Dương, đăng kiểm viên Chi cục đăng kiểm số 6, Cục Đăng kiểm Việt Nam: 7 năm tù.

Lê Ngọc Triện, đội trưởng nghiệp vụ Chi cục Hải quan Vân Phong: 8 năm tù.

Lê Văn Lừng, cán bộ Chi cục hải quan Vân Phong: 8 năm tù.

Mai Văn Khang, phó tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên vận tải viễn dương Vinashin thuộc Vinalines: 7 năm tù.

Huỳnh Hữu Đức, phó cục trưởng Chi cục Hải quan Vân Phong kiêm phó chánh văn phòng Cục hải quan Khánh Hòa: 8 năm tù.

Bùi Thị Bích Loan, kế toán trưởng Vinalines: 4 năm tù.

Đảng bác Hồ đạo đức, cần kiệm, liêm chính mất đi 10 con sâu chiến, từ đồng chí bị đảng úm ba la biến thành đồng bọn.

Dân ta mất hơn 335 tỷ đồng trong tổng số 525 tỷ đồng mà “quả đấm thép” Vinalines đấm vào ụ nổi nhưng đã chìm từ lâu nhập cảng về từ bên Nga.

Thiệt hại này các đồng chí của đảng ta vẫn nhất định nói rằng đó là thiệt hại của nhà nước.

Chỉ có đồng chí Hùng hói, chủ tịch quốc hội – nhưng không đứng đầu quốc hội – là nói bị đúng: “dân” quyết sai là dân chịu. Ụ nổi thành ụ chìm là do dân bây quyết chứ ai vào đây!? Đừng có đỗ thừa!

Việt Nam: Cả nước trong cơn “hội chứng”

Posted on

Hạ Đình Nguyên
Khó ai có thể nhìn thấy hay phán đoán về sự phát triển của Việt Nam trong tình hình hiện nay. Một bức tranh loạn màu sắc, mà chỉ cần nhìn qua cái tít của các tin tức hằng ngày là đã thấy “choáng”. Như “dòng tin gây bức xúc” mỗi ngày của Nguoilotgach, hay của Vietnam.net, hoặc bất cứ một trang mạng nào khác, mà không cần đọc, chì lướt qua tựa đề thôi! Nếu không gọi nó bằng từ “hội chứng” của cả nước thì là gì ?Nước Mỹ đã dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam thật sự máu lửa chỉ trong khoảng 7 năm, kể từ khi quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến 1965 đến 1972 thì rút quân. Người lính Mỹ theo chế độ quân dịch, chỉ có một năm, quá lắm là 2 năm cho một số người, thế mà nó đã sinh ra trên đất Mỹ một “hội chứng” về chiến tranh Việt Nam kéo dài 40 năm sau, còn để lại những vết thương cho lương tri xã hội Mỹ và lịch sử Mỹ, về một cuộc chiến mà họ không xem đó là cuộc chiến tranh xâm lược, mà là cuộc chiến chính nghĩa, vì lý tưởng giúp nước nhỏ chống sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản vào toàn vùng Đông Nam Á. Cho là đúng mà vẫn ray rứt, vì vết cắt của chiến tranh. Thông thường, một quốc gia sau khi chiến tranh chấm dứt đều sinh ra một hội chứng nào đó.

Dân tộc Việt Nam có phải là một bộ phận của nhân loại, có cấu tạo bình đẳng về tâm sinh lý và tư tưởng trước Tạo hóa, hay nó là một loại người đặc biệt – có mình bằng đồng, da bằng sắt – để chịu đựng những cuộc chà xát đảo điên liên tiếp kéo dài hằng thế kỷ, từ Tàu, Pháp, Nhật, Mỹ, rồi lại Tàu…, mà không mang một tật chứng nào trên da thịt, trong tâm thức của những người đang sống, cho dù cuộc chiến tranh ấy có là chính nghĩa: bảo vệ tổ quốc, giành độc lập dân tộc ? Nói cách khác, thuần về mặt hậu quả chiến tranh, trộm nghĩ, cả dân tộc Việt Nam đều rơi vào một trạng thái hội chứng toàn diện, miên man đến nổi không còn phân biệt được thế nào là hội chứng, bao gồm nhiếu thế hệ đã, đang và còn sắp sinh ra trên đất nước nầy ?

Trong giờ phút hiện nay, nó ngổn ngang trăm bề cấu xé trong tâm thức dân tộc, riêng yếu tố nầy, tự thân nó đã nhấn chìm mình trong sự u minh, chưa tính đến yếu tố tác động từ các thế lực bên ngoài ? Phải chăng, các cuộc chiến tranh liên tiếp mà Việt Nam phải đương đầu đã vượt quá sức chịu đựng, và làm kiệt sức một dân tộc, cũng như vượt khỏi khả năng của những ê-kíp lãnh đạo của các thời kỳ, để đến khi đạt được kết quả, gọi là kháng chiến thành công, giành được hòa bình độc lập, sự suy nhược thần kinh và tâm sinh lý đã bộc phát, vở vụn, không còn biết đâu là phương hướng để bước đi, quờ quạng như một người trong cơn say xỉn với bản năng bạo động và nổi hoang mang đến tận cùng tâm thức, hồn chưa hoàn lại xác ? Mà xác và hồn cũng đều bị “hội chứng”

Xin chỉ lướt qua tựa đề các trang thông tin mỗi ngày thì rất rõ. Cái thực đơn nuôi dưỡng tinh thần người Việt mỗi ngày, có cái gì tích cực sáng sủa ? Cuộc hội chứng đầy đủ màu sắc điên loạn và giai điệu rối ben diễn ra khắp nơi, chuyện nước cũng như chuyện nhà, và ở mỗi cá nhân?

