Đèn Cù ‘giải ảo Hồ Chí Minh’

Posted on

Cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh

Cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh là một ‘quả bom’ nổ vào những sự thực bị che đậy.

Cuốn sách ‘Đèn cù’ xuất bản ở hải ngoại của tác giả Trần Đĩnh đã ‘lột mặt’ của chế độ và nhiều huyền thoại cách mạng của Đảng Cộng sản ở Việt Nam theo nhà báo Bùi Tín từ Paris.

Trong khi đó, một sử gia trong nước, Vũ Quang Hiển, nói với BBC rằng cuốn sách ‘có hư cấu, xuyên tạc’.

Trao đổi với BBC hôm 20/9/2014, cựu Đại tá cộng sản, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân, Bùi Tín, cho rằng cuốn sách của Trần Đĩnh có tác động như một ‘quả bom’ đánh vào những gì mà chính quyền lâu nay muốn ‘che đậy, giấu diếm’.

Ông Bùi Tín nói: “Lột mặt, hay lật mặt cũng như thế, tức là những anh hùng hảo hớn ghi tên đường phố, thì rõ ràng người ta phải đánh giá lại, bởi vì cả một chế độ đánh giá những giá trị sai, cho nên bây giờ phải đánh giá lại tất cả những giá trị của từng người một bằng những nhận thức của mỗi người.

“Mỗi người có một cái đầu, có những suy nghĩ của mình, làm sao cho mỗi người có một suy tư độc lập, không bị ảnh hưởng.

“Do đó mà cuốn sách là quả bom, nổ từ những nhân vật cao nhất. Nói thẳng ra là tác phẩm của Trần Đĩnh cũng như cuốn hồi ký trăng trối của Trần Đức Thảo (Trần Đức Thảo – Những Lời Trăn Trối) là đụng đến ông Hồ Chí Minh.”

Theo nhà báo Bùi Tín, tuy tác giả viết một cách ‘nhẹ nhàng’, sự ‘đụng chạm’ vào các huyền thoại, thần tượng cách mạng của Đảng lại không phải là ‘nhẹ’.

Ông Bùi Tín là nhân vật bất đồng chính kiến đã nhiều năm tị nạn chính trị ở Pháp và nay là một nhà vận động cho dân chủ và nhân quyền của Việt Nam ở hải ngoại

Ông Bùi Tín bình luận tiếp: “Ông viết một cách nhẹ nhàng, nhưng đụng mạnh lắm, có thể nói là cái phi thần thánh hóa, cái giải ảo, giải một lầm lẫn cực lớn, bởi vì người ta vẫn đề ra là ‘Học tập đạo đức của ông Hồ Chí Minh’, thế nhưng cuốn sách này, nói không nhiều lắm, nhưng chi tiết rõ đến như thế.

“Tức là ông Hồ Chí Minh cũng chuyên đóng kịch thôi. Ông Hồ Chí Minh nói không thể cải cách ruộng đất bắn chết người phụ nữ đầu tiên được, và đối với phụ nữ không thể đánh ngay cả bằng một nhánh hoa, thế mà chính ông bịt râu, ông dự cuộc đấu đó để mà đem bắn bà Nguyễn Thị Năm.”

Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau

Tác giả Trần Đĩnh

Theo cựu Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân, bài ‘Địa chủ ác ghê’ được cố lãnh tụ của Đảng ký tên là CB, mà theo ông Tín: “lúc bấy giờ ở báo Nhân Dân, tất cả những bài nào đề chữ “CB” là “Của Bác”, là coi như thiêng liêng, là phải in ngay ở trang một, ở ngay dưới măng-séc, không được sai một dấu chấm, dấu phẩy nào”.

Nhà báo Bùi Tín nói: “Và ai cũng biết đấy là của bác, tức là của ông Hồ Chí Minh. Ông ấy viết bài ‘Địa chủ ác ghê’ kể tội bà Nguyễn Thị Năm một cách kinh khủng đến mức như thế và đưa ra bắn chết.

“Mà chính ông lại đi xem, đi dự cuộc đó, thế mà ông còn nói đạo đức là ông sẽ hứa với ông Hoàng Quốc Việt là sẽ can thiệp với cố vấn Trung Quốc để không thể bắn bà Năm được.”

‘Không ai phát hành’

Trong một trao đổi gần đây với BBC, tác giả cuốn ‘Đèn Cù – Truyện tôi’ giải thích thêm với BBC vì sao cuốn sách đã phải xuất bản ở nước ngoài.

Cố chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông Trần Đĩnh có dịp gần cận nhiều lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo của Đảng ở An toàn khu.

Ông Trần Đĩnh chia sẻ: “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Về khả năng cuốn sách có thể được chấp nhận cho xuất bản ở Việt Nam hay không, nhà báo Bùi Tín nhận định: “Hiện nay thì chắc chắn họ không dám xuất bản rồi. Quyển sách của Trần Đĩnh và cuốn sách mới nhất của nhà triết học Trần Đức Thảo cũng thế, cuốn Hồi ký Trăng trối, là không thể xuất bản ở trong nước.

“Bởi vì nó đụng chạm ghê quá, bởi vì chế độ ở trong nước dị ứng với sự thật. Họ rất sợ sự thật. Cho nên những cuốn sách nói lên sự thật, tất cả là sự thật nguyên vẹn như thế thì họ không thể chịu được.

“Đây là quả bom rất mạnh nổ vào tất cả những lừa dối, những cái che dấu đấy, cho nên tôi thấy cuốn sách của Trần Đĩnh cũng như cuốn sách của Trần Đức Thảo là hai của quý của tự do, của những ngòi bút tự do, của những người có lương tâm trong sáng.”

Theo ông Bùi Tín, điểm đáng quý ở Trần Đĩnh là sau gần như cả đời phải làm phận ‘viết thuê’, viết ‘theo lệnh của trên’ nhưng vẫn giữ nguyên trong lòng được ‘sự thật’ để cống hiến trong cuốn “Đèn Cù”.

‘Xuyên tạc’

Tôi có đọc qua cuốn sách…, nhưng tôi không hào hứng, vì nhiều chỗ viết thô tục quá, không ra báo, không ra văn, cũng không ra lịch sử. Có cái gì đó bất mãn

PGS. TS. Vũ Quang Hiển

Hiện ở trong nước, báo chí và truyền thông chính thức chưa có bình luận, đánh giá chính thức về cuốn sách, thế nhưng trong một trao đổi với BBC, một sử gia chuyên về Lịch sử Đảng của Đại học Quốc gia Hà Nội nêu nhận xét:

“Tôi có đọc qua cuốn sách…, nhưng tôi không hào hứng, vì nhiều chỗ viết thô tục quá, không ra báo, không ra văn, cũng không ra lịch sử. Có cái gì đó bất mãn. Nhiều chỗ viết theo cái nghe được đâu đó, như kiểu vô tuyến truyền mồn, thông tấn xã vỉa hè; có hư cấu, xuyên tạc, bịa đặt”, Phó Giáo sư Vũ Quang Hiển nhận xét.

“Về khoa học thì không thể chấp nhận nhiều chỗ, ví dụ việc lập Đảng Cộng sản Việt Nam là do Quốc tế Cộng sản chỉ đạo. Hoàn toàn không phải, vì Quốc tế Cộng sản chỉ đạo thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, chứ không chỉ đạo thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đây là 2 vấn đề hoàn toàn khác nhau.

“Năm 1943 Quốc tế Cộng sản giải thể rồi, làm sao mà đến năm 1950 hay 1953 còn lãnh đạo cách mạng Việt Nam?”

‘Mặt tối, mặt sáng’

Tư liệu Đèn cù

Trần Đĩnh không hề ‘phiến diện, thiên kiến’ khi trình bày các sự thực lịch sử, theo ông Bùi Tín.

Hôm thứ Bảy, khi được hỏi liệu cuốn sách có nên đề cập tới những điều được cho là chi tiết đời tư của một số nhân vật, quan chức, cựu quan chức, lãnh đạo các cấp trong Đảng hay không, nhất là khi nhiều người trong số đó đã qua đời nên không thể có điều kiện tự bảo vệ hay biện minh, ông Bùi Tín nói:

“Tôi thấy rằng, những người lãnh đạo đối với quốc gia, thì không có gì có thể được coi là riêng tư được nữa hết. Tất nhiên có một nguyên lý là đời tư của người công dân thì không nên đụng đến. Tư là tư, công là công.

“Nhưng cũng có một quy luật nữa là gì: là những người lãnh đạo cao nhất, người ta có quyền đòi hỏi những người đó phải gương mẫu, cả trong cuộc sống chung, cuộc sống công và cuộc sống tư.”

Có nhiều cuốn sách, nhiều tác giả, mỗi tác giả có quyền tự mình đề cập đến mức nào, ví dụ như Trần Đĩnh, ông có nói rõ ông tôn trọng, quý hóa đối với ông Hồ Chí Minh, ông cũng coi ông Trường Chinh là bậc thầy cơ mà, chứ có phải là cách viết một chiều đâu

Nhà báo Bùi Tín

Còn khi được hỏi liệu cuốn sách, có bị ‘phiến diện’, ‘thiên kiến’ chỉ nghiêng về ‘góc tối’, ‘u ám’ khi nói về chế độ, các lãnh tụ và nhiều cán bộ cốt cán, lãnh đạo của Đảng, nhà nước ở các cấp hay không, cựu Phó Tổng biên tập Báo nhân dân nêu quan điểm:

“Tôi nghĩ rằng có nhiều cuốn sách, nhiều tác giả, mỗi tác giả có quyền tự mình đề cập đến cái mức nào, ví dụ như Trần Đĩnh, ông có nói rõ ông có những tôn trọng, quý hóa đối với ông Hồ Chí Minh cơ mà, ông cũng có cái coi ông Trường Chinh là bậc thầy cơ mà, chứ có phải là cách viết một chiều đâu.

“Tất nhiên ông có quyền đưa ra những chi tiết tiêu cực, những mặt tối, nhưng mà ông cũng đưa ra những mặt sáng đấy chứ, và ông cho rằng ông đã viết những mặt sáng đã đủ rồi, bởi vì chính Trần Đĩnh là người đã viết lên cuốn Tiểu sử chính thức của ông Hồ Chí Minh.

“Chính ông là người đã viết ra và ông Hồ Chí Minh chữa lại, được in, coi như tài liệu chính thức về cuộc đời, tiểu sử chính thức, được dịch ra hơn mười thứ tiếng,” cựu Đại tá Bùi Tín nói với BBC.

@bbc

Đường sắt đội vốn hàng triệu đô la vì ‘con ông cháu cha’

Posted on

Các dự án đường sắt nội đô của cả Hà Nội và Sài Gòn đều “đội vốn” nhiều lần và chậm hoàn thành như ấn định, mà một trong những nguyên nhân chính là tại…”Con ông cháu cha”.

Công nhân thi công xây dựng chân cột tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên đoạn qua Q.Thủ Đức. (Hình: Tuổi Trẻ)

Ông Nguyễn Xuân Thủy – nguyên Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Giao thông vận tải (Bộ GTVT), nói như vậy về tình trạng xây dựng các hệ thống đường sắt nội đô ở Việt Nam trên tờ Đất Việt hôm Thứ Sáu 19/9/2014.

Trong một cuộc họp gần đây, ông bộ trưởng Giao thông Vận tải chống chế  cho các chuyện “đợi vốn” là “do chưa có tiền lệ thực hiện dự án đường sắt, cũng như chưa có con người đủ kiến thức, bản lĩnh để nghiên cứu thấu đáo nên khâu chuẩn bị đầu tư sơ sài, đưa ra tổng mức ban đầu rất thấp nên phải điều chỉnh sau này”.

