Lượm lặt trong ngày

Posted on Updated on

Em bé mò cua bắt ốc ở Điện Biên

embe

—————————————————

Tập làm văn tả bác Hồ

van

@Onnet

Điệu cười của Bầu Kiên khi rời tòa

Posted on

Sau khi phiên tòa xử Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm tạm hoãn, rời khỏi phòng xử án ra xe về trại giam, bị cáo Kiên thì tươi cười với người thân, còn bị cáo Yến mặt cúi gằm khóc.

14h30 phút chiều nay 16/4, sau khi tạm dừng phiên tòa để hội ý, Chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nguyễn Hữu Chính đã công bố quyết định tạm hoãn phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm.

HĐXX cho hay đã xem xét đơn đề nghị của bị cáo Trần Xuân Giá (SN 1939, nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB). HĐXX công bố quyết định hoãn phiên tòa vì bị cáo Trần Xuân Giá đã có đơn xin hoãn phiên tòa đi chữa bệnh, đơn có xác nhận của bệnh viện, là hoàn toàn phù hợp.

bầu-kiên, xử-án, phiên-tòa, ACB

Nụ cười Bầu Kiên khi rời tòa

Việc hoãn phiên tòa là hoàn toàn khách quan và đúng với quy định của pháp luật. Thời gian phiên tòa xét xử Nguyễn Đức Kiên sẽ được công bố trong thời gian tới.

Ngay sau khi phiên tòa tạm hoãn, các bị cáo được lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp nhanh chóng đưa ra xe chuyên dụng đưa về trại giam. Ra khỏi phòng xử án, khuôn mặt bị cáo Nguyễn Đức Kiên (SN 1964, nguyên Chủ tịch đầu tư Ngân hàng ACB) rất tươi. Thậm chí bị cáo Kiên còn nở nụ cười với người thân.

bầu-kiên, xử-án, phiên-tòa, ACB 

bầu-kiên, xử-án, phiên-tòa, ACB

bầu-kiên, xử-án, phiên-tòa, ACB

bầu-kiên, xử-án, phiên-tòa, ACB

Bị cáo Nguyễn Đức Kiên nở nụ cười với người thân trước khi lên xe trở lại trại giam.

Trước đó, trong diễn biến phiên tòa buổi sáng, bị cáo Kiên đã làm nhiều người ngạc nhiên khi yêu cầu xử nhanh các tội danh của mình.

“Tôi bị buộc tội 4 tội danh trong khi cá nhân tôi trong 20 tháng qua đã có nhiều đơn, nhiều lần trả lời các bản cung cơ quan điều tra, tôi cho rằng tôi không có tội, tôi bị oan. Do đó, tôi mong muốn phiên toà xét xử sớm”.

Và tôi cho rằng tôi không liên quan đến vụ án Huyền Như nên tôi đề nghi tòa tiến hành xét xử trước 3 tội danh không liên quan đến Trần Xuân Giá. Việc vắng mặt của ông Trần Xuân Giá không ảnh hưởng đến 3 tội danh khác mà VKSND Tối cao truy tố. Đề nghị VKS cho tiến hành phiên toà. Có thể chờ ông Giá ở phần sau vì đây là phiên toà kéo dài. Đề nghị HĐXX cho xét xử trước 3 tội danh không liên quan đến các hành vi ở ACB và sự vắng mặt của ông Trần Xuân Giá không ảnh hưởng tới các tội danh khác của tôi”, bị cáo Nguyễn Đức Kiên nói tiếp.

Bị cáo này cũng cho rằng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo trong quá trình dẫn giải là “cùm chân” là không phù hợp.

Trong một diễn biến khác, dù đã có quyết định hoãn nhưng cho đến thời điểm này, HĐXX của TAND TP. Hà Nội cho hay lịch xét xử trở lại vụ án này vẫn chưa được xác định.

(Theo Trithuctre)

‘Xiềng chân Bầu Kiên là ngược đãi’

Posted on

Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) bị xiềng

Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) bị còng tay, xiềng chân trong lúc bị dẫn giải.

Việc xiềng chân khi dẫn giải bị cáo Nguyễn Đức Kiên (tức Bầu Kiên) tại phiên tòa xử ông và một số bị cáo khác ở Ngân hàng ACB là mang tính chất ‘tiêu cực’ giống như ‘một sự ngược đãi’, ‘trù giập’ đối với ông Kiên, theo một luật sư nhân quyền từ Việt Nam.

Hôm 16/4/2014, bị cáo Nguyễn Đức Kiên đã bị xiềng xích chân, trong khi tay bị còng mặc dù đã có ít nhất vài chục công an mặc cảnh phục áp giải kề cận tại phiên sơ thẩm xử ông Kiên và những bị cáo khác trong vụ án kinh tế ở Ngân hàng ACB.

Các hình ảnh được đăng tải trên truyền thông chính thức của nhà nước cho thấy ông Kiên bị xiềng chân và có thời điểm xuất hiện trước tòa trong một đôi dép lê ‘tổ ong’, được cho là khá ‘nhếch nhác’.

Trả lời câu hỏi của BBC hôm 17/4 về việc liệu có hoàn toàn cần thiết và là điều bình thường hay không khi ông Kiên vừa phải bị còng tay, lại xích chân bị cáo này được giải trong phiên tòa, luật sư Lê Thị Công Nhân nêu quan điểm:

Chưa từng thấy một trường hợp bị can trong một vụ án, gọi nôm na là về kinh tế, lại bị xích chân như là ông Bầu Kiên, thì đây quả thực là một sự việc rất hiếm thấy, rất là đặc biệt và theo một hướng tiêu cực; mà theo tôi nó đã mang tính chất giống như là sự ngược đãi

LS Lê Thị Công Nhân

“Câu hỏi liên quan đến sự kiện ông Nguyễn Đức Kiên và hình ảnh của ông bị đưa ra phiên tòa mà ông ấy cũng phát biểu tại phiên tòa là ông phản đối việc nhân viên trại giam T16 người ta xích cả chân ông ấy, ngoài việc còng tay,

“Theo tôi, việc ông Kiên phản đối là hoàn toàn đúng đắn, bởi vì việc ngăn chặn một người nghi can của một vụ án, ngăn chặn một bị cáo để khỏi trường hợp giống như là trốn chạy, người ta thường áp dụng những biện pháp mạnh,

“Mạnh nhất có lẽ là xích chân, chỉ đối với trường hợp mà tính chất là côn đồ và manh động nó thể hiện rất là rõ rệt, từ bản chất của vụ án của bị can liên quan, cũng như là tính cách của bị can đó trong suốt quá trình người ta giam giữ, thì cảnh sát người ta được phép làm việc đó.”

‘Tiêu cực và ngược đãi’

Theo nữ luật sư nhân quyền này, việc ông Bầu Kiên, một bị cáo trong một vụ án kinh tế và lại đang ‘kêu oan’, ‘khiếu nại’ bị áp dụng hình thức khống chế đặc biệt này là điều ‘rất hiếm’.

Luật sư Công Nhân, người cũng là một cựu tù nhân chính trị, nói:

“Theo tôi thì chưa từng thấy một trường hợp bị can trong một vụ án, gọi nôm na là về kinh tế, lại bị xích chân như là ông Bầu Kiên, thì đây quả thực là một sự việc rất hiếm thấy, rất là đặc biệt và theo một hướng tiêu cực,

Bầu Kiên 

Ông Kiên đã có lý khi phản đối chính thức trước tòa về việc ông bị xích xiềng chân, theo luật sư nhân quyền.

“Mà theo tôi nó đã mang tính chất giống như là sự ngược đãi, đối với cả Bầu Kiên, khi mà ông ấy ra khỏi nhà giam và xuất hiện trước công chúng sau 20 tháng bị giam giữ.”

Khi được hỏi có khác biệt gì khi ông Kiên bị còng tay, xích chân, trong khi nhiều bị cáo trong các vụ án khác như các ông Phạm Thanh Bình (vụ xử Vinashin), Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng (vụ xử Vinalines và liên quan), bà Huỳnh Thị Huyền Như (vụ Vietinbank)… đều không ai bị áp dụng hình thức xiềng chân, dù phần lớn các bị cáo này là các bị can, bị cáo trong các đại án kinh tế, luật sư Công Nhân nói:

“Những trường hợp vừa nêu, không ít thì nhiều, các bị cáo đều thừa nhận hành vi của họ, và có thái độ tôi nói rõ là thừa nhận hành vi, tức là họ làm một số việc gì đó và họ nhận là họ có làm những việc đó, giống như kể cả tù chính trị chúng tôi,

“Nhìn nhận những sự việc mà họ làm là có tội hay không, thì chúng ta thấy là những ví dụ vừa nêu, nói chung họ đều nhận tội, nhưng trong trường hợp của ông Nguyễn Đức Kiên, thì chúng ta thấy rằng là ngay trong buổi sáng hôm qua, khi ông ra tòa, thì ông ấy đã tuyên bố là ông ấy vô tội,

“Và điều ấy là một sự xuyên suốt khi mà ông ấy nói là 20 tháng tù, ông ấy đã gửi không biết bao nhiêu là đơn thư tới những nơi để mà kêu oan, để mà khẳng định ông ấy vô tội.”

‘Phải theo ý nhà tù’

Nhưng ở Việt Nam thì vận động đã biến thành cưỡng bức, đấy là một sự thực và thường thì người tù không thể nào đủ sức để chống lại những mệnh lệnh như là phải cắt tóc, hoặc là phải mặc bộ quần áo theo như ý mà nhà tù muốn

LS Lê Thị Công Nhân

So sánh với kinh nghiệm bản thân khi từng bị tù giam trước đây, luật sư Công Nhân cho rằng ông Kiên đã bị ‘trù dập, ngược đãi’, luật sư nói:

“Theo như kinh nghiệm của tôi khi đã ở trong tù, cách mà ông ấy bị đối xử như vậy rõ ràng là một sự cố ý mang tính chất là trù dập và ngược đãi, bởi vì họ đã không biết làm cách nào để khuất phục ông ấy phải nhận tội,

“Trong suốt hai mươi tháng giam giữ, ông ấy liên tục kêu oan một cách có hệ thống, một cách thống nhất chứ không phải là (như) người ta hay dùng từ gọi là phản cung, ông ấy không phải trường hợp như vậy.”

Theo luật sư Công Nhân bản thân ông Nguyễn Đức Kiên và các luật sư được ông ủy thác bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông trước Tòa trong vụ án hoàn toàn ‘có quyền’ được khiếu nại và yêu cầu các cơ quan thực thi pháp luật chấm dứt sử dụng các hình thức mà bà gọi là ‘ngược đãi’.

Nhân dịp này, luật sư nhân quyền nêu quan điểm cho rằng chính quyền và các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam, trong đó có tòa án và ngành công an, cần xem lại các hành vi được cho là ‘vi phạm nhân quyền và nhân phẩm’ của các bị can, bị cáo, tù nhân, trong đó có các hành vi như ‘cạo trọc đầu’ nghi can, làm người bị tình nghi xuất hiện trước tòa án, truyền thông, báo giới trong những bộ quần áo, hình thức bên ngoài có thể gây cảm giác ‘đối tượng là tội phạm’ đã được Tòa án và pháp luật kết luận.