Chẳng dám là người bình luận, chỉ là cảm quan của một dân thường, tôi thật sự chia sẻ một nhận xét tự mình chưa dám nói ra, mà ông Thomas J. Vallely vừa phát biểu “..tôi e rằng tôi đã đánh mất năng lực phê phán vốn có của mình đối với sự phát triển của Việt Nam”.(Nhà sáng lập Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard, Chủ tịch Quỹ tín thác Đổi mới Đại học Việt Nam, nói trong lễ nhận giải thưởng thuộc Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh.). Không chỉ riêng ông ấy, mà hầu hết đều “mất năng lực” về một cái nhìn lạc quan. Nhưng không nhìn thấy, không có nghĩa là không có lối ra. Nguyên nhân cốt lõi của nó là đâu? Thomas J. Vallely trong dịp nầy, nhắc lại tư tưởng cốt lõi của nhà yêu nước Phan Châu Trinh nói về vai trò của giáo dục, như nhiều nhà giáo dục Việt Nam đã từng nói, tư tưởng ấy không những đúng vào thời kỳ của cụ, và đúng ngay bây giờ “Nhiều người đắm đuối với cái gọi là quyền lực cứng của phương Tây như công nghệ, quân sự, và sức mạnh công nghiệp. Phan Châu Trinh sâu sắc hơn. Ông kết luận rằng các yếu tố khác, trong đó có giáo dục, mới là bản chất nằm đằng sau sự trỗi dậy của phương Tây. Vai trò trung tâm của giáo dục và đổi mới trong việc quyết định quỹ đạo phát triển của các quốc gia đúng cho ngày hôm nay cũng như dưới thời của Cụ Phan. Không phải ngẫu nhiên mà những quốc gia châu Á duy trì được sự chuyển biến kinh tế xã hội nhanh chóng và bền bỉ nhất – như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore – cũng là những quốc gia đã thành công trong việc xây dựng hệ thống giáo dục có khả năng trang bị cho người dân kỹ năng và kiến thức cần thiết để cạnh tranh và đổi mới…”

Thực tế đó đã chỉ rõ con đường đi và cho ta niềm tin.

Tư tưởng ấy đã mở ra từ thời Cụ Phan, nếu đã không thực hiện được như các nước và vào thời kỳ ấy, thì bao cơ hội gần một thế kỷ sau lại tiếp tục bị bỏ qua. Vai trò của giáo dục và tư tưởng nếu không phải là hàng đầu thì cũng là cốt lõi song hành cùng các thứ hiện đại khác.

Nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục “kiên định” đi con đường mù mịt của mình, không chịu một sự điều chỉnh nào, từ khi chấm dứt cuộc chiến! Vẫn miên man trong cơn hội chứng sau chiến tranh. Hội chứng về những “vinh quang” trong đau khổ mà bộ máy tuyên truyền không ngớt cơn say ngợi ca như một thứ động lực rất giả tạo, hội chứng làm giàu cá nhân, gia đình và tập đoàn trên quyền lực độc quyền, thô bạo như một con nghiện đang lao tới trong cơn say thuốc của mình, hội chứng về sự nói dối, ăn chơi, tráo trở, thủ đoạn cùng với bạo lực với sự nhân danh một loại chân lý dung tục bất kể đạo lý. Hội chứng trong giới cầm quyền, hội chứng trong nhân dân, hội chứng trong giới trẻ, và có thể tính đến cả cái hội chứng ở phía một số người đang “đấu tranh” cho dân chủ và đổi mới bằng biện pháp hận thù “chửi bới” với tất cả công suất có được. Sự hận thù và phẫn nộ là có nguyên nhân sâu sắc có thể hiểu được, nhưng nếu lời chửi bới có sức mạnh làm bay cả bàn ghế như trong phim hài Hồng Kông, thì cách ấy có thể dùng như một phương thức đấu tranh xây dựng dân chủ được chăng?

Nhưng nguyên nhân lớn nhất, bao trùm tất cả, qua mặt cả hậu quả chiến tranh, làm cho cả dân tộc bị hội chứng là vì một thứ chủ nghĩa mà hơn nửa thế kỷ nó đang cố cắm vào não của các thế hệ đang ngồi ở ghế nhà trường, từ tiểu học đến trung – đại học với tất cả “ý chí” của giới lãnh đạo. Nhưng không cắm được, nó luôn bị bật lại, nó tạo nên tình trạng be bét hoang đường. Nếu nó “xuôi chèo mát mái” thì ngày nay Việt Nam đã “hân hạnh” có mô hình của một Bắc Triều Tiên, thanh niên Việt Nam sẽ ổn định và trật tự, chung một lòng đoàn kết thống nhất dưới kiểu tóc nào đó, như kiểu tóc của lãnh tụ “Un” đã là biểu trưng của một thứ thể chế, không ngớt hò reo là cao cả, tiên tiến, cách mạng! Tuy cùng là con đẻ của chủ nghĩa Mác-Lê-Mao, cái hội chứng của thời đại có khác nhau ở mỗi nơi, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam. Khác nhau về kiểu dáng và màu sắc. Cái chung nhất thì nó đã xóa nhòa được mọi chuẩn mực về giá trị cuộc sống trong truyền thống văn hóa của mỗi nước, cũng như các chuẩn mực trong thời hiện đại… Việt Nam ngày nay, người dân đang tồn tại, ngơ ngác xen lẫn với hận thù. Họ chỉ tay vào mặt nhau và gọi mi là “thế lực thù địch” cũng là theo cách mà nhà nước khởi xướng, và tất cả đang ở vào vị trí “thủ thế”, chỉ biết lao lên cho sự sống còn rất gần với bản năng. Cấu tạo của xã hội Việt Nam đang tồn tại tạm thời trong “giềng mối” bạo lực của an ninh và cảnh sát, của các chính sách quốc gia vì lợi ích nhóm, với từ ngữ được nhân danh là “ổn định”. Hội chứng của Việt Nam đang tự mở ra bao nhiêu là cơ hội thuận tiện cho chủ nghĩa xâm lăng của Bắc Kinh đang phát phì như có thuốc tăng trọng, mà toàn dân Việt Nam không ai sẽ không là nạn nhân. Những người sáng suốt của thời đại đã nhiều năm, hàng mấy mươi năm, kêu gào về một sự đổi mới, phục hồi sinh lực dân tộc, mở lối thoát ra khỏi hội chứng, bắt đầu bằng cách tân giáo dục. Nhưng giống như mọi lãnh vực khác, giáo dục cũng nằm trong cơn trầm cảm nặng nề, bởi những chủng tử đã được cài cắm, bởi sự đè bẹp của các loại hội chứng khác, và đến độ thê thảm, nó mang vào mình mọi thứ tiêu cực mà ngoài xã hội có, nó bao phủ một sự nói dối chính thức, chính danh, không ngượng ngùng bằng các con chữ.