Nhưng những gì được ông Nguyễn Xuân Thủy vạch ra cho thấy sự thật khác hẳn.

“Nếu theo dõi sẽ thấy, Hà Nội có hiện tượng chọn người nhưng không đúng nghề, nhiều người không hiểu biết gì về đường sắt trên cao, không hiểu biết gì về tàu điện ngầm, không hiểu biết gì về giao thông đô thị nhưng lại đưa vào làm trong Ban dự án đường sắt đô thị. Thực chất những người này là con ông cháu cha, người quen biết, chính như vậy mới sinh ra lợi ích nhóm.” Ông Thủy nói.

Vì những người có trách nhiệm điều hành và thực hiện dự án như vậy nên theo ông Thủy “họ mới đưa ra những phương án rất ngô nghê, thậm chí sai, thiếu hợp lý, thiếu khoa học, nó biểu hiện ngay những thứ nhỏ nhất như trang quảng cáo, tờ rơi phát ra cho mọi người. Quả thực có nhiều tờ rơi mà đọc cũng thấy hiện rõ sự ngô nghê, thiếu hiểu biết về giao thông đô thị.”

Có dự án “đội vốn” 60%  nhưng có những dự án bị “đội vốn” tới 20%, còn chậm “tiến độ” làm chuyện phổ biến. Trong cuộc họp ngày 12/9/2014 vừa qua tại Hà Nội, ông Nguyễn Hoằng, Vụ trưởng Vụ Kế Hoạch – Đầu Tư của Bộ GTVT còn cho biết có dự án như “dự án metro số 2 Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo, dù chưa đấu thầu, thi công nhưng đã dự kiến tăng tổng vốn từ 19,500 tỉ lên 51,750 tỉ, tăng 164%.”

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Nội đội vốn hơn 339 triệu USD – (Hình: Tuổi Trẻ)

Trong một thống kê thấy phổ biến trên tờ Thanh Niên ngày 13/9/2014 qua bài viết “Vốn tăng phi mã, tiến độ rùa bò”, người ta thấy tại Sài Gòn có 2 dự án thì tình trạng như sau:
-Tuyến metro số 1: Bến Thành – Suối Tiên dài 19,7 km, tổng mức đầu tư tăng từ 17.387 tỉ đồng lên 47.325 tỉ đồng (tăng 172%), dự án đã phải lùi tiến độ dự kiến 2 năm từ 2018 lên 2020. Trung bình suất đầu tư khoảng 2,400 tỉ đồng/km, tương ứng $120 triệu/km.
-Tuyến metro số 2 (giai đoạn 1) đoạn Bến Thành – Tham Lương dài 11,3 km, tổng mức đầu tư từ 1,374 tỉ USD lên 2,15 tỉ USD (tăng $784 triệu), chậm 2 năm. Trung bình suất đầu tư $190 triệu/km.

còn tại Hà Nội hiện đang có 4 dự án thì:
– Tuyến metro Nhổn – ga Hà Nội dài 12.5 km chậm 3 năm so với kế hoạch, tổng mức đầu tư từ 653 triệu euro tăng lên 1.17 tỉ euro (tăng 50.2%). Trung bình suất đầu tư khoảng 93.6 triệu euro/km.
–  Tuyến metro số 2 đoạn Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo dài 11,5 km, tổng mức đầu tư tăng từ 19,500 tỉ đồng lên 51,750 tỉ đồng (tăng 164%), chậm 3 năm. Trung bình suất đầu tư khoảng 4,500 tỉ đồng/km, tương ứng $225 triệu/km.
–  Tuyến metro số 1 Hà Nội (giai đoạn 1) dài 15.36 km, tới nay vẫn chưa rõ hướng tuyến, sẽ phải điều chỉnh cả quy mô, tổng mức đầu tư và tiến độ.
– Tuyến metro Cát Linh – Hà Đông dài 13.05 km, hiện đang rà soát điều chỉnh tổng mức từ $552 triệu lên 891 triệu, tăng thêm $339 triệu, tiến độ dự kiến tháng 11.2013 đã phải điều chỉnh xuống tháng 12.2015, chậm 2 năm. Trung bình suất đầu tư khoảng $68.5 triệu/km.

Hồi đầu năm, dư luận lại một phen xôn xao khi báo chí Nhật, tờ Yomiuri Shimbun, lại khui ra một vụ nhà thầu Nhật hối lộ cho quan chức CSVN để được cho trúng thầu. Lần này liên quan tới đám quan chức xây dựng đường sắt trên cao ở Hà Nội, bị cho là ăn hối lộ khoảng $800,000.

Do áp lực đòi cắt viện trợ của Nhật Bản, nhà cầm quyền CSVN đã bắt giam 6 ông gồm cả phó tổng giám đốc Tổng công ty Đường sắt quốc doanh hồi tháng 5 vừa qua và không biết bao giờ sẽ ra tòa với các cáo buộc nhận hối lộ của nhà thầu Nhật JTC.

“Chính vì do con người chọn con người nên dẫn đến các dự án bị chậm, bị đội vốn, nhưng đó chỉ là tổn hại nhìn thấy trước mắt, sau này khi đi vào hoạt động, chất lượng kém mới là kinh khủng, nó sẽ dẫn đến hàng loạt các tai nạn rất đáng tiếc.” Ông Nguyễn Xuân Thủy nói trên tờ Đất Việt

@nguoiViet

Alibaba và bảy thằng ăn trộm

Posted on

Chân dung Jack MaNgô Nhân Dụng

Tin lớn nhất từ thị trường chứng khoán New York (NYSE) ngày hôm qua là chuyện một công ty Trung Quốc bán cổ phiếu lần đầu cho công chúng. Alibaba kinh doanh trong những ngành tin học mà các công ty Amazon, Ebay và Paypal đang hoạt động. Cả ba công ty ở Mỹ bây giờ đều trị giá thấp hơn vì theo giá cổ phiếu ngày hôm qua Alibaba trị giá 321 tỷ đô la chỉ còn thua Microsoft ($385 tỷ) và Google ($401 tỷ). Mặc dù chỉ có lợi nhuận 6.8 tỷ đô la, bằng một phần tám của Amazon, trị giá của Alibaba lớn gấp hơn hai lần (Amazon $150 tỷ).

Vụ bán cổ phiếu lần đầu (IPO) này được chờ đợi và bàn tán trong mấy tháng nay. Với giá đề nghị là 68 đô la mỗi cổ phần, khi NYSE mở cửa giá trao đổi đã vọt lên gần $93 đô la, rồi tiếp tục tăng lên, có lúc tới gần 100 đô la, rồi xuống đến $93.89 lúc thị trường đóng cửa.
Người sáng lập và hiện là chủ tịch CEO của công ty là Mã Vân, bây giờ có tài sản 21 tỷ đô la, giàu nhất nước Tàu. Ðặc biệt, Mã Vân làm giàu mà không nhờ quan hệ gia đình trong đảng Cộng Sản. Ông xuất thân là một giáo sư tiếng Anh ở Hàng Châu, được làm quen với Internet trong một chuyến đi thăm bạn ở Mỹ, khi về nước, năm 1999 lập ra một công ty bán hàng trên mạng, nối các xí nghiệp nhỏ với khách hàng của họ. Sau đó, Jack Ma đã mở rộng ra các ngành hoạt động khác, theo gót ba công ty đã thành công ở Mỹ kể trên.
Trước khi công ty Alibaba ra mắt thị trường tư bản Mỹ, ở Trung Quốc nhiều người đã hỏi: Liệu Jack Ma có tính di cư hay không? Ông cực lực cải chính, nhưng vẫn có tin đồn rằng ông đang xin làm dân thường trú ở Hồng Kông.
Những người Trung Hoa sướng nhất ngày hôm qua là các cộng tác viên cùng Jack Ma từ những ngày đầu, rồi đến các nhân viên công ty. Ngày hôm qua, khi NYSE mở cửa là hơn 9 giờ tối ở Hàng Châu; pháo bông đã tung lên trời trước cửa trụ sở công ty. Ngay cả một nữ nhân viên cũ, cũng vẫn được lợi. Bà họ Tân đã nghỉ việc từ hai năm trước, nay đang mở quán cà phê, đã theo dõi giá cổ phần Alibaba và tính ra rằng số cổ phần bà còn giữ sẽ có giá trị $938,000. Bà triệu phú Mỹ kim này tuyên bố bao giờ bán được các cổ phần sẽ di cư sang Úc! Các cổ phần tặng cho nhân viên không được bán trong thời hạn sáu tháng.
Một người ngoại quốc được lợi lớn nhất là ông Masayoshi Son, người sáng lập và CEO của công ty SoftBank tại Nhật Bản. Trước đây 14 năm, khi Alibaba còn sơ sinh, SoftBank đã góp vốn 20 triệu. Ngày hôm qua, số cổ phần họ làm chủ trị giá 50 tỷ Mỹ kim! Masayoshi Son chỉ làm chủ 19% công ty, tài sản đã tăng lên thành 16.4 tỷ, ông bây giờ giàu thứ nhì ở nước Nhật, sau ông Tadashi Yanai, giàu $16.6 tỷ. Ðối với người Nhật gốc Hàn Quốc này thì chuyện lên xuống hôm qua không có gì đáng kể, vì có lúc tài sản của Son đã lên tới 70 tỷ đô la! Nhưng ngày hôm qua Alibaba cũng làm giàu cho 35 nhà ngân hàng đầu tư, họ đóng vai tổ chức việc bán cổ phiếu và được trả tiền công lên tới 300 triệu đô la. Trong đó hai ngân hàng lớn Thụy Sĩ, Ðức và ba ở Mỹ mỗi anh xơi 45 triệu, vì họ có khả năng giới thiệu và môi giới các nhà đầu tư sẵn sàng đứng ra mua ngay lúc mở màn.
Sự kiện Jack Ma đem công ty của mình đi gây vốn ở NYSE cho thấy thị trường tài chánh nước Trung Hoa vẫn chưa trưởng thành. Từ khi thành lập Alibaba đã nhờ vốn ngoại quốc, của Yahoo (Mỹ) và SoftBank (Nhật), vì giới tư bản trong nước Trung Hoa chưa dám liều. Nhưng bây giờ việc kinh doanh của Alibaba đã thành công rõ ràng, mà công ty vẫn muốn đi gây vốn ở New York. Các thị trường chứng khoán ở Thượng Hải và Thẩm Quyến không đủ khả năng cáng đáng một việc giao hoán lớn, các ngân hàng đầu tư của Trung Quốc chưa bắt được vào dòng chảy của đồng tiền tư bản quốc tế. Nhiều công ty Trung Quốc lớn trong cùng lãnh vực internet cũng không ghi tên trên các thị trường nội địa, như Tencent được mua bán trên thị trường Hồng Kông, Baidu và Sina ở thị trường New York.
aaTrong ngày hôm qua, 90% các cổ phần của Alibaba được bán cho người ngoại quốc, đại đa số là các công ty đầu tư ở Mỹ. Giá tăng vọt từ $68 đô la lên hơn $90 đô la thì những người đó được lời ngay. Chỉ có 10% số cổ phần lần đầu IPO là được bán cho cá nhân; trong đó hơn 6% được Jack Ma dành bán cho nhân viên của công ty. Cuối cùng, chỉ còn gần 4% được bán cho các người mua lẻ. Năm trước, khi Facebook bán IPO, họ tự tin dành 25% cho nhà đầu tư nhỏ. Vì luật lệ Trung Cộng khó khăn trong việc kiểm soát tiền vốn ra vào, các người mua cổ phiếu Alibaba thực ra không chính thức làm chủ các cổ phần. Họ chỉ làm chủ cổ phần của những công ty tài chánh gọi là VIE (variable interest entity) ký hợp đồng về sở hữu Alibaba. Các công ty Trung Quốc ghi tên trên các thị trường ngoại quốc đều dùng thủ tục rắc rối này.
Nhắc đến tên Alibaba ai cũng nhớ tới 40 tên ăn trộm. Nhưng sự thành công của Jack Ma trên thị trường mua bán hàng qua Internet là do khả năng thiết lập được tín nhiệm của công chúng sử dụng. Một người Trung Hoa như Jack Ma phải rất liều lĩnh mới bày ra mạng lưới mua bán trên Intenet, vì Trung Quốc thiếu tất cả các thứ gọi là “hạ tầng cơ sở” cho công việc này, bây giờ cũng như trước đây 15 năm.
Người Trung Hoa trong lục địa chưa tập thói quen dùng thẻ tín dụng; việc mua bán thường trả tiền mặt. Không có những công ty giao hàng như FedEx, mà sở Bưu Ðiện thì vừa chậm, vừa hay mất mát. Ði mua hàng nhìn tận mắt còn lo bị hàng giả, làm sao người ta tin nhau mà đi mua trên mạng? Jack Ma đã dám nghĩ đến chuyện vượt qua các trở ngại đó. Lúc đầu công ty Alibaba chỉ lo việc mua bán giữa các xí nghiệp, trong nước, rồi mở rộng ra thị trường ngoại quốc. Làm môi giới giữa các công ty nước ngoài với các nhà cung cấp nhỏ trong nước, và ngược lại, dễ kiểm soát hơn. Sau đó, khi mở mang sang thị trường bán lẻ, Alibaba đã phải sử dụng mạng lưới những người giao hàng bằng xe đạp, đưa hàng tận tay người mua và nhận tiền mặt. Alibaba là công ty bán lẻ đầu tiên ở Trung Quốc chấp nhận cho người mua trả lại hàng; sau khi đã chứng kiến các cửa hàng lớn ở Mỹ thực hành và thành công. Năm 2011, sau khi Alibaba mở cuộc điều tra riêng, khám phá ra có nhân viên mưu mô với một số 2,300 nhà cung cấp bán hàng giả và hàng kém phẩm chất, công ty đã trình bày sự việc công khai, báo cáo với công chúng đầy đủ, thay vì giấu nhẹm đi để “giữ tiếng tốt.” Công ty sa thải cả những nhà quản lý chịu trách nhiệm, dù ở cấp cao. Nhờ chính sách minh bạch, công khai này mà Alibaba đã thành công nhờ gây được lòng tin. Nhờ thế, hiện nay Alibaba chiếm 80% thị trường bán lẻ trên mạng ở Trung Quốc; với số người sử dụng lên tới 279 triệu, họ đặt mua gần 300 tỷ đô la Mỹ một năm.
Khi giá cổ phiếu IPO của Alibaba được ấn định là 68 đô la mà trong một ngày tăng lên 94 đô la, thì các người đầu tư được lợi. Nếu công ty có thể ấn định giá cao hơn, thí dụ $70 hay $75 đô la, thì chắc chắn đã thu về được nhiều tiền hơn. Có thể nói Alibaba đã chịu thiệt thòi vì phải đi gây vốn ở ngoại quốc. Nỗi khó khăn của Alibaba, không thể gây vốn ở trong nước mà phải sang Mỹ cho thấy thị trường tài chánh và vốn Trung Quốc vẫn còn lạc hậu. Tập Cận Bình đã đề cao chủ trương “cho thị trường đóng vai trò quyết định” trong nền kinh tế; nhưng hiện đang còn chưa tiến được mấy bước. Bước đi quan trọng nhất là cải tổ hệ thống tài chánh, ngân hàng, với mục tiêu thiết lập thị trường vốn có hiệu quả như ở các nước tư bản. Khi nền tài chánh có hiệu quả, người có vốn tìm được nơi đầu tư có lợi nhất, các xí nghiệp cần gây vốn tìm được nguồn vốn giá rẻ nhất. Nhưng chế độ Cộng Sản chỉ cải tổ kinh tế nửa vời vì họ sợ mất quyền lực chính trị.
Ðể thành công, Jack Ma cũng không thoát khỏi cảnh phải “biết điều” với mạng lưới quyền lực của đảng Cộng Sản. Khi công ty đã có tiếng và kiếm ra tiền rồi, năm 2012 Alibaba mời người góp thêm vốn và nhắm vào một số quỹ đầu tư do con cháu các cán bộ cao cấp làm chủ, trong đó có gia đình của các lãnh tụ như Giang Trạch Dân, Ôn Gia Bảo. Nhưng vương tôn công tử này chỉ tham dự sau khi công ty đã đủ vững vàng, 12 năm sau khi thành lập. Với những người góp vốn có thế lực, công ty Alibaba đã được bảo vệ về mặt chính trị. Năm nay Jack Ma cũng đi tháp tùng Tập Cận Bình trong chuyến công du Nam Hàn. Có thể nói, công ty Alibaba đang phải cộng tác với những tên ăn trộm đang đứng đầu nước Trung Hoa. Không phải 40 tên mà hàng ngàn tên ăn trộm trong đảng Cộng Sản đứng đầu là bảy ông trùm trong Thường Vụ Bộ Chính Trị!