  “Yên tâm, yên tâm! Không sao đâu! Cả nhà cứ yên tâm đi, nhá

Ông Nguyễn Đức Kiên nói với người nhà

Luật sư nói: “Tôi khẳng định là không có những quy định nào bắt buộc mà họ (cơ quan công quyền) luôn dùng hình thức vận động, nhưng mà nếu như một chính quyền tử tế và những nhân viên công quyền hiểu biết pháp luật, tuân thủ đúng nguyên tắc thượng tôn pháp luật, thì vận động nó sẽ đúng là vận động,

“Nhưng ở Việt Nam thì vận động đã biến thành cưỡng bức, đấy là một sự thực và thường thì người tù không thể nào đủ sức để chống lại những mệnh lệnh như là phải cắt tóc, hoặc là phải mặc bộ quần áo theo như ý mà nhà tù muốn.”

Hôm thứ Tư, một số báo chí của Việt Nam đã không chỉ đăng tải ảnh chụp mà còn cả clip video cho thấy bị cáo Nguyễn Đức Kiên bị xiềng xích ở chân, một số clip trên báo chính thức còn ghi âm và tường thuật ông Kiên nói:

“Yên tâm, yên tâm! Không sao đâu! Cả nhà cứ yên tâm đi, nhá!”, ông Kiên vừa bước đi trong sự dẫn giải của số đông cảnh sát mặc sắc phục, vừa nói trong clip.

@bbc

Michel Chossudovsky – Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Posted on

Ngọc Thu dịch

Lời người dịch: 30-4: Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Bạn có biết: Việt Nam đã từng trả nợ chiến tranh cho Mỹ? Việt Nam đã trả các khoản vay của chính quyền Sài Gòn thời chiến tranh, để đổi lấy các khoản vay mới của Mỹ và phương Tây và đó cũng là điều kiện để Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN.

Đó là cái giá mà chính phủ CSVN, hay nói đúng hơn là người dân VN đã phải trả, do chính phủ CSVN không chịu bình thường hóa quan hệ với Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cứ khăng khăng đòi bồi thường chiến phí 3,25 tỉ Mỹ kim. Tiền bồi thường của Mỹ ở đâu không thấy, chỉ thấy sau đó phía VN phải bỏ tiền ra bồi thường chiến phí.

Thắng trong chiến tranh, nhưng chỉ 20 năm sau chính phủ CSVN đã phải đầu hàng Mỹ về kinh tế.

Đây là bài viết của GS Michel Chossudovsky về những thỏa thuận bí mật giữa chính phủ CSVN với các tổ chức tài chính quốc tế trước năm 1995.

Ngọc Thu

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc bằng lực lượng cộng sản chiếm giữ Sài Gòn và sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ấy trong Dinh Tổng thống. Khi đội quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Sài Gòn, các nhân viên Hoa Kỳ và lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã vội vã sơ tán từ nóc tòa nhà Đại Sứ quán Mỹ. Hai mươi năm sau, một câu hỏi cơ bản vẫn chưa có lời giải đáp: Ai đã thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam?

Việt Nam chưa bao giờ nhận được khoản tiền bồi thường nào cho chiến tranh từ Mỹ về các tổn thất nhân mạng rất lớn và sự tàn phá [của chiến tranh], nhưng một thỏa thuận đã đạt được ở Paris vào năm 1993, yêu cầu Hà Nội nhận các khoản nợ của chính quyền Sài Gòn, một chính quyền không còn tồn tại nữa của Tướng Thiệu. Bản thoả thuận này có nhiều chỗ tương đương với việc bắt buộc Việt Nam bồi thường cho Washington các phí tổn chiến tranh.

Ngoài ra, việc áp dụng sâu rộng cải cách kinh tế vĩ mô dưới sự giám sát của các định chế Bretton Woods cũng là một điều kiện cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận của Mỹ. Những cải cách thị trường tự do này hiện đã định đoạt học thuyết chính thức của Đảng Cộng sản.

Qua việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Washington vào năm 1994, việc nhắc đến vai trò tàn bạo của Mỹ trong chiến tranh đang ngày càng được xem như không đúng lúc và không thích hợp. Không ngạc nhiên, Hà Nội đã quyết định dịu giọng trong lễ kỷ niệm Sài Gòn đầu hàng để không phải xúc phạm đến kẻ thù trong chiến tranh trước đây của họ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản gần đây đã nhấn mạnh “vai trò lịch sử” của Hoa Kỳ trong việc “giải phóng” Việt Nam từ chế độ Vichy (Pháp) và sự chiếm đóng của Nhật Bản suốt Đệ Nhị Thế chiến.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các đặc vụ Mỹ của Cục Tình báo Chiến lược (OSS: tiền thân của CIA ngày nay) đã có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh. Trong khi Washington đã cung cấp vũ khí và hỗ trợ tài chính cho phong trào kháng chiến Việt Minh, chiến lược này phần lớn được thiết kế để làm suy yếu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của Đệ Nhị Thế chiến, mà không có cam kết gửi lực lượng bộ binh Mỹ tới với số lượng lớn.

Ngược lại với bầu không khí dịu giọng và hạn chế trong kỷ niệm đánh dấu chiến tranh Việt Nam kết thúc, lễ kỷ niệm 50 năm ngày độc lập được cử hành long trọng, với một loạt các nghi lễ và các hoạt động chính thức bắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến Tết âm lịch.

Việt Nam bồi thường chiến tranh

Trước khi “bình thường hóa” quan hệ với Washington, Hà Nội đã bị buộc phải trả các khoản nợ xấu phát sinh của chế độ Sài Gòn do Mỹ hậu thuẫn. Tại hội nghị các nhà tài trợ tổ chức ở Paris hồi tháng 11 năm 1993, các khoản vay và số tiền viện trợ tổng cộng gần 2 tỷ Mỹ kim đã được cam kết để hỗ trợ cho cải cách thị trường tự do ở Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau khi hội nghị, một cuộc họp bí mật đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris (Paris Club).

Tại cuộc họp này, có sự góp mặt của đại diện các chính phủ phương Tây. Về phía Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Oánh, cố vấn kinh tế cho Thủ tướng, đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán.

Tiến sĩ Oánh, một cựu quan chức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đã giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và sau đó là Quyền Thủ tướng trong chính quyền quân sự của Tướng Dương Văn Minh, mà Mỹ đưa vào hồi năm 1963 sau vụ ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em trai. Tiến sĩ Oánh, trong khi giữ vai trò trung gian, chính thức thay mặt chính quyền cộng sản, dù sao cũng đã đáp ứng được nhu cầu của các chủ nợ phương Tây.

Các thỏa thuận đã được ký kết với IMF (đã được công bố) phần lớn chỉ là tượng trưng. Số lượng không đáng kể: Hà Nội buộc phải trả cho IMF 140 triệu đô (thuộc sở hữu của chính quyền Sài Gòn) như một điều kiện để nối lại các khoản vay mới. Nhật Bản và Pháp, những chủ nhân thuộc địa cũ của Việt Nam giai đoạn Vichy, hình thành cái gọi là “Những người bạn của Việt Nam” để cho Hà Nội vay số tiền cần thiết để hoàn trả cho IMF.

Tuy nhiên, sự sắp xếp gia hạn các khoản nợ song phương (của chế độ Sài Gòn) không bao giờ được tiết lộ. Nhưng cuối cùng thì thỏa thuận bí mật này (đạt được dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris) là công cụ quyết định để Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa các quan hệ ngoại giao. Việc sắp xếp này cũng là yếu tố quyết định trong việc tháo khoán các khoản vay đã được cam kết tại hội nghị các nhà tài trợ năm 1993, do đó Việt Nam bị đặt dưới sự ủy thác của các chủ nợ Nhật Bản và phương Tây. Như vậy, chỉ 20 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã đầu hàng về mặt kinh tế.

Bằng cách công nhận hoàn toàn tính hợp pháp của các khoản nợ, Hà Nội đã đồng ý hoàn trả các khoản vay đã hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Hơn nữa, chính phủ của ông Võ Văn Kiệt cũng đã chấp nhận thực hiện đầy đủ các điều kiện thông thường (giảm giá, tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, v.v.) của một chương trình điều chỉnh cơ cấu do IMF tài trợ. Những cải cách kinh tế này ra mắt vào giữa thập niên 1980 với các định chế Bretton Woods, trong hậu quả chiến tranh tàn khốc, đã khởi đầu một giai đoạn mới về sự tàn phá kinh tế và xã hội: lạm phát đã dẫn đến phá giá liên tục, bắt đầu từ năm 1973 dưới chế độ Sài Gòn, năm theo sau sự rút lui của quân đội Hoa Kỳ. Ngày nay, một lần nữa Việt Nam tràn ngập các ghi chú bằng đô la Mỹ, đã thay thế phần lớn tiền đồng Việt Nam. Với giá cả tăng cao, thu nhập thực tế đã giảm xuống tới mức thấp nhất.

Lần lượt những cải cách đã ồ ạt giảm năng lực sản xuất. Hơn 5.000 trong số 12.300 doanh nghiệp nhà nước đã bị đóng cửa hoặc được chỉ đạo phá sản. Các hợp tác xã tín dụng đã bị loại bỏ, tất cả các khoản tín dụng dài hạn và trung hạn cho ngành công nghiệp và nông nghiệp đã bị đóng băng. Chỉ tín dụng ngắn hạn là có sẵn, với lãi suất 35%/ năm (năm 1994). Ngoài ra, thỏa thuận IMF đã cấm nhà nước cung cấp hỗ trợ ngân sách, hoặc cho nền kinh tế nhà nước hoặc cho một khu vực tư nhân mới chớm nở.

Chương trình nghị sự về những cải cách đã bị che giấu này bao gồm nền tảng công nghiệp mất ổn định ở Việt Nam. Các ngành sản xuất công nghiệp nặng, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và khai thác khoáng sản, xi măng, sắt thép sẽ được tổ chức lại và được thực hiện dựa trên số vốn nước ngoài. Tài sản nhà nước có giá trị nhất sẽ được chuyển giao để củng cố và duy trì cơ sở công nghiệp, hoặc để phát triển một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thuộc sở hữu và kiểm soát bởi dân chúng.

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, hơn một triệu công nhân và hơn 20.000 công nhân viên chức (trong đó đa số là nhân viên y tế và giáo viên) đã bị sa thải. Lần lượt, nạn đói địa phương đã nổ ra, ảnh hưởng đến ít nhất một phần tư dân số cả nước. Những sự đói khát này không giới hạn ở các khu vực thiếu lương thực. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam, 25% số dân trưởng thành tiêu thụ chưa tới 1.800 calories mỗi ngày. Ở các thành phố, sự mất giá của tiền đồng cùng với việc loại bỏ trợ cấp và kiểm soát giá cả đã dẫn đến giá gạo và các nhu yếu phẩm khác tăng vọt.

Những cải cách này đã dẫn đến việc cắt giảm mạnh mẽ các chương trình xã hội. Với việc áp dụng học phí, ba phần tư trong số một triệu trẻ em bỏ học khỏi hệ thống trường công trong vài năm (từ 1987-1990). Các trạm y tế và bệnh viện sụp đổ, sự hồi sinh của một số bệnh truyền nhiễm như sốt rét, lao phổi và tiêu chảy được Bộ Y tế và các nhà tài trợ nhận ra. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận rằng, số người tử vong do bệnh sốt rét tăng gấp ba lần trong bốn năm đầu của thời kỳ cải cách, cùng với sự suy sụp của việc chăm sóc sức khỏe và giá cả các loại thuốc chống sốt rét tăng vọt. Chính phủ (dưới sự hướng dẫn của các nhà tài trợ quốc tế) cũng đã ngưng hỗ trợ ngân sách để cung cấp các thiết bị y tế và bảo trì, dẫn đến tình trạng tê liệt toàn bộ hệ thống y tế công cộng. Tiền lương thật sự của nhân viên y tế và điều kiện làm việc đã giảm đáng kể: tiền lương hàng tháng của các bác sĩ y tế tại một bệnh viện huyện thấp tới mức $15 một tháng.