Các nhà lãnh đạo xem ra họ biết hết các loại từ ngữ, từ xấu xa đến tốt đẹp, hay hào nhoáng, nhưng nội hàm của nó thì xa lạ với cái hiều phổ quát của số đông và thời đại. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã từng “chỉ đạo” ngành giáo dục về sự “đổi mới”giáo dục, hiện đại hoa giáo dục, nhưng nội dung vẫn trong cơn mê man xã hội chủ nghĩa u tối, lủng củng ngay trong kinh tụng của họ. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, với thông điệp đầu năm, vẫn rộn ràng các từ ngữ “quyền làm chủ của nhân dân”, “nhà nước pháp quyền”, “nền quản lý hiện đại”, “nhân dân được quyền làm những gì luật pháp không cấm”… Nhưng thực tế thì khác, các từ ngữ cứ thế mà nhảy múa, quan chức các cấp vẫn ca len lén bài ca hưởng thụ về cái “thành đạt” kín hở của mình và… hây hây hãnh tiến.! Luật pháp lại cấm cả những điều mà Hiến Pháp không cấm. Hiến pháp là “cao nhất” nhưng là đằng sau “cương lĩnh” của Đảng. Từ lời nói đến việc làm cũng biểu hiện hội chứng. Luật pháp không cho giết người, nhưng người vẫn bị cơ quan công quyền giết, theo cung cách của bọn giang hồ. Chính sách “trẻ hóa cán bộ” bằng cách cùng nhau thu xếp cho con cháu mình vào các vị trí…, họ đã đánh mất lòng tự trọng của người có học và vô lương tri về lẽ công bằng. Nếu không phải là những người lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Nhà nước, thì chính là nhân dân đang bị hội chứng trầm cảm nhưng không hề hoang tưởng về những người lãnh đạo của mình.

Hội chứng trong nhân dân là tình trạng mất niềm tin, không có niềm tin nào cả, về mọi phương diện, đối với giới cầm quyền và đối với chính mình. Ai có điều kiện ra nước ngoài thì tìm cách ra nước ngoài, hoặc cho con cái ra đi, trước hết là để “tị nạn”tinh thần. Những người có điều kiện và nhiệt huyết để làm ăn thì co lại không dám làm ăn, không phải vì sợ những rủi ro thị trường như vốn có, mà vì sự hiểm nguy lồ lộ bởi tham nhũng và chính sách có tác dụng bất ngờ như chiếc dây thừng sẳn sàng chẹn họng siết cổ. “Sống qua ngày và chờ đợi”dĩ nhiên là tư tưởng bi quan. Sinh khí trong nhân dân trở nên bạc ngược, lùng bùng, năng lượng không có chỗ thóat. Nó quá ngưỡng cái dấu chỉ của sự lụn bại. Nhưng hội chứng ấy không bắt nguồn bởi lý do duy nhất từ phía người dân, mà người dân phải hứng lấy cái hội chứng mỗi ngày theo cách “bội thu” phát đi từ phía nhà nước. Không cần phải tìm kiếm ở đâu xa, chỉ cần nhìn vào Hà nội, thủ đô có lịch sử văn hóa nghìn năm, từng là “niềm tin yêu và hy vọng” đã trở thành điển hình, chứa chất mọi thứ tiêu cực lớn nhỏ, hửu hình, vô hình, đủ loại, đủ kiểu, cả điều nhỏ nhặt như ăn cắp, đái đường, viết chữ bậy.., cũng ôm hết vào lòng. Nó bao gồm tiêu cực mà cả nước có. Đúng hơn nó là tất cả, nó phả ra, nó gieo mầm độc cho cả đất nước, một bộ mặt xã hội bầy nhầy, mà Thủ đô là tiêu biểu, nơi mà bộ máy Trung ương hoành hành như trong cuộc đỏ đen, đang hò reo, ăn uống, hưởng thụ, và hít thờ mỗi ngày.

Hội chứng trong thanh niên chính là sự thờ ơ với xã hội, thờ ơ và chán chường với lịch sử dân tộc mình, với thời cuộc mà mình đang sống, cũng có nghĩa là tương lai của chính mình. Họ ở thế thụ động, có “tổ chức” yêu nước thay, có “đoàn thể” suy nghĩ thay, họ được khuyến khích vào vùng sâu vùng xa, được quyền tìm mọi cách sử dụng cơ bắp, bán sức lao động mà không có điều kiện tái tạo, được quyền hy sinh tính mạng, được làm các thứ mà thành quả lao động thì có kẻ khác tính toán thay. Họ sẽ được tuyên dương với các loại bằng khen nhảm nhí mà đem về không thể nấu cháo được. Bây giờ thì họ từ chối hết. Trong sự bế tắc, họ có thể bán bớt một phần cơ thể cho bọn vô lương, hoặc phát sinh bạo lực, trong đó có bạo lực với quan hệ xung quanh và với bản thân mình dưới nhiều hình dạng, số không ít, ngày càng nhiều, lao vào ma túy mà nhà nước không có biện pháp cứu nguy.