@NguoiViet

*********************

Chuyện ít biết về Jack Ma – ‘Bill Gates của Trung Quốc’

Jack Ma thường được coi là Bill Gates của Trung Quốc và là một trong những người có ảnh hưởng lớn đến ngành công nghệ thông tin thế giới. Tuy nhiên, khác với Bill Gates, Jack Ma thành lập Alibaba vào năm 1999 khi ông hoàn toàn không có kinh nghiệm gì về kinh doanh và công nghệ. Jack Ma vốn là một giáo viên tiếng Anh, sinh năm 1960 tại Hàng Châu.

Tuy nhiên, cuộc đời vẫn có những ngã rẽ không thể ngờ. Năm 1995, một doanh nhân Mỹ nói với ông rằng, với Internet, chỉ cần ngồi nhà cũng có thể tìm hiểu thông tin doanh nghiệp. Ông gõ từ “bia” vào trang Yahoo và nhận ra rằng chẳng có dữ liệu nào về Trung Quốc cả. Từ đó, ông ấp ủ xây dựng một website chuyên cung cấp dữ liệu về các công ty Trung Quốc. Năm 1999, ông thành lập công ty Alibaba.com với vỏn vẹn 18 đồng sự và 60.000 đô la Mỹ.

Alibaba hiện đã trở thành công ty thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc. Công ty này điều hành hai trang web thương mại điện tử khổng lồ là Taobao và Tmall, với tổng giá trị giao dịch đã vượt ngưỡng 1 nghìn tỷ Nhân dân tệ, tương đương khoảng 160 tỷ USD, trong năm 2012. Trong thập kỷ qua, các trang Taobao và Tmall đã hút hết thị phần của đối thủ Mỹ eBay tại Trung Quốc, khiến eBay gần như biến mất khỏi thị trường Trung Quốc từ năm 2006. Tính đến cuối năm ngoái, Tập đoàn đã có tới 36,7 triệu người đăng ký sử dụng từ hơn 240 triệu quốc gia và vùng lãnh thổ và là nơi trưng bày hơn 2,8 triệu cửa hàng của các nhà cung cấp.

Chuyện ít biết về Jack Ma - 'Bill Gates của Trung Quốc' 2
Alibaba.com – công ty thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc

Jack Ma đã tạo nên cuộc thay da đổi thịt ngoạn mục của Alibaba từ một dịch vụ trực tuyến, trở thành một tập đoàn thương mại điện tử khổng lồ.

Chính vì thế, việc vị CEO 53 tuổi tài ba này tuyên bố chính thức từ chức vào ngày 10 tháng 5 vừa qua sau khi gửi bức thư ngỏ nêu rõ ý định này vào tháng 1 năm nay khiến nhiều người sửng sốt. Sửng sốt hơn nữa khi ông đưa ra lý do là “quá già”. “Để làm một số những điều mới, tôi vẫn còn trẻ. Nhưng để làm Internet, tôi đã quá tuổi rồi”, Jack Ma chia sẻ trong một sự kiện từ thiện tại California đầu tháng 5 vừa rồi.

Chính vì những đóng góp to lớn của Jack Ma nên dàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Alibaba luôn trăn trở: ai có thể xứng đáng thay thế Jack Ma?

Người Jack Ma đặt niềm tin chính là Jonathan Lu, nhà điều hành cấp cao 43 tuổi đã có 13 năm làm việc tại Alibaba.

Chuyện ít biết về Jack Ma - 'Bill Gates của Trung Quốc' 3
Jonathan Lu- CEO kế nhiệm Jack Ma

Lu là sự lựa chọn khả dĩ nhất vì ông là nhà điều hành cấp cao duy nhất từng trải qua vị trí lãnh đạo ở mọi bộ phận quan trọng của Tập đoàn. Tuy nhiên, câu hỏi lớn nhất là làm sao Lu có thể không bị lu mờ bởi cái bóng quá lớn của Jack Ma, nhất là khi Jack Ma vẫn còn giữ chức Chủ tịch?

Dưới sự điều hành của Jack Ma, Alibaba liên tục tạo ra những con số ấn tượng mặc cho kinh tế khó khăn. Theo Yahoo! tiết lộ năm 2012, lãi ròng của Alibaba tăng 81% lên 484,5 triệu USD, trong khi doanh số bán đã tăng 74% lên 4,08 tỉ USD. Liệu Lu có thể giúp Alibaba giữ vững thành tích này, thậm chí là vượt qua nó? Và quan trọng hơn là liệu ông có tạo được tiếng nói riêng cho mình trong khi Jack Ma vẫn còn là người đưa ra các quyết định lớn của Tập đoàn? Theo Jim Tang, chuyên gia phân tích tại Shenyin Wanguo Securities ở Thượng Hải, Lu đã có được nền tảng phù hợp để điều hành Alibaba nhưng “nhân vật quan trọng nhất ở Alibaba vẫn là Jack Ma”.

Như vậy, Jack Ma từ nhiệm chỉ là để đứng ở một vị trí cao hơn để quan sát và để đưa ra những quyết sách đúng đắn hơn cho sự vươn lên mạnh mẽ hơn của tập đoàn thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc này.

Jack Ma là doanh nhân Trung Quốc đại lục đầu tiên xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Forbes và là một trong những người giàu nhất thế giới.

Chuyện ít biết về Jack Ma - 'Bill Gates của Trung Quốc' 5
Jack Ma trong lễ kỷ niệm 10 năm Alibaba.com

Jack Ma từ chức đúng vào lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Taobao.com, ngày 10 tháng 5 tại thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Bầu không khí của buổi lễ như một buổi hòa nhạc lớn với sự có mặt của hàng chục ngàn người. Jack Ma mặc trang phục thời trang, hát bài “Tôi yêu em, Trung Quốc” và “Bạn bè”. Sau đó ông nói những lời ông chuẩn bị suốt 9 năm qua và nhường lại vị trí cho Giám đốc điều hành mới Jonathan Lu.

Chuyện ít biết về Jack Ma - 'Bill Gates của Trung Quốc' 6
Jack Ma ôm Jonathan Lu trong lễ kỷ niệm 10 năm

Cái ôm giữa Jack Ma và Jonathan Lu cho thấy sự tin tưởng, tín nhiệm của “Bill Gates Trung Quốc” dành cho một thế hệ mới, theo như ông nói “ trẻ trung và năng động hơn”. Ông lui về để làm những việc làm ý nghĩa hơn cho xã hội, đó là làm công tác bảo vệ môi trường và tổ chức từ thiện. Sau khi nghỉ hưu, Ma sẽ là chủ tịch của Quỹ bảo tồn thiên nhiên toàn cầu Trung Quốc và vẫn sẽ luôn đồng hành Alibaba trên mọi chặng đường phát triển của Tập đoàn.