Mặc dù Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường, nhưng hai thập niên sau đó Việt Nam dường như đã đầu hàng kẻ thù chiến tranh trước đây của mình về mặt kinh tế.

Không có những quả bom viên bằng thép hay màu cam, không có bom napalm, không có hóa chất độc hại: một giai đoạn mới của sự hủy diệt kinh tế và xã hội đã diễn ra. Những thành tựu của cuộc đấu tranh trong quá khứ và nguyện vọng của một quốc gia toàn vẹn chưa hoàn thành và đã bị xóa gần như với một nét bút (chữ ký).

Điều kiện nợ và điều chỉnh cơ cấu dưới sự ủy thác của các chủ nợ quốc tế tạo ra do hậu quả của chiến tranh Việt Nam, một công cụ thuộc địa bất bạo động chính thức và hiệu quả như nhau và sự bần cùng hóa ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.

——

Tác giả: Michel Chossudovsky là giáo sư kinh tế tại Đại học Ottawa và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa.

Bài viết trên đã được viết năm 1995, đầu tiên được đăng tải vào ngày 30 tháng 4 năm 1995, trong bối cảnh kỷ niệm 20 năm “Giải phóng Sài Gòn”.

Một bài phân tích sâu hơn dựa trên những nghiên cứu thực tế được tiến hành ở Việt Nam, tập trung vào những cải cách tân tự do của Hà Nội, sau đó đã được đăng trong cuốn sách của Michel Chossudovsky, The Globalization of Poverty, ấn bản đầu tiên năm 1997, ấn bản thứ hai vào năm 2003.

Nguồn bản gốc: http://www.globalresearch.ca/who-won-the-vietnam-war/172

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/BasamVN/posts/619964634763977

Những “yếu huyệt” của Việt Nam: Nợ công, TPP, tù nhân lương tâm Chính trị – xã hội

Posted on

Nguyễn Hữu Quý
1. Nợ công đã vượt GDPHôm 14.4.2014, báo tuoitre.vn, trong bài viết: “Nợ công sắp tới ‘làn ranh đỏ’”(2), bài báo cho biết:

“Theo phân tích của TS Phạm Thế Anh – trưởng bộ môn Kinh tế vĩ mô Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, nợ công VN đã lên đến khoảng 90 tỉ USD, nếu tính cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì khoảng 180 tỉ USD”.

Như vậy, nếu hiểu “nợ công” là “tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách”, thì nợ công của Việt Nam đã vượt quá Tổng sản phẩm quốc nội-GDP (GDP của Việt Nam năm 2013 là 176 tỷ USD)(3).

Nếu như liên hệ với tình hình đang hỗn loạn, có nguy cơ tan rã quốc gia và nội chiến ở Ukraine hiện nay, với tổng nợ nước ngoài là 140 tỷ USD, chiếm khoảng 80% GDP của Ukraine, thì Việt Nam cũng rất có thể sẽ rơi vào sự hỗn loạn tương tự.

Cũng bài báo trên cho biết: “chưa tính trả gốc, riêng tiền trả lãi trung bình đã cần khoảng 6 tỉ USD/năm”.

Trong một bài viết khác, đăng trên báo dantri.com.vn, vào hôm 11.4.2014(4); theo đó, trong năm 2014, Việt Nam dự kiến trả nợ khoảng 208.883 tỷ đồng (khoảng 10 tỷ USD); ngoài ra, còn phải “thực hiện vay mới để đảo một phần nghĩa vụ nợ đến hạn”;

Vậy là, mỗi năm Việt Nam phải bỏ ra khoảng 120 ngàn tỷ đồng chỉ để trả lãi vay; và nếu tính cả lãi và gốc, thì trong những năm tới, mỗi năm Việt Nam phải bỏ ra khoảng 10 tỷ USD để trả gốc và lãi vay. Còn hiện tại, Việt Nam đang phải đi vay để đảo nợ ngân hàng do một số khoản vay đã đến hạn, ngoài ra Việt Nam còn phải đi vay để chi tiêu như báo chí đã đưa tin.

Năm 2013, tổng thu ngân sách của Việt Nam là 810.000 tỷ đồng (khoảng 40 tỷ USD), trong đó, cũng trong năm 2013, chi thường xuyên là khoảng 675.000 tỷ đồng (khoảng 33 tỷ USD)(5).

Như vậy, có thể nói, về cơ bản, thu ngân sách của Việt Nam chủ yếu chỉ đủ chi cho chi thường xuyên (tạm hiểu là hành chính công và các khoản chi có liên quan đến hoạt động của bộ máy nhà nước).

Việt Nam hiện nay, không có bất kỳ một sản phẩm nào để được thế giới biết đến, ngoại trừ là nước xuất khẩu gạo. Nhưng mỗi năm, nguồn thu từ xuất khẩu gạo cũng chỉ từ 3-4 tỷ USD (tùy theo từng năm, và những năm gần đây đang có xu hướng giảm do chất lượng gạo VN ngày một xấu; đặc biệt, do cơ chế độc quyền của Hiệp hội lương thực Việt Nam VFA, đã làm cho ngành sản xuất lúa của Việt Nam đang trên đà lụn bại…).

Có thể khẳng định: Toàn bộ các công trình đầu tư trong vài chục năm trở lại đây mà chúng ta thấy hiện diện trên Đất nước, đều là những khoản tiền đi vay. Và con cháu có trách nhiệm trả nợ. Trong khi tài nguyên thiên nhiên thì chỉ ít năm nữa, thế hệ hôm nay xem như đã khai thác bán đi gần hết.

Một quốc gia, không có thế mạnh tầm quốc tế, dù chỉ một mặt hàng, trong khi nợ công vượt quá Tổng sản phẩm quốc nội-GDP, thì nền kinh tế đó chắc chắn sẽ sụp đổ. Có thể nói, “yếu huyệt” kinh tế của Việt Nam sẽ biến thành “tử huyệt” để kéo theo mọi sự bất ổn khác.

2. TPP – cứu cánh hay yếu huyệt?

(Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương – tiếng Anh: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - viết tắt TPP).

Việc được kết nạp là thành viên của TPP, đang là điều rất quan trọng và là kỳ vọng của Chính phủ Việt Nam hiện nay.

Thực ra, với một nền sản xuất yếu kém, hầu hết nguyên liệu là nhập khẩu, lại bị Trung Quốc thâu tóm hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế… thì trong ngắn hạn, TPP với Việt Nam không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, với sự khôn lỏi vốn có của người Việt và của lãnh đạo Việt Nam từ trước đến nay, thì lợi dụng TPP cho những toan tính cục bộ trước mắt mới là đáng kể.

Việc Trung Quốc đầu tư gần 500 triệu USD cho ngành Dệt May trên địa bàn một tỉnh nhỏ như Nam Định, chắc chắn sẽ lợi cho Trung Quốc là chính, đồng thời cũng là lợi ích cho những kẻ đang “thân Tàu” trong mưu đồ của họ. Cũng đã có những cái nhìn khác về việc tham gia TPP, chẳng hạn: “TPP không phải là màu hồng”(6); vì thực ra, để hưởng lợi thực sự từ TPP, thì Việt Nam phải thay đổi một loạt về chính sách, theo hướng thị trường tự do…; trong khi độc đảng lãnh đạo, lợi ích của các phe nhóm lại quyết định đến các chính sách của Việt Nam.

Chính phủ cũng như lãnh đạo Việt Nam kỳ vọng vào việc gia nhập TPP vì các lý do:

- Nếu sớm là thành viên TPP, thì cũng là một cách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trong điều kiện đang bị chững lại do nhiều nguyên nhân; Nếu biết được rằng, nguồn thu ngân sách của Việt Nam trong những năm qua phần lớn là ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thì mới thấy được, việc được gia nhập TPP có ý nghĩa thế nào trong giai đoạn hiện nay. (Với các doanh nghiệp trong nước, hoặc thua lỗ, hoặc cầm cự để không bị phá sản đã là may mắn. Thực tế trong vài ba năm qua, khoảng 200 ngàn doanh nghiệp trong nước phá sản nói lên điều đó).

- Vì TPP là tác phẩm của Mỹ, Mỹ đang muốn thông qua TPP để thực hiện nhiều mục tiêu mang tầm quốc tế của Mỹ, cho nên lãnh đạo Việt Nam dựa vào đây để có thể “ra giá” về một số lĩnh vực trong quan hệ với Mỹ.

- Việt Nam cần dựa vào TPP để từng bước thoát ra khỏi quỹ đạo của Trung Quốc, mà đến thời điểm này, ngay cả phe “thân Tàu” cũng xét thấy, đi theo họ (Bắc Kinh) sẽ gặp nhiều rủi ro, và có thể là sai lầm, thậm chí là tai họa đối với họ.

- Về dài hạn, TPP sẽ có tác động tích cực đối với Việt Nam. Ít nhất là sau 5 năm nữa, với sự đổi mới thành tâm và tích cực (thay đổi cơ chế, tái cơ cấu các ngành hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ TPP…), thì TPP mới thực sự mang lại hiệu quả đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Như vậy, việc gia nhập TPP mang tính hai mặt, vừa tích cực và lại vừa tiêu cực (yếu tố Trung Quốc) đối với Việt Nam.

3. Tù nhân (những người đòi tự do, dân chủ…; hay còn gọi là “tù nhân lương tâm”)

Đất nước đã thống nhất gần 40 năm, Đảng cộng sản Việt Nam, với vị thế độc quyền lãnh đạo, có trong tay mọi cơ hội, vận hội để trở thành một Đảng tiên tiến…, nhưng tiếc thay, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn không thể vươn lên đủ tầm để lãnh đạo Đất nước theo hướng văn minh.

Không biết ở các nước “đế quốc” hoặc “phát xít” trươc đây, như: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Nhật, mà hiện nay đang là những nước văn minh hàng đầu thế giới, trong hệ thống pháp luật của họ, có các điều tương tự như “Tội tuyên truyền chống Nhà nước” (điều 88 – Bộ luật hình sự VN), hoặc “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (điều 258 – Bộ luật hình sự VN)? Rõ ràng, họ không có những điều ấy. Một đất nước, một thể chế văn minh, họ không sợ công dân của họ làm những điều ấy. Ngược lại, chính tiếng nói trái chiều dù là của cá nhân, hay tổ chức, thì sẽ giúp Nhà nước hoàn thiện văn bản pháp luật cũng như điều chỉnh cách quản lý xã hội phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Rõ ràng, trong hệ thống quản lý nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới, họ không phải nuôi một lực lượng công an chỉ để theo dõi “các thế lực thù địch” là chính Nhân Dân ruột thịt của mình.

Cũng chính vì còn có khái niệm gọi là “tù nhân lương tâm”, cho nên Nhà nước Việt Nam đang thể hiện một gương mặt xấu xí trong cộng đồng thế giới, và đang bị coi thường trong các nước phát triển (ngay cả một cường quốc kinh tế là Trung Quốc, nhưng trong chuyến thăm nước Đức vừa rồi, Thủ tướng nước Đức, bà Angela Merkel, coi thường ông ta qua việc bà tặng ông này tấm bản đồ…). Nhân Dân thế giới nhìn vào Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam, cũng kỳ dị, giống như Nhân Dân Việt Nam nhìn vào Triều Tiên hôm nay. Lịch sử sẽ đào thải những thế chế chính trị như thế.