Trong bối cảnh Việt Nam khó ai có thể tin tưởng và phán đoán được điều gì tốt đẹp sẽ xảy ra, cứ mỗi lần nghe thấy một vị lãnh đạo nào đó phát biểu thì y như rằng, hội chứng bi quan “bức xúc”lại càng đậm đặc thêm lên. Giá như mỗi lãnh đạo Việt Nam biết rằng từ cái tuổi thơ không bình thường của mình, trưởng thành một cách bất ngờ qua một trạng huống bất thường của chiến tranh, leo lên chức vụ theo cách “định mệnh” bí hiểm…, là đều mang vết tích của một loại hội chứng nào đó trong thói quen và trong tư duy, thì hãy tìm cách giúp cho dân tộc thoát khỏi cái hội chứng khốn khổ nầy, bằng cách để cho nền giáo dục đổi mới triệt để, giải thoát thế hệ trẻ ra khỏi hội chứng nhằm mưu cầu tương lai cho đất nước. Đó là xây dựng những mầm sống lành mạnh cho các thế hệ, biết tự trọng và tôn trọng tri thức, biết yêu công bằng và xây dựng các giá trị sống mà nhân loại đang hướng tới, không dùng thủ đoạn “hận thù giai cấp” để trấn áp, không tạo dựng lên “thế lực thù địch” nhằm làm suy yếu tinh thần của cộng đồng dân tộc để củng cố “tư thế chiến đấu” vì đặc quyền đặc lợi của mình. Cái tự hào mà lãnh đạo Việt Nam hằng tự ngợi ca, có phải là điều mà có người gọi tế nhị là cạm bẩy tinh thần ? Tự bẩy mình và bẩy cả dân tộc. Tôi thô thiển cho đó là biểu hiện của một thứ hội chứng nguy hiểm nhất, thèm khát đến độ hoang tưởng về quyền lực, vật chất, và không hiểu mình, vì nguyên nhân một phần của hậu quả chiến tranh, nhưng nhất là vì sự mất thăng bằng và mặc cảm nặng nề từ một học thuyết đã bị vượt bỏ của thời đại. Như một người nghiện ma túy, trước hết không chịu mình là người nghiện, sau đó khi thừa nhận mình là người nghiện, lại luôn cho rằng cái nghiện của mình là đặc biệt, nó có đặc điểm riêng, rằng mình là trường hợp ngoại lệ để tìm cách xoay xở riêng theo một quán tính. Quán tính giành quyền, đoạt lợi, nín thở gác bỏ giá trị tinh thần. Trong bối cảnh đó, nền giáo dục được thiết kế theo hướng kiềm chế, quản trị bằng bạo lực và thiếu tôn trọng tri thức. Làm sao để thoát ra cuộc hội chứng to lớn nầy, mà trước hết là hội chứng trong nền giáo dục ?

Giả sử rằng, “đế quốc” Mỹ, và thực dân Trung Quốc bắt tay nhau kiềm giữ và duy trì một đất nước đang trong cơn hội chứng dưới thể chế hiện tại, trong trạng thái đu đưa của một con lắc, sống dở chết dở, nhưng đồng thời là một môi trường màu mở cho các loài sâu cầm quyền phát triển béo tốt, thì các nước lớn ấy đều có lợi. “Trái độn” Việt Nam cứ hâm hấp trong bầu khí tranh chấp ba rọi. Họ kín đáo đưa những mũi kim tiêm vào cơ thể Việt Nam, khi thì thuốc độc, lúc thuốc hồi dương để duy trì tình trạng một Việt Nam lâm sàng. Với đối tượng đang “trong cơn mê nầy”, họ có thể bàn bạc chia nhau “thị phần” hoặc khoanh vùng “tô giới”. Giả sử rằng, Trung Quốc sẽ “nhường” một thị phần béo bở ở Thượng Hải, Tô Châu…, hay khoanh một vùng “tô giới” ở Duy Ngô Nhỉ, Nội Mông, Tây Tạng… cho Mỹ, để cùng hợp tác kinh doanh mà không hề sợ Mỹ chiếm đóng, lại vừa để cùng nhau “án ngử” phía Liên Bang Nga, đổi lại, Việt Nam được “nhả” về tay Trung Quốc, xứng đáng cho một xứ sở đã từng tuyên bố trung thành “không ăn ở hai lòng” với Trung Quốc. Việt Nam sẽ mở đầu cho cả gói Đông Dương, Thái Lan và một phần Biển Đông sẽ được “Tàu hóa”. Miền biển đối diện, từ Hoa Đông xuống đến Philippine, Malaysia, Singapor vẫn êm ả là đồng minh của Mỹ. Đúng là Châu Á – Thài bình Dương sẽ thái bình! Ai có thể cho rằng Mỹ không chân chính, không phải đạo ?. Lại đứng về phía lợi ích quốc gia của họ, sao gọi được họ là không sòng phẳng hay không khôn ngoan ? Nó cũng pù hợp với phe “không ăn ở hai lòng”, lại “cùng chung ý thức hệ” của Việt Nam, phải chăng là đạt được “đại cục hửu nghị” ? Có gì mà không êm ấm ? Con cái lại được thong dong đi học hành – định cư ở Mỹ, lại được vi vu sang Tàu làm ăn? Cuộc chiến đấu “oanh liệt” của Việt Nam được xếp lại vĩnh viễn trong viện bảo tàng.