Theo Khampha

ĐỌC CUỐI TUẦN -Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng chết hai lần!

Posted on

Chân dung nhà thơ Tú Mỡ
Nếu tin ấy được xác nhận, nhà thơ trào phúng Tú Mỡ quả là đã chết hai lầnTin ấy, đến với chúng tôi vào một ngày đầu năm năm Tân Hợi, như thế này: Tú Mỡ vừa tạ thế ở Hà Nội, thọ bảy mươi mốt tuổi.(1)

Tại sao lại chết hai lần?

Tôi nói chết hai lần là vì lúc bắt đầu kháng chiến chống Pháp, ông đã chết một lần rồi. Câu chuyện này một số lớn anh em văn nghệ từ Việt Bắc về Đồng Quan Cống Thần đều biết. Lúc ấy, Pháp nhảy dù ở Việt Bắc. Vì chạy chậm, ông bị quân đội Pháp bắt và giải về một đồn do một sĩ quan Pháp giữ. Tú Mỡ còn giữ khư khư ở trong tay cái cặp táp mang nhiều giấy má quan trọng của cơ quan vì lúc ấy ông giữ một chức vụ của Bộ Tài chánh. Trước đó, trong thời Pháp thuộc, Tú Mỡ làm ở Sở Tài chánh Hà Nội. Ra ngoài kia, ông tiếp tục công việc ấy. Bị bắt, với bằng chứng rõ ràng, Tú Mỡ không chối cãi. Ông bình tĩnh chờ chết. Nhưng tức một nỗi là tên đại úy thẩm vấn ông lại không chịu xử ngay, cứ giam lại ở đó. Thái độ ấy làm cho bất cứ ai cũng bực. Muốn bắn thì bắn ngay cho rảnh chuyện. Đằng này, viên đại úy trưởng đồn lại cứ “om” Tú Mỡ lại đấy. Mà lạ là ông ta đối xử với Tú Mỡ một cách không mấy tàn ác, cho tắm rửa ăn uống tử tế. Ai đã từng bị bắt thấy “địch” hành động như thế cũng phải nghi ngờ và đặt nhiều giả thuyết. Tú Mỡ cũng vậy. “Nó” chưa bắn hay là để “dụ” mình chăng? Hay là “nó” thâm, đang nghĩ một cách tra tấn gì thật độc ác, thật khoa học để mình phải khai hết những bí mật trong cơ quan mình phục vụ? Thôi, nhưng mà đàng nào cũng chết, mà nó cho mình ăn uống tử tế thì tội gì chẳng ăn? Mai mốt ra sao, mặc. Tú Mỡ chờ. Tôi không hiểu trong đầu óc lúc ấy ông nghĩ những gì, nhưng chắc chắn là lì đến bực nào, lúc ấy lòng dạ cũng bi ai lắm. Ờ, lì đến như Cao Bá Nhạ là cùng chớ gì? Ấy mà lúc bị bắt ở Hương Tích cho vào cũi đem đi, Cao Bá Nhạ cũng não nuột trong lòng, thốt ra Tự tình khúc tiếc nuối không biết bao nhiêu thứ :

Đuôi con mắt châu sa thấm giấy,

Đầu ngón tay máu chảy pha son,

Người đau phong cảnh cũng buồn,

Thông gầy như trúc, cúc mòn như mai.

Mối tâm sự rối mười phần thảm,

Gánh gia đình nặng tám năm dư,

Khi ngày mong bức xá thư,

Khi đêm than bóng, khi trưa hỏi lòng.

Kháng chiến chống Pháp, ai mà còn sợ chết? Nhưng là thế nhân có thất tình, Tú Mỡ tiếc nuối không có gì lạ hết. Thì vào giữa một đêm kia, viên đại úy Pháp tự nhiên cho một viên chức mời Tú Mỡ vào phòng giấy “có việc”. Thôi, thế cũng xong. “Nó” hỏi xong rồi nó bắn. Như thế lại thoát nợ chớ cứ dây dưa mãi thế này, bực lắm. Tú Mỡ tưởng tượng viên đại úy sẽ để lộ cái mặt thực vô cùng tàn ác của hắn ra và tự nhủ: “Tàn ác cách gì thì cũng chỉ đến chết mà thôi”. Nhưng ông đã tưởng tượng sai, viên đại úy lại mời ông ngồi tử tế. Thế mới thâm đấy nhé: nó làm ra mặt hiền, rồi chưa biết chừng nó rút súng ra bắn mình liền tại chỗ. Nhưng cóc cần. Theo “pơ lơ tông” ra bị bắn cả một bọn rồi dục xác xuống sông hay bị bắn trong phòng cũng vậy mà thôi. Tú Mỡ vừa ngồi vừa để ý xét nét từng hành động của viên đại úy. Mỗi phút lại càng làm cho Tú Mỡ ngạc nhiên hơn: viên đại úy Pháp không hỏi tội của ông, công tác của ông trong hàng ngũ kháng chiến, lại vớ va vớ vẩn nói chuyện học hành với ông và bàn luận về văn Việt và văn Pháp vì Tú Mỡ nói tiếng Pháp thạo mà viên đại úy, sau một cuộc điều tra, lại biết Tú Mỡ là một nhà thơ có tiếng. Câu chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. Viên đại úy nói:

- Đây là cái cặp táp của ông với đủ giấy tờ, không suy suyển. Ông giữ lấy.

Giữ lấy để làm gì? Hay là “nó” giở một cái mẹo gì đây? Tú Mỡ vừa cầm lấy cái cặp vừa “nghe ngóng binh tình”. Thì chẳng thấy có gì lạ hết. Tú Mỡ lên ngồi nói chuyện. Lần này, viên đại úy lại nói về xứ sở của y và tâm sự với Tú Mỡ là lúc y sang Việt Nam, y có để lại trong một căn nhà nhỏ ở Rue Bleue một người vợ đẹp lắm có mang sáu tháng. Hừ hừ, cái lối mật thám nó vẫn cứ hay giở cái trò dớ dẩn ra như vậy. Nhưng bịp được mình còn khuya. Ngoài miệng nói vài câu thông cảm, Tú Mỡ lúc bấy giờ cảm thấy ở trong mình, ruột rối tung lên như cái đồng hồ đứt dây thiều. Không phải là vì sợ y, nhưng rối ruột không hiểu viên đại úy muốn giở trò gì và muốn tiến tới đâu.

Lúc ấy đêm khuya thẳm. Bốn bề vắng lặng. Viên đại úy đứng dậy bảo:

- Thôi, bây giờ ta đi.
Đúng quá, có sai đâu. Tên Pháp ba xạo này nói chuyện tình cảm xong rồi, bây giờ bảo Tú Mỡ đi là để bắn đây. Đã nhất định như thế người ta không còn sợ nữa. Tú Mỡ đi theo viên đại úy. Y bảo Tú Mỡ đi lên một chiếc xe díp, rồi trèo lên sau rồ máy tự lái lấy đi vèo vèo. Ở đàng xa, trời sáng dần dần, trông đã hơi rõ mặt người. Tú Mỡ nhìn thẳng vào viên đại úy. Viên đại úy cũng nhìn Tú Mỡ. Từ lúc lên xe, cả hai người không nói gì với nhau. Đến lúc bấy giờ, y mới nói:

- Thôi, đây hết địa phận tề rồi. Bên kia là vùng kháng chiến. Anh còn có thì giờ nghĩ lại.

- Nghĩ lại thế nào?

- Anh không nhớ lúc đứng dậy lên xe, tôi có hỏi anh mấy lần là anh muốn gì, về Hà Nội hay trở lại với kháng chiến, thì anh nhất định trở về với kháng chiến sao? Tôi không khuyên anh gì hết. Tôi trọng ý kiến anh. Anh có thay đổi ý kiến không?

- Thưa ông, không. Tôi trở về với kháng chiến vì đó là bổn phận của tôi mà cũng vì vợ con tôi hiện nay vẫn còn ở cả ngoài kháng chiến.

- Vậy, anh xuống đi. Và chúc anh may mắn.

Thế là nghĩa lý gì? “Nó” lại thả mình à? Tú Mỡ càng không hiểu. “Nó” bảo mình đi, ừ thì đi; nhưng đi vài bước, Tú Mỡ băn khoăn, quay lại và lần này thành thực hỏi:

- Thế ra ông thả tôi thực hay sao?

- Anh biết đấy, lựa là phải hỏi.

- Xin cảm ơn. Nhưng ông có thể cho tôi biết quý danh và lý do ông thả tôi không?

- Ông chẳng cần biết tên tôi làm gì. Còn lý do thả ông, bởi vì ông hỏi, tôi xin nói: Tôi sang đây để lại một vợ có mang. Vợ chồng đương yêu thương nhau mà phải xa cách, ai mà lại không thấy xót xa trong lòng? Phục vụ quân đội được hai tháng thì một hôm tôi bị Việt Minh bắt giữ. Tôi yên trí không còn bao giờ được trở về quê hương để nhìn vợ nhận con. Thì may làm sao, người đại đội trưởng bắt được tôi chỉ giữ tôi có hai ngày chuyện trò tâm sự với tôi, thảo luận với tôi về cuộc chiến tranh nhơ bẩn này rồi cho tôi về. Từ đó, tôi thành ra một người khác. Tôi nhớ cái ơn ấy và tôi nguyện sẽ hành động cách nào để cho xứng đáng với tấm lòng đó. Anh là người đầu tiên tôi gặp để đem thi hành ý nghĩ đó, tôi ngờ rằng sau anh, tôi còn tái diễn hành động ấy.

Là một nhà thơ chuyên môn cười cợt, Tú Mỡ lúc ấy cũng thấy se sắt cả lòng. Anh bắt tay cảm tạ viên đại úy và cúi đầu rảo bước về khu anh ở. Cả nhà trông thấy khóc thét lên vì yên trí là ma hiện về. Thì ra có người đã báo tin cho nhà ông biết là ông đã bị bắt và Tây đã bắn chết rồi. Tú Mỡ đã chết thực. Chứng cớ là ở giữa nhà có bày bàn thờ, trên để một bức hình của anh. Tú Mỡ nhìn một lúc rồi cũng tưởng luôn mình đã chết thực. Nhưng vì đi đường đói quá, mà trên bàn thờ lại để cúng một đĩa bánh lọc và một đĩa giò, Tú Mỡ hạ tuốt xuống ăn tì tì và hỏi

- Thôi, tôi chẳng cần phải lễ tôi làm gì. Đói quá, ăn đã rồi nói chuyện sau.

Lần này, Tú Mỡ còn có trở về nữa không?

Chết rồi mà lại trở về ăn uống và trò chuyện với vợ con như… người sống, đó cũng là một đề tài để cho Tú Mỡ làm thơ trào phúng, nhưng không hiểu làm sao, từ đó đến nay tôi chưa thấy Tú Mỡ làm một bài thơ nào như vậy. Ở khu về, rồi đi vào miền Nam, thỉnh thoảng có một vài tin tức cho tôi hay là Tú Mỡ vẫn khỏe tuy đã lớn tuổi rồi, cho tới một ngày đầu năm Tân Hợi thì có tin đồn mất thật. Chắc chắn lần này, Tú Mỡ không về nữa và dù có cầu xin thế nào đi nữa, ông cũng không thể đưa cái thân gầy xác ve về ăn bánh lọc và giò như trước nữa – nếu tin chúng tôi nhận được quả là xác thực.