Đứng trước nguy cơ tan rã, kéo theo nhiều vấn đề ở một đất nước đông dân nhất thế giới như Trung Quốc, chúng ta thấy, Tập Cận Bình đang có những cải cách mạnh mẽ, qua đó, bộc lộ ra trong xã hội Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc nhiều những vấn nạn vượt ngoài sức tưởng tượng của nhiều người Việt Nam. Nhưng ngược lại, những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay, mặc dù luôn lấy Bắc Kinh là bài học, cho họ là những người thầy của mình…, nhưng lại không dám làm, bởi đơn giản, họ không đủ bản lĩnh và trí tuệ để làm như thế.

Một vài dự đoán

Trên diễn đàn Internet đã có nhiều dự đoán về tình hình của Đất nước cũng như dự đoán sự thay đổi trong đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Việc dự đoán về những thay đổi trong đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam là vô cùng khó, bởi vì chưa có thời điểm nào trong suốt 84 năm kể từ ngày thành lập, nay Đảng cộng sản Việt Nam lại đang đứng trước thử thách toàn diện như hiện nay, mâu thuẫn nội bộ, những nhóm lợi ích… Đặc biệt, sự phụ thuộc sâu rộng vào Bắc Kinh đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

Sau đây là một vài dự đoán về sự thay đổi trong lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam trong thời gian tới:

1. Bộ Chính trị, mặc dù còn những mâu thuẫn nội bộ, nhưng cũng đã ý thức được sự sụp đổ của Đảng trong thời gian tới. Và vì vậy, cùng thống nhất một điểm chung, đó là phải tìm giải pháp để thoát ra.

2. Rất có thể tới đây sẽ có đợt “đặc xá” trên quy mô lớn, nhân dịp 30/4 và 01/5, tiếp đến là các đợt 19/8 và 02/9. Có thể bài học Myanmar thả tù nhân Chính trị sẽ được lãnh đạo Việt Nam hiện nay áp dụng, tức là thả phần lớn tù nhân trong năm 2014.

3. Không như ở bên Trung Quốc, họ muốn là họ làm (không phụ thuộc nước ngoài), trong khi Việt Nam lại phụ thuộc nhiều vào Bắc Kinh, đây là vấn đề rất khó của Việt Nam. Chính vì vậy, phải dựa vào Đại hội Đảng lần thứ XII, dự kiến tổ chức vào 2016 mới kết hợp để thay đổi được, ngoại trừ các biến cố khác ngoài sự tính toán của Đảng.

Câu đối đáp của cụ Ngô Thì Nhậm (1746-1803) với Đặng Trần Thường, trong vụ trả thù của Nguyễn Ánh với các quan Tây Sơn, cách đây hơn 200 năm, có vẻ đúng với lịch sử hôm nay chăng?

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”.

14-16.4.2014

N.H.Q.

Bài có liên quan:

(1) CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011) http://www.xaydungdang.org.vn/Home/vankientulieu/Van-kien-Dang-Nha-nuoc/2011/3525/CUONG-LINH-XAY-DUNG-DAT-NUOC-TRONG-THOI-KY-QUA-DO-LEN.aspx

(2) Nợ công sắp tới “lằn ranh đỏ” http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/602647/no-cong-sap-toi-lan-ranh-do.html

(3) Thủ tướng: GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 1.960 USD http://dantri.com.vn/kinh-doanh/thu-tuong-gdp-binh-quan-dau-nguoi-nam-2013-dat-1960-usd-811231.htm

(4) Năm nay Việt Nam sẽ vay và trả nợ bao nhiêu? http://dantri.com.vn/su-kien/nam-nay-viet-nam-se-vay-va-tra-no-bao-nhieu-860872.htm

(5) Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2013 tăng hơn 200 nghìn tỷ đồng http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Tong-thu-ngan-sach-Nha-nuoc-nam-2013-tang-hon-200-nghin-ty-dong-post136458.gd

(6) TPP Không phải là màu hồng http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/tpp-khong-phai-mau-hong-201403061342253736ca33.chn

(7) Giật mình với thu nhập của người Việt Nam so với khu vực http://nld.com.vn/cong-doan/giat-minh-voi-thu-nhap-cua-nguoi-viet-nam-so-voi-khu-vuc-2012033107222749.htm

Tháng tư – nhìn lại : Nguyễn Ngọc Ngạn và chuyến tàu đau thương

Posted on

Câu chuyện vượt biển kinh hoàng của Nguyễn ngọc Ngạn – Nhà văn – MC của Thúy Nga Paris by night
Ðời người, ai cũng có những kỷ niệm, đau thương hay hạnh phúc. Kỷ niệm đôi khi chỉ thoáng qua, mờ nhạt như áng mây bay ngang bầu trời, để lại chút hình ảnh bâng khuâng. Nhưng cũng có khi hết sức sâu đậm, đến nỗi có thể coi là một biến cố, khả dĩ tạo thành khúc rẽ quan trọng cho cuộc đờị Ðó là trường hợp của tôi với câu chuyện xảy ra hơn 20 năm về trước mà giờ này ngồi ghi lại, tôi vẫn thấy hiển hiện như mới hôm qua.Ngày ấy, miền Nam vừa đổi chủ được 3 năm, tình hình chính trị còn cực kỳ khắt khe Ðã thế, chính sách áp dụng lại không đồng nhất, mỗi phường mỗi tổ là một lãnh chúa, phát huy sáng kiến mà bức chế nhân dân. Tôi ở trại cải tạo, cầm tờ giấy tha vào giữa năm 78, về trình diện Sở Giáo Dục Thành Phố cho đúng thủ tục, dù biết trước sẽ không được thu nhận trở lại nghề cũ . Không có nghề nghiệp biên chế, tôi chỉ được tạm trú 3 tháng tại Sài Gòn để thu xếp đi vùng kinh tế mới . Thời gian này, miền Nam đang lên cơn sốt về phong trào vượt biên tìm tự do . Những người ở vào hoàn cảnh của tôi, bị công an khu vực theo dõi và hăm dọa thường xuyên thì lại càng nôn nóng kiếm đường bỏ trốn. Những người bạn tù chúng tôi ngày ngày đôn đáo gặp nhau, đề tài chính đem ra bàn bạc chỉ xoay quanh một chuyện duy nhất là vượt biên. 

Thời gian trôi qúa nhanh, trong nháy mắt đã hết hạn tạm trú, tôi trở thành kẻ sống lậu không hộ khẩu tại thành phộ Giữa lúc lao đao tuyệt vọng, không biết ngày nào bất ngờ bị bắt lại, thì một hôm em trai tôi giới thiệu cho tôi một đầu cầu qúy giá: đó là ông Ân, một người đàn ông trí thức, tuổi vừa 50, tính tình hiền hoà và đứng đắn. Ông là nhân viên lâu đời của cơ quan viện trợ Hoa Kỳ trước 75, đồng thời góp phần chuyển âm Anh-Pháp cho hãng phim Cosunam ở Sài Gòn. Vì làm ăn chung với em tôi từ sau 75, nên ông có lòng tốt rủ em tôi cùng đi với ông trong chuyến vượt biển bán chính thức vốn dành riêng cho người Hoa đang rầm rộ đăng ký lúc đọ Thông cảm hoàn cảnh bấp bênh của tôi,em tôi giới thiệu tôi với ông, để xem ông có giúp gì được tôi chăng ? Ði bán chính thức lúc ấy đắt tiền lắm, vì đang là những đợt đầụ Có người nộp tới 12 hoặc 14 cây vàng, vì phải qua nhiều trung gian. Còn gía trung bình thì ít ra cũng phải 10 lượng một ngườị Tôi mới ở tù ra, làm gì có số tiền khổng lồ ấy!

Bà xã tôi bận con nhỏ — khi tôi đi tù thì cháu mới hơn 1 tuổi — cho nên chỉ buôn bán vớ vẩn, đủ nuôi con và tiếp tế cho chồng là giỏi lắm rồị Số vốn ít ỏi của vợ tôi lại cứ vơi dần sau mấy chuyến đi chui bất thành. Con đường bán chính thức mua vé bằng cả chục lượng vàng, là điều vượt qúa sự kỳ vọng của tôi, trừ khi có một phép lạ! Vậy mà phép lạ dường như đang xảy đến!

Hôm ấy, một buổi tối khoảng đầu tháng 11, gia đình em tôi đưa tôi lại quán bò bảy món Duyên Mai bên Chi Lăng, để gặp ông Ân lần đầu tiên. Tôi lúc này đang trốn chui trốn nhủi vì đã hết hạn nộp hộ khẩu từ lâu, phải xoay đủ mọi thứ giấy tờ lao động để qua mặt công an khu vực, nấn ná lưu lại thành phố được ngày nào hay ngày nấỵ Khu vực Công giáo tôi cư ngụ lại hay xảy ra những vụ bắt bớ bí mật, vì những tin đồn về các tổ chức Phục Quốc — cả thật lẫn giả — làm liên lụy đến khá nhiều người vô can. Trước năm 75, tôi có dạy một ít giờ tại 2 trường tư thục Công giáo là trung học Quang Minh ở nhà thờ Vinh Sơn đường Trần Quốc Toản, và trung học Saint Thomas trên đường Trương Minh Giảng. Nhà thờ Vinh Sơn là nơi phát khởi vụ nổi dậy chống chính quyền đầu tiên, sau 30 tháng 4 năm 75, và linh mục Nguyễn Quang Minh bị bắt ngay sau đọ Cha Vàng ở trường Saint Thomas cũng đã bị bắt, vì nghe đồn bị vu cáo có giấu vũ khí trong khuôn viên trường học. Khi tôi ở trại cải tạo về, công an có gọi tôi ra và thẩm vấn về quan hệ của tôi với hai vị linh mục nàỵ Có thể đó chỉ là những câu hỏi thủ tục về lý lịch, nhưng cũng làm tôi hết sức lo sợ, bởi xã hội không có luật pháp rõ ràng. Một khi công an nghi ngờ, thì sớm muộn gì cũng vào tù . Bởi vậy, tôi càng nôn nóng muốn trốn đi .

Tối hôm ấy, gặp ông Ân ở nhà hàng, tôi bàng hoàng xúc động khi ông cho biết ông sẵn lòng đóng tiền cho vợ chồng tôi đi cùng chuyến với ông và em tôị Nghĩa là ông cho tôi vay 20 lượng vàng, qua Mỹ đi làm trả lạị Vợ chồng tôi chỉ cần góp 5 lượng cho đứa con mà thôi! Tôi như người đi trên mây, buồn ngủ gặp chiếu manh, không ngờ đời mình có lúc gặp qúi nhân dễ dàng như thế này! Dĩ nhiên, qua trung gian em trai tôi, ông Ân mới dám tin là tôi sẽ trả ông sau khi đến Hoa Kỳ . Nhưng dù sao đi nữa, việc ông giúp một người xa lạ như tôi, trong hoàn cảnh này, phải coi là một phép lạ mà tôi không mường tượng trước được, nhất là ở thời kỳ gạo châu củi quế năm 78. Bà Ân ngồi cạnh chồng chỉ cười hiền hoà không có ý kiến gị Lúc đó bà 39 tuổi, thua chồng hơn 10 tuổị Sáu đứa con, đứa nào cũng xinh xắn và ngoan hiền. Sau đó, tôi còn được biết thêm. Ông Ân cho tới 18 người vay tiền đi, tổng cộng là gần 200 lượng vàng!