Ai dám chắc rằng đó sẽ không là một kịch bản, nếu Việt Nam cứ mãi ở thể chế “trung tính”, “ni homme ni famme” nầy?

Bởi Việt Nam đang là con bịnh, con bịnh của một thứ hội chứng tồn đọng của một giai đoạn còn rớt lại của thời đại, là thân phận của kẻ chậm hiểu, theo đuôi và chỉ hớp lấy bụi độc đằng sau những người đi trước.

Không thể trách người mà phải tự trách ta.

Nếu thảm cảnh trên xảy ra, đó không chỉ là cái tội của ĐCS, mà là của cả nhân dân Việt Nam. Vì ươn hèn nên mới có kẻ lãnh đạo ươn hèn, vì đui mù mới có kẻ dẫn đường đui mù.

Nếu không tự khẳng định mình, không khơi dậy được sức sống của nhân dân, và nhân dân không tự làm cho mình mạnh lên, nếu không cải cách giáo dục và giáo dục không đòi hỏi mạnh mẽ sự cải cách, thì chừng nào Việt Nam thoát khỏi cơn trầm cảm và rối loạn đa nhân cách xã hội chủ nghĩa như hiện nay, để lại rơi vào một bi kịch mới? Chừng nào thì Việt Nam được như các nước Asean với cơn mộng du “hiện đại hóa”? Chừng nào thì dân Việt Nam dở bung được nắp nồi từ lâu đang hấp mình? Cái nắp vung “thể chế” đang tạo nên một thứ hội chứng đặc biệt, là sản phẩm của chủ nghĩa chứa đầy sâu bọ và chất độc hại.

Đổi mới triệt để nền giáo dục là con đường chuyển hóa khả dĩ nhất, căn cơ, êm thấm, bền vững, như thế kỷ trước ở Nhật mà Fukuyawa đã làm, ở Việt Nam như Phan Châu Trinh đã từng thống thiết kêu gọi. Ở thời điểm quá chín mùi nầy, mà Lãnh đạo Việt Nam không làm được, thì xứng đáng bị nguyền rủa, như lời của một người trẻ đã hét lên trong đồn công an: “Hãy đi chết đi! ” (ý nói là ĐCS..). Lời nguyền rủa thật quá ngây ngô, nhưng lại làm chảy nước mắt. Lời nguyền rủa cũng không xô ngã được ghế bàn. Thế thì, cái giá nào sẽ phải trả dù sớm hay muộn? “Thành nhân” không xem trọng, thì “thành công” sẽ chẳng có nghĩa, vì là thành công gì? Thiểu số “thành đạt” ư? Dân tộc lụn bại, lịch sử sẽ lên án chỉ là lời an ủi đáng tiếc?

Trong những năm qua đã có một sự chuyển động tích cực để thoát ra khỏi cơn hội chứng, đầy phấn khích, từ phía nhân dân, từ giới trí thức và văn nghệ sĩ, từ những quân nhân, cán bộ về hưu, và cả một bộ phận đang trong bộ máy nhà nước. Cái “uy” của cơ chế hâm hấp bạo lực không còn như trước, mà đã rơi tuột thảm hại. Những người làm công tac an ninh sẽ trực tiếp ôm lấy các hậu quả của những cơn “giật cục” của Lịch sử. Tiếng nói của người dân ở hè phố, ở quán cà phê, ở lề đường, trong những căn nhà rách nát, trên đồng ruộng, trong những chỗ gặp mặt riêng tư, thậm chí có lúc ở chỗ đông người, trên mạng, trên facebook có tỏ ra là “kính trọng” các “lãnh đạo” chút nào đâu! Chỉ có sự coi khinh và căm giận, đó là biểu hiện của sự khởi đầu! Một số tổ chức của xã hội công dân đã được hình thành.

Dù sống trong bầu khí hội chứng mịt mù, nhưng các thế hệ thanh niên vẫn tiếp tục trưởng thành. Đã có những bộ phận thanh niên, xứng đáng là tiền phong đang bước lên phía trước, với sự kiêu dũng, cương nghị, thông minh đáng phục. Còn đại bộ phận thì sao? Từ cuộc giao lưu ngày 28-12 năm 2013, ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa đúng 50 tuổi đã ngọt ngào xưng “Bác, Cháu”, rất dị hợm, với 650 đại biễu Sinh Viên Đoàn viên ngoan toàn quốc, và rất “tương ứng”, những người trẻ nầy cũng xưng hô lại “Cháu, Bác”. Cả hai không phải là biểu hiện của một loại sâu bệnh của nền giáo dục hay sao? Thì hôm nay, mới đây, cuộc tiếp xúc của một số Sinh viên Hà nội với Đại biểu Quốc hội đã không còn như thế, họ đã bắt đầu đứng lên, xưng “Chúng tôi” một cách trưởng thành. “Chúng tôi” là biểu hiện sự thức tỉnh về vai trò và xác định tư thế của mình.

Việt Nam đang cần nhiều tiếng nói, khởi đầu bằng danh xưng “Chúng tôi”, cất lên từ khắp đất nước, để tự khẳng định vị trí của người công dân của một nước độc lập, một dân tộc từng biết nói “không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do”, để khẳng định quyền sống bình đẳng của con người, tự kiến tạo một xã hội công dân để đáp lại cái kiêu ngạo của các giai tầng đẳng cấp đang thống trị, dù rất lạc lòi của thời đại, từ trung ương đến địa phương, một thứ đẳng cấp khoát áo “Xã Hội Chủ Nghĩa”, đội mũ ‘Mác-Lê-Mao”, xưng mình là ‘Cộng Sản”, miệng nói nhảm về biện chứng, ưởng ngực lên hãnh diện và hoang tưởng vì có cái ghế ngồi, tài sản và dinh thự. Đó là hội chứng tổng hợp của một cơn điên có hệ thống.