Thôi, cũng cứ cho là được đi. Ở vào cái thời chiến tranh này, ăn tới cái thượng thọ bảy mươi như thế, phải nói là hiếm có. Nếu ai biết Tú Mỡ từ lúc còn trẻ, chắc chắn không có mấy người dám tin rằng ông lại có thể đi tới được… cao độ ấy. Là vì ngay từ lúc còn trẻ tuổi, Tú Mỡ đã gầy yếu hom hem, mà theo ý kiến của đa số người mình thì những người ốm o như thế, khó mà thọ được. Nhưng Tú Mỡ cứ sống nhăn. Dù nắng hay mưa, dù rét hay nóng, ông cứ ngày ngày hai buổi đạp một cái xe đạp tàng đi làm việc. Đi lẫn vào trong đám công nhân, Tú Mỡ đằng thẳng ra không được ai chú ý, nhưng trái lại, ai cũng phải chú ý đến Tú Mỡ vì ngoài cái áo the tàng và đôi giày mõm nhái ra, Tú Mỡ quanh năm đội một cái nón dứa có quai bằng lụa thắt lấy cằm. Tại sao lại chú ý như vậy?

Thực ra, vào thời buổi ấy, mặc áo ta, đội nón dứa, đi giày Tây, lái xe đạp đi ngoài đường, không phải chỉ có một mình Tú Mỡ. Các ông quan nhỏ và những tay sai của thực dân vẫn ăn mặc như thế, và có một đặc thù là cuốn cái tà áo dài đằng sau lại khi đi xe đạp. Tú Mỡ cũng ăn mặc như thế, nhưng có một điểm đặc biệt khác người là ông gắn một cái còi xe hơi vào xe đạp, mỗi khi đến chỗ đông thì bấm bí bon, bí bon ầm ĩ cả lên, còn cái nón dứa của ông thì sơn vàng, để lộ ba chữ Nho trắng “Hồ Trọng Hiếu”. Không hiểu Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu kẻ ba chữ đó vào nón là vì tinh nghịch, hay là vì sợ đi xe đạp bị “ác-si-đăng”(1) chết mà không có ai biết nạn nhân tên là gì nên phải kẻ như thế để cho người ta biết. Dù sao, ba chữ “Hồ Trọng Hiếu” cũng đã được nhiều người biết từ lúc ông còn trẻ, mới đi làm việc cho Tây, nhưng biết thế thôi, chớ về đời riêng của Hiếu thì chỉ có mấy anh em thân biết mà thôi.

Lúc ấy, tôi còn nhỏ so với Hồ Trọng Hiếu, nhưng tôi biết rõ về đời ông là nhờ vì Hiếu là bạn thân của cậu ruột tôi và bà thân mẫu của ông Hiếu là bạn buôn bán “hài” và vàng mã của bà ngoại tôi. Nhà Hiếu ở Hàng Hòm, nhà bà tôi ở đầu Hàng Hài, hai nhà như một. Tuy tôi ở Hàng Gai nhưng gần như suốt ngày tôi ở bên bà ngoại tôi nên Hồ Trọng Hiếu tuy không hơn tuổi tôi nhiều, vẫn coi tôi như cháu và thường dắt tôi về nhà cho tôi mượn truyện để đọc và nói chuyện về đời các con côn trùng như bươm bướm, nhền nhện, ngựa trời, đông trùng hạ thảo cho tôi nghe. Bây giờ còn giữ được nguyên vẹn cảm tình gì đối với ông Hiếu, ấy là ở chỗ ông Hồ Trọng Hiếu là một người “hiền lành như đếm”, yêu chiều trẻ con rất mực và nhũn nhặn, khiêm nhường hết sức.

Cách đây không lâu – dưới trào Ngô Đình Diệm – tôi có đọc một bài báo của một nhà văn trẻ tuổi nào đó (không cần nói tới tên làm gì) nhân bàn về thơ trào phúng có viết đại khái rằng Hồ Trọng Hiếu là một anh “sì nốp” vì phục ông Hồ Chí Minh quá nên đổi họ là họ Hồ (cũng như mấy ông lính ngoại quốc theo kháng chiến lấy tên là Hồ Chí Tài, Hồ Chí Sanh) chớ thực ra Tú Mỡ là họ Nguyễn: Nguyễn Văn Hiếu.

Muốn chửi các nhà văn tiền chiến thế nào cũng được, ai có quyền gì ngăn cản; nhưng vu cáo cho Tú Mỡ đến như thế thì… phải tội! Tôi có biết nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu: đó là nhà thơ đã trước tác ra bài thơ Ông Táo:

Năm ba ông Táo dạo chơi xuân,

Đội mũ đi hia chẳng mặc quần.

Trời hỏi làm sao ăn mặc thế,

Thưa rằng: hạ giới có duy tân.

mà báo Duy Tân lầm là của Tú Xương và Ngô Tất Tố lầm là thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Hồ Trọng Hiếu không phải là Nguyễn Văn Hiếu. Từ lúc cha sinh mẹ đẻ, Tú Mỡ vẫn là họ Hồ. Cái gì không biết chớ Tú Mỡ nhất định không bao giờ lại trơ trẽn đến thay cả họ mình đi như có người ở đây, thấy Ngô Đình Diệm lên hương, đã đổi họ mình ra họ Ngô và tán ông Ngô là dòng dõi vua Ngô Quyền.

Ngay từ lúc đi làm với Tây, Tú Mỡ đã tỏ ra là người có khả năng, có tư thế, đi làm rất chăm chỉ nhưng không phải vì thế mà sợ Tây. Ông ít nói, Tây không hề làm khó dễ với ông, nhưng ông không vì thế mà quên căm hờn thực dân Pháp, chứng cớ là ngay từ hồi ấy ông đã có nhiều bài thơ châm chọc bọn người thống trị, nhất là tay sai của Pháp (tức là bọn quan lại), châm chọc kín đáo, nhẹ nhàng (chớ không dữ dội và huỵch toẹt như sau này trên hai tờ Phong Hóa, Ngày Nay).

Ấy là thời kỳ ông bắt đầu viết thơ vui trên tờ kỷ yếu “Việt Nam Thanh niên hội” của sinh viên trường Cao đẳng, đặt trụ sở ở đường Vọng Đức (Hà Nội), mà chủ nhiệm là một người Pháp: Ô. Paul Monet.

Tại sao Tú Mỡ lại chỉ viết thơ trào phúng?

Tôi đọc bài thơ cười đầu tiên của Tú Mỡ trên kỷ yếu “Việt Nam Thanh niên hội” là do cậu tôi là Trương Văn Bách đưa cho đọc. Có lẽ về sau này trong nước có nhiều người đọc thơ, yêu thơ và rất có thể phục thơ Tú Mỡ, nhưng người đầu tiên nhận thức được cái tài trào lộng của Tú Mỡ, chính là Trương Văn Bách.

Lần đầu tiên đọc Tú Mỡ, tôi không thể tưởng tượng sao một người “lơ mơ” như Hồ Trọng Hiếu lại có thể làm thơ tài như thế – nhất là thơ ấy lại đăng trong một kỷ yếu dầy cộp, bìa xanh, vẽ ở ngoài một cây đa cổ thụ, lúc ấy nổi tiếng là một tập san quan trọng, do toàn những bực tài ba bỉnh bút. Nói “lơ mơ” thực quả tôi không có ý “hạ thấp” Tú Mỡ. Quả là như thế: ốm yếu, hom hem, như một người mắc bịnh gì kinh niên, cằm lẹm, nói nhỏ nhẹ gần như không ra tiếng. Theo chỗ biết của tôi, ông là một người đạo đức, luôn luôn sống theo đúng lễ giáo thánh hiền, nói tiếng Pháp thông thạo, nhưng không mấy khi nói, trừ trường hợp bất đắc dĩ phải dùng – khác hẳn với đa số thanh niên lúc bấy giờ là thời kỳ có những “ông tây An Nam” động một tí là “xổ” hàng tràng tiếng Pháp.

Bây giờ tôi không còn nhớ đầu đề một bài thơ trào phúng của ông mà tôi được đọc trên tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” nhưng còn mang máng nhớ rằng ông đả kích một ông đốc học ở Thái Bình – ông đốc Q. này dẫm phải phân Tây đi đâu cũng nói tiếng Tây, lúc nào cũng vuốt mũi cho lõ như mũi Tây, thét rồi tưởng mình là Tây thực, một hôm, đi dạo chơi nhà Bô Đa (tức là nhà Magasins Réunis ở đường Paul Bert Hà Nội) bị một ông nhà quê chạm phải. Ông đốc Q. lùi lại ba bước khịt mũi ra dáng tởm và chửi ông nhà quê nọ là “sale Annamite” – thằng An Nam dơ bẩn – đến nỗi có một người đầm đi qua đó phải bật lên cười rũ rượi và chửi ông đốc nọ một trận nên thân.

Tôi không nhớ các bài thơ khác, nhưng mang máng nhớ rằng Tú Mỡ hồi ấy (ký tên thật trên báo là Hồ Trọng Hiếu) nhằm rất nhiều vào các bà ngồi đồng, các người Việt mất giống và các ông quan nịnh Tây hành hạ đồng bào.

Chính vào thời kỳ này, Hồ Trọng Hiếu đã đẻ ra Lý Toét mà ông khai sinh ra ở làng Đình Dù (Bắc Ninh). Cái tên Lý Toét lúc ấy có nhiều người nói tới để chế nhạo những người “quỷnh”, những anh “hấp lìm”. Hồ Trọng Hiếu là người đầu tiên đưa Lý Toét lên tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” mà tiếng Tây kêu là “Foyer des étudiants annamites”. Nhưng vì tập kỷ yếu này không được phổ biến nhiều trong dân chúng, nên Lý Toét không được ai nhắc tới, mà chính cái tên Hồ Trọng Hiếu cũng không được nhiều người biết. Về sau này, tôi còn nhớ Hồ Trọng Hiếu còn viết thơ đăng vài tờ báo nữa – cùng với Nam Hương Bùi Huy Cường viết thơ ngụ ngôn – nhưng cái tiếng tăm của Hồ Trọng Hiếu cũng chẳng may mắn hơn ở trên tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội”.

Phải đợi đến lúc Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long ra tờ Phong Hóa và tuần báo Ngày Nay, cái tên Tú Mỡ (bút hiệu của Hồ Trọng Hiếu) mới nổi bật được lên và được kể là thơ trào phúng “có hạng” trong làng văn, làng báo. Nhưng đó là chuyện sau.

Tôi còn nhớ lúc ông Hồ Trọng Hiếu viết thơ cười cho tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” cho đến khi ông hợp tác chặt chẽ với hai tờ Phong Hóa, Ngày Nay – theo chỗ biết của riêng tôi – thì ông không hề có một bài nào viết bằng văn xuôi trên báo. Phải nói ông là một chuyên viên thơ trào phúng. Nhưng tại sao ông lại chỉ chuyên về thơ trào phúng?

Hẳn là ông có một thích thú riêng, một lý do riêng, để chuyên về loại thơ này, nhưng hồi ấy theo lời các bạn thân của ông tán gẫu với nhau – có khi sau lưng, có khi trước mặt ông – thì ông làm thơ trào phúng vì một nguyên nhân dễ hiểu: ông sợ vợ. Nói của đáng tội, bà Hồ Trọng Hiếu không phải là người dữ. Đó là một người đàn bà cổ kính, hơi mập hơn ông, quanh năm buôn bán tần tảo và sống theo nguyên tắc, mà ông Hiếu thì bề ngoài có vẻ “hiền” nhưng bên trong lại nghịch như ma, đi hát cô đầu “không chê được”. Ai đã từng hát cô đầu ở Bắc đều đã biết cái thú này không dung nạp được ánh mặt trời, nói một cách khác, đi nghe hát phải về đêm mới thú. Mà đi chơi về khuya một lần còn nói dối vợ được, hai lần còn nói dối vợ được, chớ đến ba lần thì nghe như hơi… khó, nên dù muốn cách thế nào, chớ đi về khuya hoài, mấy mà chẳng phải nể vợ, nếu không muốn cho ầm cửa ầm nhà.