Những ngày hồi hộp trôi qua rất chậm, tôi nôn nóng chỉ sợ chuyện bất trắc xẩy ra trước khi lên đường. Tôi vẫn hăng hái tham gia công tác thủy lợi tại địa phương, hoặc tự nguyện dạy lớp bổ túc văn hóa ban đêm trong tổ dân phố, để tránh sự chú ý của công an khu vực. Song song với những việc đó, tôi âm thầm mua giấy tờ, lấy tên giả, học nói dăm câu tiếng Hoa, và cuối cùng ra đi vào một ngày cuối năm khi sóng biển đang gầm thét dữ dội ngoài khơị

Khi những chiếc ghe nhỏ đưa người ra thuyền lớn ở Kiến Hòa, thì một chuyện bất ngờ xảy ra: công an cùng với chủ ghe đọc danh sách lên tầu, và quyết định bỏ lại 17 người đã đóng tiền, trong đó có toàn bộ gia đình em trai tôi gồm 4 ngườị Em trai tôi là người giới thiệu tôi đi, vậy mà phút chót lại bị ở lại! Tôi lên tầu, hết sức hoang mang, ngờ ngợ linh cảm trước là sẽ có chuyện chẳng lành trên cuộc hành trình đầy sóng gió sắp tớị Tầu đi bán chính thức chỉ được một lợi thế là không sợ bị bắt ở bến hẹn, nhưng luôn luôn chở qúa trọng tải, có chuyến vừa ra tới cửa biển đã chìm. Chiếc thuyền gỗ tôi đi nom rất mong manh, mà chủ tầu và công an chất lên tới hơn 300 người, cố nhét càng nhiều càng tốt để thu vàng tối đạ Họ gạch tên bỏ lại 17 người, để thay vào bằng những hành khách khác bằng lòng nộp nhiều vàng hơn. Ðây là loại tầu đánh cá có hầm chứa nước đá để ướp cá, bây giờ được dọn sạch để đưa người vượt biển. Hơn 100 nguời đàn ông chúng tôi bị dồn xuống hầm, cấm không được leo lên, và chỉ có mỗi cái cửa vuông ở giữa tầu để ngày ngày bên trên ném thức ăn xuống. Ðàn bà con nít thì được ngồi ở tầng trên cùng với thân nhân của chủ tầu và tài công. Có nghĩa là từ lúc bước chân xuống tầu, tôi không được liên lạc với vợ con nữạ. Tôi không biết, trong số hơn 100 người đàn ông ngồi dưới hầm tầu, có bao nhiêu người Việt; chỉ nghe tiếng chuyện vãn chung quanh toàn là tiếng Hoạ Ông Ân với 3 cậu con trai tuổi từ 14 tới 18, ngồi dưới hầm bên cạnh tôị Vợ ông cùng cô con gái đầu lòng 19 tuổi, đứa áp út 13 và đứa con út 3 tuổi ở trên boong cùng với vợ con tôị Vì là người Việt, không dám tranh cãi với đại đa số người Hoa, chúng tôi bị dồn vào cuối hầm tầu, ngồi chịu trận tại chỗ, nước lúc nào cũng ngập từ thắt lưng trở xuống, và có khi lên tới ngực. Thức ăn cũng ít khi đến lượt mình, vì những người ngồi gần cửa lấy hết, lâu lâu mới quẳng vô phía chúng tôi cái bánh tét hay ổ bánh mì đã cứng như thanh củị Tuy vậy, ai cũng tự an ủi là cuộc hành trình sẽ không lâu, cố gắng chịu đựng vài ngày là tới bến, tha hồ thong dong.

Sang đến ngày thứ tư, rồi thứ năm, tất cả đều mệt mỏi vì con thuyền nhỏ bị sóng nhồi liên tục. Nước biển rỉ vào hầm tầu mỗi lúc một nhiều hơn, mà chẳng ai buồn múc từng thùng đổ ra ngoài như hai hôm đầụ Chỗ tôi ngồi càng ngày càng thê thảm hơn. Nước ngập tới ngực, mà rác rến lại nổi lềnh bềnh chung quanh, Lá bánh chưng bánh tét, vỏ quít, vỏ bưởi cùng các thứ linh tinh không tên, trôi vật vờ, chẳng ai thèm vớt mà đem quăng xuống biển. Vì qúa chật chội, di chuyển rất khó khăn, nên ai cũng ngồi lì tại chỗ, đứng lên không nổi, đi tiểu luôn chỗ mình ngồi cho tiện. Trong hầm tầu, chúng tôi mất hết ý niệm thời gian, không ngày hay đêm, cũng chẳng biết tầu đang chạy hay đứng tại chỗ Ðến ngày thứ năm, vì nóng bức qúa, có người ngộp thở ngất xỉu dưới hầm, tài công mới cho khoét một cái lỗ vuông mỗi bề hơn một gang tay ngay trên đầu tôi, nghĩa là phía dưới tầu, để lấy không khí từ trên lùa xuống cho hơn 100 người phía dướị Vị ân nhân của tôi, ông Ân và các con, lúc đầu còn nói chuyện với tôi, sau mệt qúa, ai cũng nhắm mắt dựa vào nhau mà sống cho qua cuộc hành trình dài lê thê.

Bước sang ngày thứ bảy, buổi sáng tinh mơ, chắc chưa đến 6 giờ, tôi đang thiu thiu ngủ, thì nghe có tiếng gọi nhỏ:

- Anh Ngạn Anh Ngạn ơi!

Tôi giật mình ngơ ngác ngước nhìn lên, thì thấy bà xã tôi thò mặt qua cái lô thông hơi để tìm tôị Tôi không nhận ra mặt vợ tôi vì trời còn tối thẳm, nhưng nhờ giọng nói tôi biết vợ tôi cần gặp tôi có chuyện khẩn cấp. Tôi hồi hộp tìm cách đứng dậỵ Tàu chật ních, lại thêm đã gần một tuần ngồi một chỗ, hai chân tê cứng dưới lớp nước mặn, tôi loanh quanh khá lâu mới đứng lên được. May cho tôi là quanh tôi mọi người còn đang ngủ cả Chứ nếu họ thức thì tôi khó lòng di chuyển, vì họ sẽ lôi lại và dí đầu tôi bắt ngồi xuống. Bà xã tôi giục nho nhỏ:

- Lên đi anh! Lên đại đi! Chui lỗ thông hơi này lên đi!

Tôi lo lắng nhìn quanh. Lúc ấy tôi còn gầy yếu lắm. Thời gian ở trại cải tạo bị sốt rét nặng, kéo dài 21 ngày, bước đi phải nhờ người vịn, bạn bè cùng tổ cứ tưởng tôi là sắp phải đem tôi đi chôn trên đồi tranh ở Bù Gia Mập. Giờ này vượt biển, tôi vẫn chưa lại sức, mới chỉ lên cân được chút ít. Nhà tôi lại bảo:

- Ðêm qua bão lớn. Cái áo của con bị rách tung rồi bay mất. Nó phải cởi trần cả đêm lạnh tím cả ngườị Anh lên một chút đi!

Nghe nhắc đến đứa con hơn 4 tuổi, tôi vùng đứng lên, bước đại qua vào người đang ngồi ngủ, rồi chui liền lên, Cái lỗ nhỏ, phải lách người khó khăn, làm trầy sứt cả hai vai, nhưng tôi không có cảm giác gì lúc đó Từ hôm lên tầu, tôi vẫn mặc cái jacket nylon của Không Quân ngày trước và chiếc quần tây màu vàng đục. Lúc ngồi, dĩ nhiên phải cởi hết nút quần, kéo fermeture xuống cho thoải mái. Bâygiờ đứng dậy, vội vã dùng hai tay đu lên khỏi hầm tầu, có người nào đó đã nắm ống quần tôi kéo lại, làm tôi chỉ còn mỗi cái quần đùi khi lên tới tầng trên. Trời mưa không nặng hạt lắm, nhưng gió biển thổi phần phật trong không gian mờ tốị Tôi cúi xuống ôm đứa con đang run cằm cặp. Nhà tôi ưu tư bảo

- Tầu sắp đắm mất, anh ạ!

Tôi đảo mắt nhìn quanh sau sáu ngày bảy đêm chui trong bóng tối dưới hầm. Chỉ một phút sau, tôi nhận ra ngay là mình sắp chết! Vợ tôi nói đúng. Là bởi vì, khi ở dưới hầm, tôi cứ tưởng tầu đang chạỵ Hóa ra tầu bị bỏ neo đậu tại chỗ suốt cả đêm rồi, mặc cho gió mưa và sóng dữ cuối năm vùi dập. Tuy cùng ở trên tầu, nhưng những tin tức bên trên không được thông báo cho người dưới hầm biết, sợ gây cảnh náo loạn, dẵm đạp lên nhaụ Bởi vậy, tôi hoàn toàn không biết gì cả, cho đến bây giờ leo lên mới thấy kinh hoàng, Tôi nhìn lại phía buồng máỵ Một cảnh tượng hãi hùng và thê lương: không có tài công, không có người phụ máỵ Chiếc tầu không người lái cứ bập bềnh nghiêng ngửa theo từng đợt sóng khổng lồ đưa vào, đẩy ra, phó mặc sinh mạng mấy trăm người cho đại dương. Với sức sóng như thế này, tôi biết chắc tầu sắp vợ Ðàn bà con nít, nguời đứng người ngồi lố nhố, quên cả cái ướt lạnh, nhớn nhác hỏi nhau, không biết phải làm gì trong hoàn cảnh tuyệt vọng nàỵ Bà xã tôi bảo:

Tài công bỏ tầu từ nửa đêm rồi!

Bấy giờ tôi mới hiểu đầu đuôi câu chuyện. Ðêm qua, khi thuyền chúng tôi vào còn cách bờ Mã Lai khoảng nửa cây số, thì có tầu cảnh sát Mã Lai ra đuổị Rồi họ dựng mấy cây đại liên và đèn pha trên bờ bắn ra xối xạ Mười mấy người tài công cùng với thân nhân chủ ghe đeo phao nhảy xuống bơi vào, nói là để điều đình rồi sẽ ra đưa tầu vộ Nhưng rồi họ đi luôn, không ai trở lại! Người ngoài khơi cứ đợị Người đã lên bờ thì bỏ mặc. Ðàn bà con nít trên boong không ai biết lái tầụ Hơn 100 người ngồi dưới hầm thì tưởng tầu vẫn đang chạy bình thường! Tôi biết mình sắp chết, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh bảo con tôi:

- Con ơi! Ðằng nào tầu cũng sắp chìm. Bây giờ con ôm lấy cổ ba, để ba nhảy xuống biển khơi, bơi vào …

Tôi không biết bơị Mà có biết thì cũng không còn sức, bởi bờ ở qúa xa, tôi cố nhướng mắt nhìn mà chỉ thấy lờ mờ trong mưạ Ðứa con trai hơn 4 tuổi , quấn chiếc khăn quanh người ướt đẫm từ đầu xuống chân, run lẩy bẩy nhìn tôi im lặng gật đầụ Dường như nó cũng linh cảm thấy chuyện chẳng lành sắp đến, cho nên chỉ nhìn tôi chia sẹ Quanh tôi, có vài cái bình nylon đựng nước ngọt đã uống hết, nằm lăn lóc trên sàn. Tôi nắm bàn tay lạnh ngắt của vợ tôi và bảo:

- Em lấy cái bình nylon, ôm vào người rồi nhảy xuống. May ra sóng đánh vào bờ! Thà nhẩy xuống trước, chứ để tầu vỡ thì khó lòng mà sống được, vì cả trăm người sẽ níu chặt lấy nhau và cùng chết hết!