Chưa bị mất nước, nhưng cái nhục và sự khốn quẫn đã hiện hình, báo hiệu đà rơi xuống tận đáy.

Một nữ doanh nhân vừa trở về từ hội chợ quốc tế tổ chức ở Hồng Kông, đã quá xấu hổ về sự bêu xấu không thể chối cải của tật ăn cắp “phổ biến”, “có hệ thống” của người Việt. Làm quan mà không biết nhục chăng? Nhưng làm dân lại rất nhục. Trong nước thì quan chức vang danh tham nhũng, ra ngoài thì nhân viên vang lừng ăn cắp, thế thì cái gì là sức mạnh đã từng “đánh thắng các đế quốc to”? Nó ở đâu rồi? Ai đang làm hỏng chúng?

Nhưng mặt khác, từ tiềm thức dân tộc đã kết tinh nên những khí phách.

Anh Đoàn Văn Vươn đã đứng lên đòi sự công bằng, bằng súng Hoa Cải, là tinh thần khẳng khái của nông dân Việt Nam. Anh Đặng Ngọc Viết là sự đáp trả xứng đáng của một nhân cách hoàn hảo, trong tình huống bi hùng của một hoàn cảnh bắt buộc. Thầy giáo Đinh Đăng Định là một chuẩn mực yêu nước của một tấm gương kiên định, tự nguyện gánh vát trách nhiệm với tấm lòng nhân ái, phản chiếu sâu sắc sự tàn bạo của một giai đoạn vong thân tập thể. Tất cả các anh là bậc Thánh của nhân dân trong thời đại nầy, đáng được xây dựng đền thờ, một ngày nào đó điều nầy có thể diễn ra. Bà con Dương Nội làm lễ quyết tử để giữ đất là tiếng nói bất khuất, có tính chất nền tảng. Chúng ta không thể kể hết, tiếp nối lịch sử của Hoàng Diệu, của Nguyễn Tri Phương, có những vị lão tướng, lão thành… và bao nhiêu là tấm gương của người trẻ.

Trong bài viết: “Hư học- hư danh – làm hư cả… cơ chế” của Kỳ Duyên, (1) tôi không đồng tình. Phải nói ngược lại “Cơ chế đã làm nên cái Hư học – Hư danh” và làm hư tất cả. Không trách gì người học, không trách gì thanh niên.

Tất cả phải làm lại. Làm lại giáo dục, từ sự phá bỏ cái nền tảng đẻ ra nó.

Cần có cái đầu và trái tim của những cụ Phan./.

Hạ Đình Nguyên, ngày 9-4-2014

Tác giả Hạ Đình Nguyên, nguyên là Chủ tịch Ủy ban Đấu tranh thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975. Mời xem thêm: Đừng giẫm lên cỏ các anh chị ơi…! (Văn Chương Việt). – Tôi yêu sự đổi mới và trung thành với tương lai (Tiền Vệ).

(1) Mời đọc tham khảo: “Hư học- hư danh- “hư” cả… cơ chế? (Kỳ Duyên)

Không ai phủ nhận kết quả và nỗ lực của học sinh VN, trong Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 2012 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 2013. Theo đó, học sinh VN xếp thứ 17 (môn Toán), đứng thứ 08 (môn Khoa học), và thứ 19 (môn Đọc hiểu) trong số 65 nước tham gia.

Nhưng vì sao càng trưởng thành, người Việt càng tụt hạng trên “bản đồ” trí tuệ thế giới? Theo báo GDVN (ngày 11/12/2013), trong báo cáo Chỉ số Đổi mới toàn cầu năm 2013, do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thực hiện, VN chỉ đứng 76/142 quốc gia được khảo sát. Và dần thụt lùi xuống nửa dưới bảng xếp hạng của thế giới về chỉ số đổi mới/sáng tạo. Nếu năm 2008, VN đứng thứ 65/ 153, năm 2009 là 64/130, năm 2010 tụt xuống 71/132, năm 2011 tăng lên 51/125, thì năm 2012 lại tụt nhanh xuống thứ 76/141 quốc gia. Và lẹt đẹt về các ấn phẩm nghiên cứu khoa học trình làng trên trường quốc tế. Chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, 1/6 của Malaysia, và 1/10 của Singapore.

“…sẽ hiểu vì sao Thủ đô HN từng đề xuất hẳn một chiến lược “trí thức hóa” cán bộ quản lý, với mục tiêu 100% cán bộ khối chính quyền diện Thành ủy quản lý có trình độ TS; 100% cán bộ diện UBND TP quản lý có trình độ trên ĐH, trong đó 1/2 có trình độ TS…”. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã cho rằng, cần phải kiên quyết tách rời học vị và địa vị, chức vụ, không nên chỉ nhìn vào bằng cấp mà bổ nhiệm. Chừng nào ở ta chưa chấm dứt được việc bổ nhiệm theo bằng cấp thì chừng đó bệnh “loạn TS” còn có nguy cơ gia tăng và thêm trầm trọng…”

Thăm Thức tháng 04/2014 – Còn có luật pháp, mình không làm gì sai thì mình cứ khiếu nại

Posted on

Kính gửi: BBT báo Dân Luận

Nhân buổi thăm Thức tháng 04 vừa qua tại trại giam Xuyên Mộc, gia đình tôi muốn gửi bài viết này đến BBT báo Dân Luận nhờ phổ biến.