Luận về sợ vợ, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu bàn rằng người ta sợ vợ vì ái thê, ái sinh úy, úy thê. Hiếu nọ cũng giống Hiếu kia: nể vợ mãi thành sợ, sợ quá, giấu được ít lâu, chớ mãi rồi anh em đều biết hết. Vì thế anh em mới kết luận rằng: Tú Mỡ sợ vợ nhiều khi tức không nói ra được, cứ giữ ở trong lòng. Giữ mãi không chịu nổi, cũng như người đàn bà có mang, chín tháng mười ngày phải đẻ, Tú Mỡ cũng phải đẻ ra văn mà bài văn đầu của ông là bài “rủa vợ” tế sống vợ. Mà một bài văn như thế, cố nhiên viết bằng văn xuôi mất thú, phải viết bằng thơ vui! Được cái đà ấy, Tú Mỡ tiếp tục làm thơ vui mãi, thét rồi thành thói quen, thấy cái gì buồn cười ấm ức trong lòng không làm thơ vui không chịu nổi.

Tôi không hiểu lý giải đó của các bạn thân của Tú Mỡ có đúng không, nhưng cứ xin ghi lại nơi đây. Nếu quả Tú Mỡ đã sang thế giới bên kia mà chợt vớ được bài này, chắc cũng cười xòa không giận, mà có khi lại còn thú vị là khác và ngâm lại đoạn bài văn sợ vợ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu: “Các anh cứ cười tôi đi, cóc cần, vì có vợ mới được sợ vợ, vì có vợ mới được sợ!”.

Ngôi sao Tú Mỡ chói sáng từ bao giờ?

Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu thật bắt đầu nổi tiếng, như trên kia đã nói, từ hai tờ Phong Hóa, Ngày Nay. Lúc này, Tú Mỡ gặp hai cái may hơn lúc viết cho tập kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội”: một là tờ Phong Hóa, tờ báo vui cười đầu tiên ở Bắc Việt (có thể nói là ở Việt Nam) bán rất chạy, nên thơ của Tú Mỡ được nhiều người đọc; hai là cho tới lúc bấy giờ, các báo chí chuyên về trào lộng bằng văn xuôi, thỉnh thoảng mới có thơ vui, mà Phong Hóa thì kỳ nào cũng có một hai bài nên được người đọc chú ý và thích thú.

Chẳng mấy lúc thơ vui của Tú Mỡ (đặt dưới đề mục Dòng nước ngược) thành cái “tủ” của báo và bút hiệu Tú Mỡ được người ta nói tới nhiều. Về sau này, có nhiều “Tú” ra đời như “Tú Sơn”, “Tú Phe”, “Tú Nạc”, “Tú Lơ Mông”, đều là theo Tú Mỡ, mà Tú Mỡ lấy chữ “Tú” ở bút hiệu cũng là bắt chước “Tú Xương” mà ông mến phục. Nhưng tại sao lại là “Tú Mỡ”?

Trong khi ông cộng tác với tờ Phong Hóa, tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với ông khá lâu ở nhà cậu tôi ở số 2 phố Hàng Hài. Tôi có hỏi tại sao ông lại đặt tên là Tú Mỡ thì ông cho biết là có hai lý do: một là ông nhái Tú Xương, ông Trần Tế Xương là Tú Xương thì ông là Tú Mỡ; hai là ông gầy ốm có tiếng, người chỉ trơ xương và đi lò dò như con cò thì ông “chơi trội” đặt tên là Tú Mỡ để xem họa may có vì làm thơ chửi đời mà… bán hơn được tí nào chăng.

Trên kia đã nói là Tú Mỡ khai sinh cho Lý Toét trên tờ kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” nhưng không ai để ý. Sau đó, Tú Mỡ lại đưa Lý Toét sang Tứ Dân Văn Uyển cũng của người Pháp làm chủ nhiệm – Ô. Henri Tissot – nhưng báo này cũng không chạy và Lý Toét vẫn không được ai biết tới.

Nói cho thật đúng, Tú Mỡ đẻ ra Lý Toét nhưng nuôi nấng cho Lý Toét nên người, có danh, có phận, có tăm, có tiếng, phải kể đến Nguyễn Tường Tam. Cùng với sự “lên hương” của thơ Dòng nước ngược, Lý Toét bỗng chốc thành một nhân vật điển hình trong văn học sử Việt Nam, đi đâu, ngồi đâu thiên hạ cũng buồn cười về những hành vi của Lý Toét. Đồng thời, thơ vui cười của Tú Mỡ vào thời này cũng sắc nét hơn vì hai lý do:

- Tú Mỡ có một cơ quan thường xuyên để bày tỏ nhân sinh quan của mình về xã hội lúc bấy giờ.

- Làng báo, làng văn lúc bấy giờ tương đối tự do hơn trước.

Tờ Phong Hóa bị đóng cửa, tờ Ngày Nay ra thay thế, Tú Mỡ viết ít hơn trước, cho đến khi đại chiến thứ hai bùng nổ, Tú Mỡ gần như treo bút. Có người bảo rằng ông phải nghỉ viết như thế là vì giám đốc Sở Tài chánh Đông Dương buộc ông phải viết cam đoan bỏ nghề viết báo, “nếu không thì bị bắt bỏ tù” nhưng nhiều người khác cho rằng đó chỉ là một “chuyện đồn đại”: Tú Mỡ không viết nữa vì không có cơ quan nào “đãi ngộ” Tú Mỡ như tờ Phong Hóa nữa, mà ngoài ra còn vì Tú Mỡ, trước phong cách “Tây đi Nhật tới”, cũng phải giữ gìn vì bao nhiêu bạn như Nguyễn Tường Long, Trần Khánh Dư đều bị Nhật bắt giam đầy ải.

Đến lúc Tây trở lại Hải Phòng, toàn dân kháng chiến, Tú Mỡ ở lại với gia đình ở Hà Nội rồi theo kháng chiến lên Việt Bắc, làm bổn phận của người công dân lúc bấy giờ là diệt thực dân để tranh thủ độc lập cho đất nước.

Trong mấy năm trời kháng chiến tôi không gặp Tú Mỡ lần nào, nhưng ở Đọi Đệp cứ mỗi phiên chợ Đồng Quan gặp anh em ở Việt Bắc về, tôi vẫn được nghe tin tức về Tú Mỡ và biết rằng ông vẫn mạnh, nhưng tôi không thấy mấy ai đem về kể lại cho tôi nghe một bài thơ trào phúng của ông. Là vì tại ông đã lớn tuổi, không còn trước tác nữa? Hay là tại công tác bận rộn ở ngoài kia không còn cho phép ông rảnh rỗi để làm thơ nữa?

Cho mãi đến tận năm ngoái tôi mới lại được tin về Tú Mỡ. Lần này, không phải do các anh em kháng hay hồi chánh về kể lại, như lúc tôi la cà ở Chợ Đại, Chợ Kẹo, ở Đọi Đệp hay Ngăm, Đần, nhưng do một nữ ký giả người ngoại quốc thuật lại sau những tháng sống dưới bom đạn ở Hà Nội năm 1968

Madeleine Riffaud – tên nữ ký giả – cho biết rằng Tú Mỡ, trong những ngày đầu tiên Bắc Việt bị ném bom, vẫn khỏe mạnh, tuy ông đã bảy mươi tuổi rồi.

“… Nhà thơ trào phúng đó gặp tôi nhiều lần và có một lần đã trò chuyện với tôi rất lâu, cùng với Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên. Ông bận một bộ quần áo bà ba đen, tóc hoa râm nhưng vẫn rậm, không xói. Theo lời các bạn hữu khác kể lại thì lúc này ông mập mạp hơn khi còn trẻ tuổi và sống yên ổn với gia đình trong một căn nhà xinh xẻo có vườn trồng rau ở một ngoại ô Hà Nội. Ông vẫn làm thơ và thơ ông vẫn đượm một tinh thần trào lộng sâu sắc như khi ông còn trẻ”.

Vẫn theo lời nữ ký giả, ở gần nơi Tú Mỡ ở có nhiều giàn cao xạ. Nhiều anh em khuyên ông nên tạm di tản đi nơi khác, nhưng ông không chịu vì ông cho biết là ông thấy có một cái thú riêng ở đấy: cái thú được xem bắn máy bay đến oanh kích Bắc Việt. Bài thơ trào phúng mà Madeleine Riffaud dịch ra tiếng Pháp trong cuốn Au Nord Vietnam (ở Bắc Việt) liên quan đến cái thú ấy: Tú Mỡ tả một cái máy bay bị rớt ngay ở gần nhà ông, trong một bụi chuối và kết cục ông đã chơi chữ “cây chuối” và “ăn củ chuối của ông đây này”.

Đọc bài thơ đó, người ta vẫn thấy giọng thơ của Tú Mỡ không thay đổi: lấy thời sự làm thơ tự nhiên và nhất khí, nên dễ nhớ cũng như bài thơ Nam Hải dị nhân, Sư cô ở cữ, Cái chuông ông trùm… ngày trước. Ngày trước, sống thái bình, những bài thơ của Tú Mỡ được người ta đọc chơi. Bây giờ thì khác. Theo nữ ký giả Riffaud, thơ của Tú Mỡ có tác dụng của những bài vè truyền miệng, một thứ văn dân gian để cho người ta kể lể với tính cách tuyên truyền trong dân chúng như tục ngữ, phong dao vậy.

Ngày xưa, để chống lại phong kiến, dân gian đã đặt ra những ca dao, tục ngữ nhằm chống lại những tai to mặt lớn của chính quyền phong kiến, những “lô cốt tinh thần” do quan lại xây nên như:

Chập cheng thôi lại chập cheng,

Con gà sống thiến để riêng cho thày.

(nhạo bọn đồng cốt quàng xiên)

Thày lo xem tướng cho người,

Tướng thày thì để cho ruồi nó bâu.

(nhạo bọn bói, tướng)

Ban ngày quan lớn như thần,

Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

(nhạo bọn quan lại)

Sư đang tụng niệm nam mô,

Thấy cô xách giò mò cua lên chùa

Lòng sư luống những mơ hồ

Bỏ kinh, bỏ kệ tìm cô hỏi chào.

Ai ngờ cô đi đàng nào,

Tay cầm tràng hạt ra vào băn khoăn.

(nhạo bọn tu hú)

Thì bây giờ, bên kia vĩ tuyến 17, người Việt Nam vẫn áp dụng ca dao, vè tả thực để làm “đòn bút” đánh vào thành trì ý thức hệ của những người chống họ. Tú Mỡ là một trong những người thơ làm những ca dao tả thực đó, những bài vè ngộ nghĩnh dễ đọc, dễ nhớ để cho cán bộ đem đi “kể” trong những đám đông, trong những hội hè, đình đám (cũng như thời Trung cổ ở Âu châu, những troubadour(1) đi kể những bản anh hùng ca vậy)

Ở bên này vĩ tuyến, có cái “mốt” càng khó hiểu, càng cách biệt dân chúng, càng trừu tượng thì lại càng được coi là mới, là hợp thời, là “trẻ”, chẳng biết bên nào phải, bên nào trái?!