Vợ tôi nhìn tôi bằng ánh mắt ly biệt, đưa tay làm dấu đọc kinh. Tôi và con trai tôi cũng làm dấu Thánh giá và cầu xin Chúa che chở trong cơn nguy khốn. Tôi vừa đưa cho vợ tôi cái bình nylon, chưa kịp nói gì thêm thì một đợt sóng vĩ đại ấp tới, làm chiếc tầu lật ngang, vỡ tung buồng lái ở tầng trên. Tiếng người đồng thanh kêu ru lên, bị tiếng gầm của sóng át đị Buồng máy, kính cửa sổ, mui tầu, mái gỗ bọc tôn và bao nhiêu thứ ngổn ngang trên tầu đều rụng hết xuống biển, kéo theo qúa nửa hành khách gồm đàn bà và trẻ em. Tôi té lăn trên sàn tầu trong khối nước mặn khổng lồ vừa ập tới, đôi tay quờ quạng bám víu bất cứ thứ gì để sống còn. Từ giây phút ấy, tôi không còn nhìn lại được vợ tôi lần nào nữa! Ðứa con tôi cũng vuột khỏi tay tôi và văng xuống biển. Tôi níu được một sợi giây nào đó trên tầu, nên chỉ bị văng mất đôi mắt kính cứ chưa rơi hẳn xuống nước. Nhưng ngay sau đó, tôi chưa kịp hoàn hồn, chưa kịp đứng vững thì lớp sóng khổng lồ vừa đẩy vô bờ, lại rút ra mạnh hơn, làm tầu lật ngang một lần nữa ra phía ngoài, và lần này trên boong tầu không còn sót lại một aị Tất cả đều rụng xuống biển. Những lớp ván, lớp kính và những gì chưa vỡ qua đợt sóng trước, lần này tan tành hết. Nhưng đau đớn hơn cả là chiều tầu chìm dần xuống đáy biển mà hầm tầu lại chưa bể, cho nên hơn 100 người đàn ông ngồi với tôi suốt tuần lễ vừa qua, đều chết ngộp hết trong hầm, trong đó có cả cha con ông Ân, người đã đóng tiền cho gia đình tôi đi!

Tôi rớt xuống biển, cố gắng vùng vẫy theo bản năng sinh tồn, mặc dầu không biết bơị Trên mặt biển bao la, sóng nhồi khủng khiếp, tôi thấy từng mảng gỗ thật lớn của ván tầu, rồi thùng phuy, va li, nồi niêu, áo quần, thùng gạo và hàng chục thứ đồ lặt vặt khác trôi nổi theo triền sóng, đôi khi lao vào mặt mình. Ðàn bà con nít ngụp lên lặn xuống, bán lấy nhau mà cùng chết. Tôi uống no nước, chìm sâu xuống, đụng phải bao nhiêu xác người còn bấu chặt không rời nhaụ Tôi nín hơi ngoi lên được một chút để thở, rồi lại bị sóng cuốn đi không định được phương hướng. Là người Công giáo trong lúc lâm chung, tôi cố gắng đọc kinh sám hối để chuẩn bị lìa đờị Ðọc kinh, nhưng không cầm trí tập trung được. Tôi uất ức lắm, bởi thấy mình chết tức tưởi ở tuổi 32 sau khi đã kình qua bao nhiêu năm gian khộ Ngày còn trong quân đội, mấy năm tác chiến, tôi đã kề cận tử thần mà tại sao không chết ngay trên chiến trường cho xong? Tôi nhớ một lần hành quân ở Cái Bè, tôi đứng dưới đường mương bên gốc xoài, VC từ cánh đồng trước mặt bắn đạn pháo trúng ngọn xoài chỗ tôi đứng, miểng văng tung tóe, làm bay mất cây súng Colt tôi đang đeo bên hông và cắt đứt sợi giây ống liên hợp máy truyền tin PRC 25 tôi đang nói chuyện với Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lúc ấy tôi thấy số mình còn lớn lắm, chỉ bị trầy sát nhẹ ở bên đùi! Rồi khi ở trại cải tạo Sông Bé, tôi lại bị sốt rét nặng nề đến kiệt sức, tưởng không còn sống nổi tới ngày được tha vệ Vậy mà cũng không sao! tôi uất ức tự hỏi tại sao vươ biển gần đến nơi thì lại chết ? Thế rồi tôi uống no nước, đuối sức không vùng vẫy nổi, đành buông xuôi tay chìm xuống đáy bể, không biết gì nữa!

Khi tôi tỉnh lại trên bờ, thấy mình nằm sấp trên đống xác chết ngổn ngang. Nước ộc từ trong bụng ra giúp tôi hồi sinh. Tôi mơ màng tưởng mình đang nằm chiêm baọ. Ðứa con trai 13 tuổi của ông Ân chạy lại lôi tôi dậy và nói:

Chú Ngạn ơi! Ðắm tầu! Ba cháu, chị cháu với 3 người anh của cháu chết hết rồi! Vợ chú với con chú cũng chết cả rồi!

Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Lính Mã Lai đang quây những người sống sót vào gốc dừạ Họ cũng như tôi là những người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần. Nhưng họ không được phép cứu những người bị ngộp nước như tôị Nếu được cấp cứu, tôi tin chắc trong đám người nằm kia, ít lắm cũng có cả chục người sống dậỵ Lính Mã Lai không cho cứu là bởi vì những kẻ xa lạ và bất nhân ấy đang lột quần áo người chết để lấy vàng và dollars giấu trong gấu quần, gấu áo, cổ áo, vạt áọ Moi của xong, họ lôi xác chết tập trung lại một chỗ chở xe mang đi chôn tập thệ Tôi từ gốc dừa bò tới, tìm trong đám 97 cái xác, thấy con trai tôi đã chết hẳn. Tôi bế cháu lên và nhận ra ván tầu hoặc ghềnh đá đã đánh vỡ trán con tôi, còn để lại một vệt dài thật rọ Còn vợ tôi thì sóng biển đánh trôi đi mất, không tìm được xác!
Mọi chuyện diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Ngoài kia, biển vẫn ầm ầm gào thét, chỉ thấy sóng xô chập chùng, không còn dấu tích gì của chiếc thuyền định mệnh. Hôm sau, từ trại tạm cư, chúng tôi được đưa trở lại bãi biển, thả bộ dọc xuống hướng Thái Lan, tìm thêm được một số xác chết nữa , nhưng cũng không thấy vợ tôị Tổng số 161 người chết, chỉ vào bờ được khoảng 100 cái xác, phần còn lại bị sóng đưa đi mất tích. Có hai nhà sư Mã Lai gốc Hoa đem vải và nhang đến làm lễ cầu siêu trước khi lính Mã Lai đem chôn tập thể

Trên bãi biển Mã Lai dài thăm thẳm tôi dừng chân, ngồi dưới hàng dừa trông ra đại dương, nao nao mường tượng lại chặng đường đã quạ Nhớ những buổi sáng Chúa Nhật vợ tôi lên thăm ở Khu Tiếp Tân trường Bộ Binh Thủ Ðức. Rồi những lần từ thành phố xuống miền Tây chờ tôi ở hậu cứ tiểu đoàn. Khi sinh con đầu lòng, tôi từ đơn vị hành quân, không kịp thay quân phục, vội vã đón xe về thăm ở bảo sanh viện Ðức Chính trên đường Cao Thắng. Nhớ hơn nữa là những lần vợ tôi gánh quả nặng trĩu đi tiếp tế cho tôi trong trại cải tạo, băng ngang 17 cây số đường rừng từ thị xã Phước Bình vào Bù Gia Mập. Tất cả đều đã qua đi, chỉ còn lại mặt nước mênh mông xanh thẳm trước mặt, từng cuốn mất bao nhiêu xác người đồng hương trên hành trình tìm tự do!

Vợ tôi mất đi ở tuổi 26, sau những tháng ngày vất vả vì chồng. Lấy tôi khi tôi đã vào quân đội, thường xuyên xa nhà, vợ tôi cũng giống như bao nhiêu người đàn bà khác trong thời khói lửa, chẳng mấy khi được gần chồng. Khi tôi được biệt phái về lại Bộ Giáo Dục, dạy học tại Sài Gòn, đã tưởng vợ chồng có thể sống đời dân sự yên ổn lâu dài, nào ngờ chỉ hơn một năm sau thì mất nước, bắt đầu cuộc sống mới lao đao gấp bộị Ðoạn đường trầm luân ấy, có ngờ đâu rút cuộc lại kết thúc bi thảm bằng cái chết trên đại dương cùng với đứa con đầu lòng hơn 4 tuổi!

Tôi tin chắc cái chết của vợ tôi đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của tôị Nếu nói theo niềm tin thiêng liêng, thì chính vợ tôi đã cứu tôi vào phút chót, trước khi đắm tầụ Bằng chứng là hơn 100 người đàn ông ngồi chung với tôi dưới hầm tầu đều chết cả vì ngộp nước. Em tôi — người giới thiệu tôi cho ông Ân — nếu đi cùng tôi chuyến ấy, chắc chắn cũng đã bỏ xác trên đại dương. Nhờ bị bỏ lại, nửa năm sau, em tôi cùng gia đình vượt biển thành công và gặp lại tôi tại Vancouver, Canada vào giữa năm 80. Bà Ân và hai đứa con nhỏ được sóng đánh vào bờ thoát chết, đi định cư ở Texas, tôi vẫn liên lạc cho đến khi trả xong 20 lượng vàng chồng bà cho tôi vaỵ

Biến cố hãi hùng của chuyến tầu định mệnh làm tôi càng vững tin rằng đời người có sự sắp đặt của định mệnh, hay nói theo đức tin Công giáo, thì đó là sự an bài của Thiên Chúạ Còn đó rồi mất đó! Kiếp người mong manh như chiếc bách giữa dòng, cho nên các cụ ngày xưa thường ví là cuộc phù thế nhân sinh. Vợ con tôi chết trước mặt tôị Hơn 160 người chết ngay bên cạnh tôị Mà một kẻ yếu đuối như tôi lại sống sót! Ðó phải là quyền năng của Thiên Chúa chưa muốn tôi lìa trần. Lúc ngồi trên tầu, ông Ân thường tâm sự với tôi: những ngày gần mất nước, gia đình ông đã có thể đi Mỹ dễ dàng, bởi ông làm việc cho cơ quan viện trợ Hoa Kỳ suốt hai mươi năm. Nhưng ông thấy mình tuổi đã lớn, muốn ở lại quê nhà khi đất nước hết chiến chinh, nên ông từ khước quyền lợi di tản mà người Mỹ dành cho ông. Ba năm sau, đất nước qúa lầm than, mà chiến tranh vẫn không dứt. Các con ông chuẩn bị bước vào tuổi nghĩa vụ quân sự phục vụ cuộc xâm lăng Kampuchia, thúc đẩy ông phải ra đị Năm 75 ông từ chối di tản bằng máy baỵ Năm 78 ông phải trốn bằng thuyền, để rồi chính bản thân ông cùng với 4 đứa con lớn đều chết cả!

Có thể do những suy nghĩ về cuộc đời sau chuyến hải hành khủng khiếp mà tôi thoát nạn chỉ trong đường tơ kẽ tóc, tôi bắt đầu có những thay đổi lớn trong tâm tự Tôi trở nên dễ tính, ít chấp nhất và không nuôi lòng thù ghét với bất cứ aị Tôi tâm nguyện rằng cuộc đời mình, hễ làm được điều gì cho cộng đồng, cho xã hội, cho tha nhân, tôi đều cố gắng để đền đáp lại phép lạ của Chúa đã cứu tôi trên biển.