Rất mong BBT báo Dân Luận quan tâm và chia sẻ cho cộng đồng.

Xin chân thành cảm ơn và mến chúc BBT báo Dân Luận phát triển và thành công.

Trân trọng,

Trần Văn Huỳnh.

PS: Bài này được đăng trên: http://tranhuynhduythucofficial.wordpress.com/

Thăm Thức tháng 04/2014 – Còn có luật pháp, mình không làm gì sai thì mình cứ khiếu nại

Bình thường do giờ giấc đi học bắt đầu lúc 8h nên tôi có thói quen dậy trễ, vậy mà sáng nay không cần hẹn giờ đồng hồ báo thức tôi đã bật dậy khi đồng hồ điểm đúng 4h sáng. Hôm nay gia đình tôi đi thăm ba tháng 4 – 2014.

Chúng tôi khởi hành từ rất sớm để tranh thủ thời gian gặp ba vì đường cuối tuần khá đông, gia đình các phạm nhân khác cũng thường thăm gặp dịp cuối tuần nên chúng tôi sợ thời gian sẽ bị cắt bớt. Nhìn mọi người lao nhao bảo nhau kiểm tra thứ này đã mang chưa, thứ kia đã mua chưa, ghé mua hai tô phở gà rồi ủ nóng cho ba Thức và bạn cùng phòng, tôi thấy được tình thương và lo lắng của mọi người dành cho ba. Khác với những lần đi thăm trước, tôi cảm nhận được sự hi vọng bừng lên trong ánh mắt của mỗi người về ngày đoàn tụ, nhất là thời gian gần đây nhà cầm quyền đã có những động thái tích cực phóng thích 3 tù nhân lương tâm. Nào là bác Nguyễn Hữu Cầu ở tù còn lâu hơn Nelson Mandela đến 10 năm; ông Cù Huy Hà Vũ chụp hình với vợ ở sân bay trông thật tươi; mọi người chọn ngày thầy Đinh Đăng Định mất là ngày Bauxit Việt Nam… tất cả chủ đề đều bàn về sự kiện trả tự do cho tù nhân lương tâm và dự đoán động thái của chính quyền như thế nào.

Huyên thuyên một hồi đến cổng trại giam lúc nào tôi còn không hay, vậy là tôi sắp được gặp ba rồi. Không một lần nào gặp ba mà cảm giác của tôi khác đi, vừa hồi hộp vừa lo lắng. Hồi hộp vì cả tháng rồi mới được gặp lại ba, còn lo lắng là không biết kể những việc gì để ba vui và an tâm về gia đình ngoài này, vì tôi biết tính ba tuy trong tù nhưng vẫn luôn động viên ngược, lo lắng khuyên nhủ đủ điều cho mọi người bên ngoài. Trong lúc chờ làm thủ tục, gia đình tôi lúc nào làm thủ tục cũng lâu vì lần nào cũng gần xấp xỉ 10 người đi thăm ba, chúng tôi có gặp người thân của hai tù nhân lương tâm khác là ba của chú Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và vợ con của bác Nguyễn Ngọc Cường. Tôi cảm thấy rất đỗi tự hào khi mọi người đều khen ba Thức, nói rằng những dự đoán về kinh tế của ba cách đây 5 năm đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Sau khi làm thủ tục xong, chúng tôi vào phòng chờ, và rồi bóng hình quen thuộc cũng xuất hiện kèm một nụ cười tươi không thể lầm lẫn vào đâu được trên môi. Lần nào ba ra cũng đem theo một món quà cho mẹ, lần này ba khoe thành tựu là quả lựu đầu tiên mà đợt trước mẹ gửi hạt giống vào để ba trồng. Nhìn những món quà nhỏ bé nhưng chan chứa tình yêu thương đằng sau đó, lần nào mắt tôi cũng rươm rướm thương ba vô hạn. Ngày còn là một tổng giám đốc, ba rất mực thương yêu hai con và mẹ. Vậy mà bây giờ ở trong tù, tuy điều kiện sinh hoạt khó khăn nhưng tính ba vẫn như vậy, vẫn luôn lo lắng cho gia đình. Từng bó rau sạch, từng cành hoa dại, từng quả lựu do ba trồng tự nó mang trong mình tình thương, sự tỉ mỉ chăm bón từ chính sức lao động của ba, những bó rau do ba trồng ngon lắm. Sau đó là màn chào sân từ mưa nụ hôn của mấy cô chú dành cho ba, ai cũng ôm hôn ba hết, có con gái do bị ba hun nhiều quá nên không hun ba được nữa. Ba Thức rất vui vì biết chị Trâm sau năm đầu làm phó chủ tịch hội sinh viên thì sang năm hai đã làm chủ tịch hội này, nhà ai cũng bảo chị Trâm giống ba, có năng khiếu lãnh đạo. Chị Trâm còn nói ba ráng khỏe, chị đang đi làm để dành tiền, sau khi ba ra sẽ dẫn ba đi Mỹ chơi. Ba Thức trầm ngâm một hồi rồi nói: “Hồi ba còn ở ngoài, tuy nhà mình đã có đi du lịch trong nước và ngoài nước, nhưng thiếu sót nhất của ba là chưa có dịp dẫn tụi con đi xuyên Việt một chuyến, Việt Nam ta còn rất nhiều cảnh đẹp mà ẩn trong đó là các tiềm năng kinh tế về du lịch chưa phát triển hết được. Nhất định sau này khi ra tù ba và cả nhà sẽ đi du lịch xuyên Việt một chuyến”.