Sài Gòn, đầu năm Tân Hợi

Văn Học số 127 (1-5-197

Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.

www.trieuxuan.info

( Thực tế, Tú Mỡ mất ngày 13-7-1976, thọ 76 tuổi – (NBT).

(1) Tiếng Pháp: tai nạn – (NBT).

(1) Tiếng Pháp: người hát rong, người kể chuyện rong – (NBT).

Các tượng đài XHCN dần dần bị sụp đổ

Posted on

Nguyễn Văn Tuấn

Đọc trên RFI thấy có tin chính quyền Hungary đã quyết định hạ tượng Karl Marx ở khuôn viên đại học Corvinus (1). Thế là 25 năm sau ngày XHCN suy sụp, bức tượng của ông tổ XHCN bị hạ bệ theo cái chủ thuyết của ông luôn. Thật ra, không chỉ Marx, các tượng đài của những người cộng sản “tay tổ” như Lenin, Stalin đều đã bị hạ từ lâu.

Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ một thời gian, hàng ngàn người tụ tập ở quảng trường Dushanbe (thủ đô của Tajikistan), và họ kéo sập tượng Lenin. Có người còn cực đoan đến đập sao cho đầu của tượng bị văng ra khỏi thân tượng.

Cách đây không lâu, người dân Ukraina quyết định hạ tượng của Lenin, nhưng cách họ làm rất ư là bạo lực. Họ dùng xe cần cẩu kéo sập tượng. Khi tượng bị ngã, người dân tức giận không chịu tha mà còn lấy búa đập bức tượng. Tượng Stalin thì thê thảm hơn, vì bị cho nổ tung luôn. Những hành động đó có thể xem là quá khích, nhưng nó phản ảnh sự oán hận quá lâu và quá sâu sắc của người dân.

Năm 2012, Mông cổ quyết định hạ tượng Lenin (3). Lí do hạ bệ Lenin là vì, theo ông Thị Trưởng Bat-Uul Erdene, ông là người đề xướng cái chủ nghĩa đã giết chết gần 100 triệu người trên thế giới. Chẳng biết ông lấy con số này ở đâu, nhưng ông nói trước công chúng như thế. Bức tượng Lenin được đem đi đấu giá, với cái giá khởi điểm chỉ 300 USD! Sau Mông Cổ là Ukraina cũng giật sập tượng Lenin ở thành phố Kiev vào cuối năm 2013 (4).

Không chỉ giật sập tượng, nhiều nước Đông Âu và vùng Baltic còn cấm những biểu tượng cộng sản như búa liềm, ngôi sao năm cạnh xuất hiện nơi công cộng. Các biểu tượng đó cùng với huy hiệu SS được xem là biểu tượng của chế độ độc tài, và Hungary có luật cấm trưng bày những biểu tượng ở nơi công cộng (5). Luật này có thời bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Nhưng sau Hungary, Ba Lan cũng cấm các biểu tượng cộng sản nơi công cộng.

Ở vài nơi, người cộng sản có thói quen đổi tên thành phố khi cách mạng của họ thành công. Trước đây, họ đổi tên thành phố Saint Petersburg thành tên của Lenin (Leningrad). Nhưng cái gì của Cesar phải trả về cho ổng: Năm 1991, chính quyền Nga đã quyết định xoá tên thành phố Leningrad và trả lại cái tên cũ là Saint Petersburg.

Điều trớ trêu là tượng đài của những người như Lenin, Stalin, Marx vẫn còn có hàng triệu người tôn sùng ở Á châu, dù những kẻ tôn sùng chẳng có liên quan văn hoá hay dân tộc gì với họ.

FB Nguyen Tuan

—-

(1) http://vi.rfi.fr/quoc-te/20140918-hungary-ha-be-tuong-cac-mac/

(2) http://articles.baltimoresun.com/2003-04-13/news/0304130226_1_lenin-large-statue-saddam-hussein

(3) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2012/10/121015_mongolia_lenin_legacy.shtml

(4) http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%ADt_s%E1%BA%ADp_t%C6%B0%E1%BB%A3ng_Lenin_%E1%BB%9F_Kiev

(5) http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=3403

Đào Hiếu – Chuyện 5 người Việt Nam

Posted on

Đào Hiếu

Bồn cầu tiêu bằng vàng 24 cara, giá 200.000 đô la Mỹ

Đó là năm người đàn ông: một nhà trí thức, một doanh nhân, một cán bộ tuyên huấn, một tướng về hưu và một blogger. Họ đang nói chuyện “thời sự” trong một bữa nhậu. Nhưng vì họ tranh luận về đề tài “Việt Nam đang đứng ở đâu và sẽ đi về đâu?”, một đề tài lớn, nên chúng ta có thể nói là họ đang bàn “quốc sự”.

Nhưng ai lại đi bàn quốc sự trong một bữa nhậu bao giờ. Bởi vì không khí trong bữa nhậu thường bát nháo, thiếu nghiêm túc.

Chẳng hạn như anh chàng blogger, để trả lời câu hỏi “Việt Nam đang đứng ở đâu và sẽ đi về đâu?” thì anh ta nói:

-Việt Nam đang đứng trước lăng Bác và sẽ đi vào trong lăng Bác.

Rồi hắn ta cười hô hố. Chính vì thế mà nhà trí thức đề nghị nên chuyển đề tài thảo luận là: “Tình cảnh Việt Nam hiện nay như thế nào?”

NHÀ TRÍ THỨC: Tôi cho rằng Việt Nam đang rất nguy hiểm. Phía Bắc thì giặc Tàu đang chiếm một phần lãnh thổ biên giới và diễu võ giương oai. Phía Đông thì chiếm đóng Hoàng Sa, Trường Sa, xây dựng căn cứ quân sự, xây dựng sân bay, đưa nhiều đội tàu thuỷ tới khiêu khích. Phía Tây họ chiếm đóng Tây Nguyên dưới hình thức khai thác bô-xít. Phía Nam thì họ thủ sẵn con gà nòi Sam Rainsy sẵn sàng “đá” Việt Nam khi cần thiết. Tóm lại là chúng ta đang bị Trung Quốc bao vây bốn phía. Hết cựa quậy!

DOANH NHÂN: Theo tôi, tình hình không đến nỗi bi quan đến như thế. Ra đường vẫn thấy không khí rất thanh bình. Các nhà hàng ăn uống vẫn náo nhiệt, các vũ trường, nhà hát vẫn đầy tiếng vỗ tay, những trận bóng đá vẫn rất hào hứng.

CÁN BỘ TUYÊN HUẤN: Tôi cho rằng anh Trí Thức đã chịu ảnh hưởng các thế lực thù địch trên Facebook, tuyên truyền chống phá cách mạng. Đó là những “anh hùng bàn phím” chẳng được cái tích sự gì. Thực chất họ là những kẻ vô công rỗi nghề. Họ chỉ là những kẻ “tự sướng” mà thôi.

BLOGGER: Nếu anh nói họ vô tích sự, chỉ tự sướng mà thôi… vậy thì anh giải thích thế nào về những người đã bị bắt, bị tù như Phạm Viết Đào, Anh Ba Sàm, Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân, Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Điếu Cày…? Nếu họ chỉ là những “anh hùng bàn phím” vô tích sự thì sao chính quyền lại sợ họ?

CÁN BỘ TUYÊN HUẤN: Sợ họ sao? Họ chỉ gãi ngứa.

BLOGGER: Nếu chỉ gãi ngứa sao phải đeo bám họ mỗi ngày? Sao cấm họ xuất cảnh? Sao phải dựng nên những chuyện buồn cười như “hai bao cao su”, như ”đi xe hàng ngang”… để bắt họ và bỏ tù họ, như trường hợp Bùi Hằng?

TƯỚNG VỀ HƯU: Tôi cho rằng chính quyền sợ họ thì ít mà sợ Trung Quốc thì nhiều.

NHÀ TRÍ THỨC: Tôi cũng nghĩ rằng chính quyền rất sợ Trung Quốc. Nhưng trong hàng ngũ lãnh đạo hiện nay không phải ai cũng theo Trung Quốc. Mọi người đều biết rằng hiện có nhiều phe phái: phe thân Trung Quốc, phe thân Mỹ, phe bảo thủ, phe cấp tiến vân vân…

TƯỚNG VỀ HƯU: Anh cho rằng hiện có nhiều “phe” trong giới lãnh đạo chóp bu sao?

NHÀ TRÍ THỨC: Điều đó ai mà không biết.

TƯỚNG VỀ HƯU: Nhưng tôi thì không biết. Tôi luôn nghĩ rằng trong giới lãnh đạo Việt Nam chỉ có một phe. Đó là Phe Thân Trung Quốc. Những tranh cãi, những đòn phép chính trị giữa vị này và vị kia chỉ là mâu thuẫn nội bộ vì quyền lợi và địa vị cá nhân. Còn về tư tưởng và quan điểm lập trường, quan điểm đối ngoại thì họ nhất quán với nhau: đó là theo Trung Quốc. Không một vị lãnh đạo nào có thể tồn tại mà không theo Trung Quốc.

DOANH NHÂN: Anh căn cứ vào đâu để thổi phồng quyền lực của Trung Quốc đến như vậy?

TƯỚNG VỀ HƯU: Theo cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thì việc ông Nguyễn Cơ Thạch mất ghế bộ trưởng bộ ngoại giao là do áp lực của Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô 1990, coi đó là điều kiện để bình thường hóa quan hệ hai nước. Lúc đó ông Nguyễn Cơ Thạch với tư cách bộ trưởng bộ ngoại giao nhận định về thỏa thuận Thành Đô: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự.”

Một bộ trưởng bất đồng với Trung Quốc, lập tức bị Trung Quốc loại bỏ, vậy thử hỏi những lãnh đạo cấp cao hơn, mà dám trái ý Trung Quốc liệu có thể tồn tại được không? Tình báo của họ ở khắp nơi, người của họ ở khắp nơi, từ trung ương đến địa phương. Chỉ cần một biểu hiện bất đồng nhỏ với họ thì anh sẽ mất chức, nói chi tới việc thân Mỹ?

NHÀ TRÍ THỨC: Nhưng thân Mỹ là chuyện sống còn của Việt Nam.

TƯỚNG VỀ HƯU: Cho dù có muốn thân, chưa chắc Mỹ đã chìa tay ra với mình. Là vì Mỹ làm ăn buôn bán với Trung Quốc nhiều hơn với Việt Nam cả trăm lần. Không bao giờ Mỹ vì Việt Nam mà đánh nhau với Trung Quốc. Đó là chuyện viễn vông. Mỹ đã từng đổ máu ở Việt Nam, ở Irac và Afghanistan nhưng kết quả chẳng ra gì, cuối cùng cũng phải rút lui vì sa lầy. Mỹ sẽ không lập lại chuyện đó.

BLOGGER: Vì vậy “thoát Trung” vẫn là mục tiêu hàng đầu của lực lượng dân chủ Việt Nam hiện nay. Phải tự cứu mình, không ai có thể cứu chúng ta được.

NHÀ TRÍ THỨC: Nhưng trước tình cảnh gần như tuyệt vọng như hiện nay, chúng ta sẽ tự cứu mình như thế nào? Phát triển thực lực, xây dựng cơ sở để hình thành một lực lượng đối lập, một mặt trận.