Những ngày trống vắng ở trại tị nạn Mã lai chờ đi định cư, tôi suy nghĩ nhiều về nửa thế kỷ trầm luân của đất nước, và nhận ra một điều đơn giản rằng: trong xã hội Việt Nam người đàn bà mới chính là thành phần chịu nhiều gian truân nhất, thời chiến tranh cũng như thời hậu chiến. Cảm thông cái thực tế chua xót ấy, cùng với nỗi nhớ thương người vợ mới mất, tôi bắt đầu viết truyện dài “Những người đàn bà còn ở lại” trong 3 tháng ở trại tạm cự Cuốn sách đầu tiên ấy, tuy kỹ thuật chưa cao, nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc. Nó là bậc thềm thứ nhất, là nấc thang khởi đầu, để rồi từ đó đến nay tôi đã có được gần 30 tác phẩm xuất bản.

Hai mươi năm đã qua, trên mặt báo chí Việt ngữ, tôi chưa hề viết lại những dòng này để mô tả tỉ mỉ cái chết của vợ tôi với đứa con đầu lòng. Tuy vậy, từ thâm sâu, tôi vẫn tin chắc một điều rằng: chính cái chết của vợ tôi đã mở ra cho tôi một cánh cửa mới tôi chưa hề dự trù trong qúa khự Ðó là thế giới văn chương mà tôi miệt mài theo đuổi cho đến hôm naỵ

Tháng 4/2000

Louise Tr. ( Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn)

Hoàng Mai – Vài suy nghĩ về việc Nhà nước thả các tù nhân trong mấy ngày đầu tháng 4/2014 Chính trị – xã hội

Posted on

Hoàng Mai
Trong mấy ngày đầu tháng 4/2014 này, tin vui, thậm chí là rất bất ngờ đến với những người quan tâm đến tình hình chính trị Đất nước, đó là việc Nhà nước đã thả 3 người tù, gồm: Cù Huy Hà Vũ, Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung.Với TS Cù Huy Hà Vũ, anh cùng vợ là LS Nguyễn Thị Dương Hà đã đến Mỹ hôm 07/4. Nhìn nụ cười và khuôn mặt rạng rỡ của LS Nguyễn Thị Dương Hà, tại phi trường Dulles International Airport, Hoa Kỳ, hôm 07/4, rất nhiều người mừng cho anh chị. Thiết nghĩ, với một người mang bệnh về tim và một số bệnh hiểm nghèo khác như Cù Huy Hà Vũ, việc anh được ra tù, cho dù với bất kỳ lý do, và nguyên nhân gì đi nữa, thì đó là điều hạnh phúc không chỉ riêng đối với cá nhân, gia đình anh… mà là của tất cả những ai quan tâm và biết về anh qua những cống hiến của anh cho phong trào dân chủ, cho Đất nước trong mấy năm qua.

Kể từ hôm hình ảnh Cù Huy Hà Vũ đến Mỹ, đã có nhiều bài viết về anh, mừng cho anh cũng nhiều, và trách anh (vì ra nước ngoài) cũng có…; với người viết bài này, tôi cho rằng, nhìn nhận và đánh giá như của tác giả Phạm Chí Dũng, trong bài viết “Phạm Chí Dũng: Hãy để yên cho ông Cù Huy Hà Vũ sống như một người bình thường” (1), là một quan điểm đúng đắn nhất!


TS Cù Huy Hà Vũ và vợ LS Nguyễn Thị Dương Hà, cùng cô Jenifer L Neidhart de Ortiz, đặc trách nhân quyền của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, đặt chân xuống phi trường Dulles International Airport, ngày 7 tháng 4, 2014.
Với hai người còn lại trong đợt “đặc xá” vừa rồi, là Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung, việc các anh ra tù cũng đầy bất ngờ, không chỉ với những ai quan tâm, mà còn bất ngờ ngay cả với các anh, cũng như gia đình, người thân của hai anh… Thông tin trên báo chí của các hãng thông tấn nước ngoài như BBC, VOA, RFI, RFA trong ngày 12/4 cho ta biết điều đó.

Hy vọng tới đây, tất cả những “tù nhân lương tâm” (theo cách gọi giới truyền thông nước ngoài và cộng đồng mạng…), như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Bùi Thị Minh Hằng, Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh… đều sẽ được trả tự do.

Sau đây là vài suy nghĩ của người viết, nhân việc Nhà nước trả tự do cho 3 người nói trên:

I. Bắc Kinh không phải là chỗ dựa an toàn cho bất kỳ ai ở Việt Nam

Có lẽ, trên 95% người Việt Nam, từ khi đến tuổi trưởng thành về cuối đời, không ai là không biết đến hai cái tên Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống; mặc dù hai vị này, một vị đã chết cách đây gần 700 năm (Trần Ích Tắc: 1254-1329), và một vị chết cách đây hơn 200 năm (Lê Chiêu Thống: 1765-1793); Nhân Dân Việt Nam luôn lấy hai người này để nguyền rủa những kẻ làm tay sai cho phương Bắc. Đây là bài học cho những ai hôm nay muốn dựa vào Bắc Kinh để giữ quyền lực.

Chưa hết, chúng ta đều biết rằng, Trung Quốc là nước có truyền thống lưu trữ các tài liệu về mặt Nhà nước. Lịch sử Việt Nam mà mọi người chúng ta đã được học, được biết đến ngày nay hầu hết đều được sưu tầm, dịch ra từ tiếng Hán [điều này có lý do của nó, vì với hàng nghìn năm đô hộ, Bắc thuộc và gây chiến tranh xâm lược… các triều đại phương Bắc đã có chủ trương đốt sạch, hoặc tịch thu tất cả những gì là văn hóa Việt để đem về Trung Hoa; chưa kể đến việc, Việt Nam liên miên có chiến tranh (nội chiến và xâm lược), cho nên các sử liệu bị mất, thất lạc…]. Vậy thì, tất cả những góc khuất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, kể từ ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đến nay, cũng không là ngoại lệ. Không bao lâu nữa, tất cả rồi sẽ được (hoặc bị) chính người Trung Quốc tuyên bố, hoặc khi có sự thay đổi thể chế chính trị tại Trung Quốc sau này.

Chắc chắn một điều rằng, mai đây, khi sự thật đã được phơi bày, thì không ai có thể chạy trốn được lịch sử.

Tài liệu về HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ (2), trong khi ở Việt Nam không mấy ai biết (ngay cả đến các Ủy viên trung ương), thì chính người Trung Quốc đã công bố, đó là bài học đắt giá cho những kẻ tìm đến Bắc Kinh nhằm kiếm giải pháp duy trì chế độ, mà những kẻ đó đang còn sống đến hôm nay. Chắc là, nếu linh thiêng, Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống, dưới mồ sẽ mỉm cười, vì đã có hậu bối nối dài trong danh sách bán nước để chia bớt những nỗi nhục với họ?!


“HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ”, tài liệu và ảnh do chính người Trung Quốc đưa ra,liệu các Ủy viên trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam tất cả các khóa, đã mấy ai biết được sự thật này?
Sự kiện năm 1988, Trung Quốc bất ngờ đánh chiếm đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, khi phía Trung Quốc đưa ra video clip (https://www.youtube.com/watch?v=aqblBfAfIrA), chúng ta mới biết rằng, những người lính Việt Nam không hề được cầm súng bắn lại kẻ thù… Kẻ nào ra lệnh để những người lính Việt Nam buộc phải làm bia đỡ đạn cho bọn giặc cướp nước? Lịch sử đã một phần và sẽ trả lời đầy đủ. Thật nhục nhã cho những kẻ và gia đình của họ, khi họ sẽ là danh sách nối dài của những Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống, tạo thành một trang đen trong lịch sử Việt Nam.

Cách đây mấy tháng, người viết bài này có đọc được một comment của một ai đó trên diễn đàn mạng, đại ý: “Mọi thứ có thể che dấu được, ngoại trừ ba thứ: Mặt trời, Trái đất và Sự thật”; Hy vọng, những ai còn đang suy nghĩ dựa vào Bắc Kinh để giữ quyền lực, hoặc che dấu sự thật…, thì hãy tỉnh ngộ để không là nỗi nhục cho dòng họ, con cháu sau này…

Rồi đây, chắc chắn sẽ có nhiều tác phẩm tựa như “Bên thắng cuộc”, hoặc “Đêm giữa ban ngày”, ra đời, mà tác giả của những tác phẩm ấy đang còn sống, khỏe mạnh, và không ai dám nói rằng, họ đã xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử.

Trên đây là nói về tài liệu, sử liệu; còn đô la xanh, thẻ xanh… thì sao?

Có một điều lạ, chưa thấy ai là người Việt Nam chọn Trung Quốc làm nơi định cư; thậm chí khi phạm tội, cũng muốn chạy sang Mỹ để sống nốt đời còn lại, như Dương Chí Dũng, hay Huyền Như (trong vụ tham nhũng hàng nghìn tỷ ở Ngân Hàng VietinBank) là những ví dụ… Đặc biệt, những người giàu có, đặc biệt là các ông có chức, có quyền, khi đã có nhiều tiền, thì chủ yếu là chọn Mỹ và tiếp sau là các nước phương Tây để gửi con đi du học; không ít người đang “chạy” thẻ xanh cho con cái để được là công dân Mỹ sau này.

Không những thế, ngay cả người Trung Quốc cũng muốn chạy khỏi Tổ Quốc của họ với rất nhiều lý do, riêng với các “quan” thì: “… qua điều tra đối với 3.300 người có tài sản mức 10 triệu tệ trở lên thì có 2/3 đang tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài để được định cư dưới hình thức di dân, 1/3 đã có tài sản ở nước ngoài”(3). Vậy là, gần như 100% người giàu ở Trung Quốc muốn chạy khỏi đất nước này, với mục đích là: “Thứ nhất do không khí và môi trường sinh thái ở Trung Quốc hiện đã ô nhiễm đến mức báo động; thứ hai là mong muốn con cái được hưởng nền giáo dục tốt hơn so với trong nước” – cũng bài báo trên cho biết.


Các công bộc “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của Trung Quốc (và cả ở Việt Nam), đang tìm đến các nước Âu, Mỹ để tìm cuộc sống mới, an toàn…, sau khi đã cướp, vơ đầy túi tham, bằng việc lợi dụng chức quyền trong chế độ độc đảng lãnh đạo.
Những dẫn chứng trên đây để cho thấy, Bắc Kinh không phải là chỗ dựa an toàn (về thanh danh, tiền bạc, định cư…) cho bất kỳ ai ở Việt Nam. Đừng hy vọng sẽ dấu Nhân Dân Việt Nam được mãi, cho dù chỉ là những văn bản, tài liệu… mà họ đã lừa dối Nhân Dân để thỏa thuận với Bắc Kinh trước đây.

II. Tín hiệu gì từ phía Chính quyền Việt Nam sau khi thả các tù nhân?

Lý do thì có thể nhiều, riêng người viết bài này có mấy dự đoán sau:

1. Lãnh đạo Việt Nam lo sợ sự sụp đổ kinh tế kéo theo nguy cơ sụp đổ chế độ và những bạo loạn có thể xảy ra

Sau gần 30 năm tiến hành “Đổi mới” (từ 1986); với chính sách ngoại giao khôn khéo; đồng thời, bộ máy tuyên truyền đã không ngừng thổi phồng về những thành tựu “thu hút vốn đầu tư nước ngoài” [gồm vốn vay ưu đãi ODA, vốn đầu tư trực tiếp FDI…]; tự mê hoặc lãnh đạo Đảng, thường chỉ là những người học Mác-Lê nin, rằng Việt Nam sẽ hóa “rồng châu Á”, hóa “hổ châu Á”… Trong khi, những tiền đề cho phát triển (công nghiệp chế tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cao…) thì đều bị các nhóm lợi ích thâu tóm và triệt tiêu (ngành công nghiệp ô tô là điển hình). Đến bây giờ nhìn lại, Việt Nam không có bất kỳ một sản phẩm nào để được thế giới biết đến, ngoại trừ “là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới” (nhưng Nông dân lại đang trong tình trạng đói nghèo, bần cùng…). Việc sử dụng vốn vay nước ngoài một cách lãnh phí (chủ yếu dùng vào đầu tư công để có cơ hội tham nhũng, và chi trả lương cho bộ máy hành chính khổng lồ mà ta hay gọi “3 trong 1”, gồm: Đảng, Chính quyền và các đoàn thể của Đảng lập ra), và đến nay đã bắt đầu thời kỳ chi trả, và không có khả năng chi trả. Nền kinh tế Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự sụp đổ.