Ba quan tâm hỏi han tình hình ngoài này. Khi nghe anh Bin, con cô sáu, đang vừa học vừa đi làm thêm để dành tiền sắm xe hơi cho tiện việc đi lại bên Mỹ, vậy là ba của con khoe ngay hồi đó vừa sang Mỹ vài ngày đã lái xe bên đó, bên đó thủ tục lấy bằng lái dễ dàng và tiện lợi hơn bên VN mình nhiều. Nhất là khi đó Mỹ đã áp dụng hệ thống định vị GPS nên vấn đề đường xá không phải là trở ngại để lái xe bên đó, ba cũng bất ngờ khi biết công nghệ đó đã có ở VN, 5 năm ở trong đó ba của con bị “lúa” đi mất rồi. Nghe tin đó ba cũng vui, vì sự phát triển của ngành truyền thông VN, để áp dụng được công nghệ GPS đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng băng thông mạng nhanh để truyền phát thông tin liên tục. Nghe tin cô sáu nói dãy nhà cho thuê ngày trước còn có người thuê bây giờ khó kiếm ra người thuê mặc dù đã hạ giá, ba nói tình hình kinh tế bây giờ rất ảm đạm, chuyến đi Nhật của Chủ tịch nước vừa rồi là để vận động Nhật trợ vốn cho VN thoát ra khỏi cái bẫy “Thu nhập bình quân”, cái bẫy này rất nguy hiểm mà trước đây ba đã cảnh báo, ba cũng khuyên mọi người cố gắng giữ công ăn việc làm ổn định trong thời buổi này, vì không có sự thay đổi nào phát huy hiệu quả bằng chính sự thay đổi thượng tầng.

Mọi người cũng quan tâm hỏi han ba về tình hình con mắt mới mổ, ba nói không sao, hai con mắt bây giờ đã bình thường như chưa từng bị gì, hai bên đã bằng độ nhau. Lần đi thăm này thấy ba của con hơi xí trai vì đen hơn, hỏi ra mới biết vì phòng nằm ở hướng Tây, một trong những phòng nóng nhất khu này mà lại vào mùa nắng nên rất nóng, tuy nhiên vì đang là mùa nắng nên muỗi cũng không nhiều như hồi mới chuyển qua. Tội ba con quá.

Nói chuyện về tình hình cuộc sống bên ngoài, một hồi thì nội dung câu chuyện được chuyển sang tình hình phóng thích tù nhân lương tâm ông Nguyễn Hữu Cầu và thầy Đinh Đăng Định, cùng việc cho đi nước ngoài chữa bệnh của bác Cù Huy Hà Vũ. Ba không bất ngờ khi nghe tin. Ba nói đó là điều bắt buộc sẽ xảy ra theo quy luật vận động của xã hội. Vấn đề là sớm hay muộn thôi, không ai có thể ngăn cản sự việc sẽ diễn ra, và điều này cho thấy sự thay đổi đang đến. Chính ba đã gửi đơn Giám đốc thẩm đến Thủ tướng và Chủ tịch nước từ trại giam, và ba nhắn gia đình: “Có quy định luật pháp rõ ràng, mình không làm gì sai, mình chỉ làm những gì luật pháp quy định thì mình cứ khiếu nại”. Gia đình nhất định một lòng làm những việc có thể làm được để đòi hỏi tự do chính đáng cho ba.

Cũng rất mừng là lần đi thăm này các chú an ninh trại giam đã đảm bảo đủ thời gian thăm gặp quy định và cũng không quá khắt khe trong nội dung trao đổi. Thế nhưng với tôi dường như bao nhiêu thời gian để nói chuyện với ba cũng không bao giờ là đủ, nhưng rồi đã đến lúc phải tạm chia tay ba thôi. Trước đó ba đã đọc cho tôi viết lại bài thơ tặng chị Trâm:

“Mẹ thương con
Những bước chân bé nhỏ
Những con đường dốc chập chững đồi gió biển
Những giờ giảng đường và những đêm thiếu ngủ
Vẫn miệt mài ngăn từng con chữ đẹp
Và chắt chiu những đồng tiền thắm đẫm mồ hôi con
Ba yêu con cô gái Việt xinh tươi
Mang trong tim một ước mơ ngời sáng
Giữa đất Mỹ bao la vẫn tự tin chinh phục
Mỗi chặng đường
Thiếu vắng ba không làm con chùng bước
Vẫn vững vàng tung tăng tha thướt
Phụ nữ Lạc Hồng sán lạn Việt Nam
Em, nhớ chị những đêm hàn huyên ríu rít
Nhỏ to chuyện con gái đời thường
Chuyện mỗi ngày, mỗi chị em một nước
Không có người cho em bảo, em sai
Í à không, là nhờ vả thôi mà
Chị chiều em, lấy đó làm hạnh phúc
Nhà đầy ắp tiếng cười chứa chan
Mẹ, dâng tràn hi vọng và niềm vui
Ba, trở về trong nắng ấm
Tiếng cười đùa hi vọng chứa chan”

Tạm biệt ba, cả nhà lên xe về thành phố. Bỗng nhiên điện thoại ông Nội reo, BBC gọi hỏi thông tin về việc bác Vi Đức Hồi được trả tự do. Gia đình chúng tôi ai cũng dâng tràn niềm vui khi nghe tin này, ai cũng tự hỏi là “khi nào sẽ đến Thức đây?” Tôi cảm nhận được sự quyết tâm của mọi người trong việc Giám đốc thẩm để đòi tự do cho ba Thức, ngày đoàn tụ sẽ không còn xa. Chỉ trong chiều hôm đó anh Nguyễn Tiến Trung cũng được trả tự do, khi đó tôi tiếc là mình không biết sớm hơn trước khi gặp ba để thông báo cho ba hay.

Con gái nhỏ của ba.