Việc không tạo ra sản phẩm mới, giá trị mới trong suốt hai mươi năm qua; đồng thời lại để cho Trung Quốc thâu tóm gần như toàn bộ thị trường hàng tiêu dùng, làm cho công nghiệp xuất hàng tiêu dùng (gọi là công nghiệp nhẹ) cũng không thể phát triển được, và đến hôm nay, ngoài bán tài nguyên để trả nợ, Việt Nam không có một nguồn thu nào khác để trả nợ. Nhiều tỉnh thu thuế không đủ trả lương cho bộ máy hành chính, thì lấy đâu ra tích lũy để đầu tư công?

Đến thời điểm này, Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn phải trả các khoản vay và lãi vay, mỗi năm ước khoảng 5 tỷ đô la (khoảng 100.000 tỷ đồng mỗi năm); và như vậy, toàn bộ những yếu kém và những tính toán sai lầm trước đây, thì nay bắt đầu đến lượt nó tác động ngược trở lại, gây nên khủng hoảng mọi mặt, toàn diện… như đang diễn ra.

Một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động”, do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện, cho biết: “Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore” (4); “Thành quả” của gần 30 năm “đổi mới” của Việt Nam là như vậy đấy!

2. Lãnh đạo Việt Nam đã thức tỉnh và đang đi tìm lối thoát

Đảng cộng sản Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối. Cương lĩnh “Lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”, thực sự đã lỗi thời và bế tắc. Một chính đảng khi đã không còn tìm ra cương lĩnh và phương hướng hành động phù hợp với thực tiễn, và thời đại…, thì sẽ đi đến diệt vong. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn cuối của tiến trình này.

Những người cộng sản thực sự đã mất lý tưởng từ lâu rồi; từ cấp cơ sở là xã phường cho đến cấp cao nhất (người càng có nhận thức thì đã sớm vứt bỏ). Thực chất, điều hành Việt Nam hiện nay là các nhóm lợi ích. Nhưng cũng có thể phân chia thành 2 “phe” chính: Phe bảo thủ thân Tàu, và phe “Dân chủ”.

Phe thân Tàu cũng đã nhận ra rằng, không thể dựa vào Bắc Kinh được nữa, vì Bắc Kinh cũng đang gặp phải vấn nạn tham nhũng, phe phái, mâu thuẫn, đấu đá nội bộ, mâu thuẫn sắc tộc… và cũng đang đi đến sụp đổ; Phe thân Tàu buộc phải nhượng bộ phe “Dân chủ” để còn hy vọng là sau này không bị quy kết, vạch mặt là kẻ bán nước khi thể chế thay đổi.

Từ những khó khăn, bế tắc nói trên, cùng với sức ép của quốc tế, nên buộc lãnh đạo Việt Nam phải thả các tù nhân nhằm đổi lấy việc được kết nạp là thành viên của TPP trong năm 2014 đang như là mục tiêu lớn của Chính phủ Việt Nam. Vì vậy, trong cuộc gặp gỡ với Tổng thống Mỹ Barak Obama, hôm 25.3, tại The Hague-Hà Lan, nhân “Hội nghị Thượng đỉnh An ninh hạt nhân lần thứ ba”(5), thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “khẳng định quyết tâm cùng Mỹ và các thành viên sớm kết thúc đàm phán TPP theo tinh thần quan tâm thỏa đáng đến lợi ích và sự chênh lệch về trình độ phát triển. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đề nghị Mỹ quan tâm thỏa đáng tới các lợi ích của Việt Nam và hỗ trợ Việt Nam trong đàm phán, đề nghị Mỹ sớm công nhận quy chế thị trường với Việt Nam”.

3. Tín hiệu lạc quan

Cái khó hôm nay của lãnh đạo Việt Nam, đó chính là muốn thoát ra khỏi quỹ đạo của Bắc Kinh mà chưa thể được vì nhiều lý do, một trong những lý do quan trọng là nền kinh tế Việt Nam đã phụ thuộc sâu vào Trung Quốc, không thể thay đổi, cắt đứt chỉ trong một thời gian ngắn. Mặc dù vậy, hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam, trong thế buộc hiện nay, cũng đã thống nhất được với nhau ở quan điểm lớn, đó là: Phải thoát khỏi Bắc Kinh.

Dưới thời của các ông Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng, vai trò cá nhân của TBT không còn độc quyền như trước, vì vậy cũng là một cơ hội để thay đổi. Sau một thời gian dài với sự kiêu ngạo và ấu trĩ… thì nay, lãnh đạo Việt Nam đã xác định phải trở lại với Nhân Dân, phải dựa vào Dân. Việc dự kiến “Một lễ cầu siêu sẽ được tổ chức tại Trường Sa để ghi nhận công lao của những anh hùng, liệt sĩ nhiều thế hệ, kể cả những người lính Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh vì bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, cũng như các thuyền nhân thiệt mạng ngoài biển Đông” (6), như các báo đưa tin trong ngày đầu tháng 4.2014 như là một tín hiệu nhằm lấy lại lòng dân, cũng như muốn để được sự ủng hộ của 4 triệu Việt kiều ở Hải ngoại.

Việc thả tù nhân cũng là một giải pháp để được sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các nước phương Tây trong cải cách kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới.

4. Thời điểm và giải pháp phù hợp cho sự thay đổi

Do đã phụ thuộc sâu rộng vào Bắc Kinh, cho nên thời điểm để Việt Nam thay đổi chỉ có thể diễn ra khi:

- Phe “Dân chủ” thực sự mạnh, chiếm ưu thế áp đảo trong nội bộ Đảng, và được sự ủng hộ của Nhân Dân chủ động để thay đổi.

- Cần một biến cố bên Trung Quốc (có thể là không lớn lắm) về kinh tế, chính trị… làm thời cơ để thay đổi.

Trong một bài viết có tựa đề “Cù Huy Hà Vũ” (7), đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 13.4.2013 của TS Phạm Trọng Chánh, một người sống ở Pari lâu năm, từng là bạn với cụ Cù Huy Cận; trong bài viết của mình, ngoài việc nói về Cù Huy Hà Vũ, TS Phạm Trọng Chánh đưa ra quan điểm, một góc nhìn rất mới (phải chăng, do có thời gian sống lâu ở Tây Âu, tác giả có sự do sánh giữa Mỹ và các nước châu Âu, nên mới rút ra được?), cần được nghiên cứu để áp dụng tại nước ta trong điều kiện hiện nay, đó là:

“Dân chủ chính trị lưỡng đảng là một thể chế hoàn hảo nhất của nhân loại ngày nay, nó tránh tình trạng độc tài tham nhũng chế độ độc đảng, nó tránh tình trạng manh mún hàng trăm đảng mà không có đảng nào có thực lực nắm đa số quốc hội. Tam Quyền Phân Lập: độc lập giữa Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp. Tránh tình trạng vừa đá banh vừa là trọng tài. Chính trị lưỡng đảng khi đảng thắng cử họ chỉ thay đổi khoảng từ 300 đến 3000 người lãnh đạo, khác với độc đảng hàng triệu người bị loại khỏi guồng máy quốc gia. Khác với hàng trăm đảng hỗn loạn không tìm ra một gương mặt nào sạch sẽ. Từ giã chế độ độc đảng tránh cho nhân dân tình trạng một cổ hai tròng, mỗi chức vụ hành pháp đều có một ông đảng kế bên, lương bổng phải trả hai lần, hai người cùng làm một nhiệm vụ. Chế độ chính trị lưỡng đảng là một thể chế hào hứng, nhân dân góp phần trực tiếp bầu người lãnh đạo từ Tổng thống, Quốc hội Thượng Viện, Hạ Viện cho đến cơ cấu địa phương làng xã, thành phố”.

Với tình hình chính trị tại Việt Nam hiện nay, TS Phạm Trọng Chánh đưa ra quan điểm:

“Tất cả những tiên đoán Dân chủ Việt Nam sẽ khai sinh khi Đảng Cộng Sản Việt Nam sụp đổ, khi Chính phủ Việt Nam sụp đổ như Đông Âu, điều này sai lầm. Trong hoàn cảnh đất nước trước áp lực Trung Quốc đang bành trướng tham vọng một nền kinh tế thứ hai địa cầu, sự suy yếu của Việt Nam sẽ là một nguy cơ cho dân tộc Việt Nam. Việt Nam sẽ tiến đến dân chủ trong một thế mạnh, sau ba thập niên phát triển kinh tế. Việt Nam cần thiết phải cải tổ hệ thống chính trị của mình. Hệ thống chính trị độc đảng đã lỗi thời, guồng máy khai sinh từ trong chiến tranh không còn thích ứng với hoàn cảnh Hội nhập Kinh tế Toàn cầu. Không chỉ có một Cù Huy Hà Vũ, hay Nguyễn Tiến Trung thao thức cải tổ, mà hàng vạn cựu du học sinh sau bao nhiêu năm du học tại nước ngoài, hàng trăm ngàn trí thức đào tạo trong nước, toàn dân Việt Nam cũng đã thức tỉnh trước sự lạc hậu của hệ thống chính trị Việt Nam. Những nhà chính trị Việt Nam hiện tại đang nắm giữ quyền lực chỉ còn có một lựa chọn là trở nên những bà mụ tốt bụng hiền lành, làm công việc khai sinh một nền dân chủ cho Việt Nam.

Trong lịch sử Việt Nam, từ sự kiện Lê Hoàn nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn nhà Lý, đến những đổi mới năm 1986, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã có những sáng kiến thay đổi tài tình, chúng ta hy vọng và đặt hy vọng vào tương lai Việt Nam vào thế hệ trẻ, chí tung thẳng trời xanh của Việt Nam”.

Thiết nghĩ, đó cũng là giải pháp phù hợp nhất hiện nay trong điều kiện của Việt Nam.

13.4.2014

H.M.

Bài tham khảo:

(1) http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140410-pham-chi-dung-hay-de-yen-cho-ong-cu-huy-ha-vu-song-nhu-mot-nguoi-binh-thuong
(2) http://ngoducthohn.blogspot.com/2012/12/hoi-nghi-thanh-o.html
(3) http://www.tienphong.vn/the-gioi/nguoi-trung-quoc-vung-tien-mua-quoc-tich-ngoai-676268.tpo
(4) http://nld.com.vn/cong-doan/giat-minh-voi-thu-nhap-cua-nguoi-viet-nam-so-voi-khu-vuc-2012033107222749.htm
(5) http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/viet-nam-hoan-thien-phap-luat-ve-hat-nhan-20140325215616865.htm
(6) http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/601435/cau-sieu-cho-tat-ca-nhung-nguoi-hy-sinh-vi-bien-dao.html
(7)http://www.defilter.us/browse.php?u=Mv9io9J46VTyZ8vQJKegDX5X6fD0aD7nmcuvny3U0aziu0iQVcCtEbrDoSUsGeDT7A%3D%3D&b=29

Tác giả gửi cho BVN