CÁN BỘ TUYÊN HUẤN: Ý anh muốn nói là “Mặt Trận” kiểu như “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước đây?” Tôi nghĩ chúng ta quá lãng mạn rồi đấy. Hãy cứ nhìn những cuộc biểu tình vừa qua mà xem! Được bao nhiêu người? Sức hút quần chúng của những cuộc biểu tình ấy như thế nào? Kết cuộc ra sao? Nói tóm lại là các anh không có quần chúng. Quần chúng thờ ơ. Quần chúng đứng ngoài cuộc. Làm sao các anh có thể thực hiện được những cuộc xuống đường quy mô lớn để có thể thổi lên như kiểu “Cách Mạng Hoa Lài” ở Bắc Phi?

Và điều quan trọng nhất là chúng ta có một anh hàng xóm khổng lồ tham lam và hung dữ đang đứng bên cạnh, hơn nữa lại không có một cường quốc nào chống lưng, chúng ta sẽ làm được trò trống gì?

TƯỚNG VỀ HƯU: Cho dù các anh có làm nên chuyện đi nữa. Ví dụ như lật đổ được nhà nước hiện nay, thành lập một nhà nước khác, một chính quyền dân chủ. Nhưng sau đó là cái gì? Các anh sẽ giữ được chính quyền ấy trong bao lâu? Tôi cho rằng không quá ba tháng. Vì sao? Vì Trung Quốc sẽ tấn công, sẽ lật đổ các anh rất nhanh và đưa người những người cũ lên, hoặc nếu muốn, họ cũng có thể đẻ ra một chính quyền bù nhìn khác.

DOANH NHÂN: Dễ dàng như vậy sao?

TƯỚNG VỀ HƯU: Tôi nghĩ có thể sẽ còn dễ hơn. Vì sao? Vì họ có một đội quân đông gấp trăm lần mình. Họ có vũ khí nhiều hơn và hiện đại hơn ta gấp trăm lần. Họ có tiềm lực kinh tế lớn hơn ta gấp trăm lần. Họ hiếu chiến và tàn bạo hơn ta gấp trăm lần. Làm sao các anh có thể giữ được “thành quả cách mạng” khi các anh chỉ là một con kiến dưới ngón tay của họ? Tình cảnh của Việt Nam gần giống như Ukraine. Ukraine đang cầm cự nhưng rồi sẽ mất thêm đất đai và có thể sẽ tan rã. Nga sẽ đưa thuộc hạ của họ lên nắm chính quyền nếu Mỹ và NATO cứ xìu xìu ển ển như hiện nay.

Còn Việt Nam, nếu như có chính quyền mới thì tình hình sẽ tệ hại hơn Ukraine nhiều, vì Trung Quốc tàn bạo hơn Nga, còn chính quyền Việt Nam thì đang tan rã vì nạn tham nhũng.

DOANH NHÂN: Nhưng mà kẻ nào đã đẩy Việt Nam vào thảm cảnh này vậy?

Mọi người cười ồ lên, phá tan cái không khí căng thẳng của cuộc tranh luận. Tướng Về Hưu nói: “ Câu này ông bạn nên về nhà hỏi bà xã.”

BLOGGER: Nãy giờ chúng ta tranh luận nhau sôi nổi như thế này để đưa tới một mục đích gì? Một giải pháp gì?

DOANH NHÂN: Chẳng có giải pháp nào cả. Tôi chỉ thấy cuộc tranh luận này đưa đến một sự tuyệt vọng. Bó tay. Hết thuốc chữa.

TƯỚNG VỀ HƯU: Tôi cho rằng chúng ta vẫn còn một con đường: đó là tranh thủ Hoa Kỳ vào cuộc. Nhưng như trên đây tôi đã phân tích: làm thế nào để Hoa Kỳ vào cuộc?

BLOGGER: Đó là một ẩn số.

TƯỚNG VỀ HƯU: Thực ra nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam thực lòng vì nước, nhìn thấy xu thế của thời đại mà dân chủ hoá thể chế, thì họ hoàn toàn có thể cùng với các nhà dân chủ trong nước đối thoại để tìm một giải pháp thoát Trung. Một khi Việt Nam có được một thể chế dân chủ thì việc liên minh với Hoa Kỳ là điều khả thi.

CÁN BỘ TUYÊN HUẤN: Anh dùng cụm từ “cùng với các nhà dân chủ trong nước”. Tại sao phải cùng với họ?

TƯỚNG VỀ HƯU: Vì một mình nhà nước không thể thoát Trung và dân chủ hoá được. Trung Quốc sẽ đè bẹp. Nhưng nếu có sức mạnh toàn dân thì Trung Quốc không dễ gì can thiệp thô bạo. Ngược lại một mình các nhà dân chủ thì cũng chẳng làm gì được vì họ sẽ lần lượt vào tù. Về chuyện này, chúng ta nên học tập Myanma.

CÁN BỘ TUYÊN HUẤN: Còn nếu Việt Nam không thoát Trung, không dân chủ hoá, không liên minh với Hoa Kỳ thì sao?

BLOGGER: Thì bộ máy lãnh đạo Việt Nam sẽ tiếp tục hưởng lợi. Sẽ độc chiếm giang hồ, thiên thu trường trị. Họ sẽ được Trung Quốc nuôi béo như kiểu Mỹ nuôi béo các ông hoàng Ả Rập. Họ cũng sẽ có những cái cầu tiêu bằng vàng như quốc vương Abdullah (Saudi Arabia), quốc vương Hassanal Bolkiah (Brunei). Và họ sẽ giương cao hơn nữa khẩu hiệu: “Còn Trung Quốc, còn mình.”

“Đêm Dày Lấp Lánh” là một quyển sách quý

Posted on

Nguyễn Thị Kim Chi

Cuốn sách “Đêm Dày Lấp Lánh” đã hấp dẫn tôi một cách kỳ lạ. Tôi đã khó có thể dừng lại khi cầm trên tay quyển sách viết về sáu mươi chân dung của các nhà Dân chủ Việt Nam của tiến sĩ khoa học Nguyễn Thanh Giang. Gần sáu trăm trang chữ in trên giấy khổ A4 với một lượng thông tin ngồn ngộn về nhân thân và công tích của sáu mươi gương sáng dấn thân cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam .Tôi thực sự không hình dung nổi ông đã dành biết bao nhiêu thời gian và công sức cho một công trình đồ sộ đến thế.

Sáu mươi nhân vật trong sách ĐÊM DÀY LẤP LÁNH đề cập đến là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh, Trần Xuân Bách, Nguyễn Vũ Bình, Văn Cao, Ngô Bảo Châu, Hoàng Minh Chính, Tiêu Dao Bảo Cự, Trần Dần, Phan Đinh Diệu, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Chi Dũng, Phạm Quế Dương, Nguyễn Văn Đài, Lê Hiếu Đằng, Thích Quảng Độ, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Lê Hồng Hà, Tô Hải, Nguyễn Văn Hải ( điếu cày ) Đỗ thị Minh Hạnh, Trần Mạnh Hảo, Vũ Thư Hiên, Vũ Hùng, Dương Thu Hương, Vi Đức Hồi, Nguyễn Hộ, Thôi Hữu, Trần Khuê, Nguyễn Gia Kiểng, Trần Lâm, Mai Thái Lĩnh, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Lý, Đỗ Nam Hải, Phan Văn Lợi. Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Thanh Nghiên, Lê Thị Công Nhân, Trần Nhơn, Hà Sĩ Phu. Lữ Phương, Lê Chí Quang, Lê Quốc Quân, Vũ Cao Quận, Nguyễn Đan Quế, Bùi Minh Quốc, Trần Đại Sơn, Phạm Hồng Sơn, Trần Đức Thảo,Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Bùi Tín, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Hữu vinh, Cù Huy Hà Vũ, Huỳnh Thục Vy.

Năm mươi chín nhân vật sau Nguyễn Trãi trong “Đêm dày lấp lánh” không bị tru di tam tộc nhưng cuộc đời họ cũng bị không biết bao nhiêu hệ lụy vì dám bày tỏ chính kiến của mình. Tôi nghẹn ngào xúc động trước những gian truân mà họ từng trải và vô cùng ngưỡng mộ trí lự và chí khí của họ.Tôi nhận biết rõ là tác giả đã dành cả tình yêu, lòng quí trọng của ông cho các nhân vật của mình. Rồi tôi lại nghĩ, chính ông cũng là một nhà Dân chủ tài hoa tâm huyết rất đáng kính, nhưng không biết rồi ai sẽ viết về ông?

Cuốn Đêm Dày Lấp Lánh hiện đã có trong Tú sách của Quốc hội Hoa Kỳ, trong Tủ sách của Viện Hàn lâm Khoa học Nữu Ước, trong Thư viện của trường Đại học Sorbonne, Thư viện của trường Đại học Paris 7 (là những nơi đã đào tạo nên triết gia Trần Đức Thảo, tiến sỹ Nguyễn Mạnh Tường, giáo sự Ngô Bảo Châu, tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ) …

Ở Việt Nam có một số ít người được tặng nhưng là bản photocopy. Nơi ấn hành từ Hoa Kỳ có gửi về cho tác giả hai thùng sách nhưng đều đã bị lẳng lặng tịch thu. Tuy là bản photocopy nhưng tác phẩm rất đẹp. Bìa sách do cháu ngoại Tiến sỹ tên là Vũ Nguyễn Thủy Tiên trình bày.

Đêm Dày Lấp Lánh không phải là cuốn sách đầu tiên của ông Tiến sỹ Khoa học này. Ngoài một số sách khoa học kỹ thuật được xuất bản công khai ở trong nước từ ba bốn chục năm trước, các sách chính luận của ông như “Nhân quyền -Khát vọng ngàn đời”, “Suy tư và Ước vọng”, “Giữa Đông và Tây”, “Nhân quyền và Dân chủ ở Việt Nam”, “Sứ mệnh Công dân” … chỉ được xuất bản ở nước ngoài: Hoa Kỳ, Canada, Nhật bản, Pháp … Nguyên bản các các cuốn sách này chỉ tác giả có nhưng cũng phải dấu ở nơi khác (Nhà ông đã bị khám trên chục lần).

untitled_0.jpg

Đêm Dày Lấp Lánh của tác giả Nguyễn Thanh Giang

Những cuốn kể trên trước đây đã được tác giả photocopy thành nhiều trăm bản để biếu tặng. Riêng cuốn Đêm Dày Lấp Lánh vì tiền photocopy quá “nặng” nên số sách biếu rất hạn chế. Ai muốn có sách nên đóng góp tối thiểu 90 000 đồng một cuốn (là giá tiền photocopy rẻ nhất)

Nghĩ cũng thuơng cho tác giả. Nếu ròng rã đêm ngày năm tháng ấy, công sức lao động vô giá ấy ông đem sử dụng để “tuyên dương công trạng” các vị lãnh đạo, các đại gia thì mỗi “nhân vật” có thể tặng ông khoản tiền hàng chục đến hàng trăm triệu và nhuận bút cuốn sách phải đến nhiều trăm triệu đồng. Đằng này nhuận bút của ông chỉ là mấy thùng sách mà người ta đã dã tâm cướp mất của ông! Cũng may mà con cái dâu rể của ông đều khá giả.

Ông tâm sự với chúng tôi, chỉ mong rồi đây bà con nào có uy thế và giỏi tạo thời cơ thì giúp con cháu ông xuất bản công khai để cuốn sách được phục vụ đông đảo độc giả. Như vậy vong linh ông sẽ được an ủi.

Chúng tôi tin rằng đây là một trong những cuốn sách rất quý trong kho tàng sách Việt Nam có thể giúp cho thế hệ đương thời và mai sau hiểu biết và chiêm ngưỡng về những ngôi sao Dân chủ Nhân quyền đã từng lóe sáng trong đêm dày Việt Nam.

Tôi rất tán thành nhận xét của đại tá Phạm Quế Dương, nhiều bài viết ở đây có giá trị như bản tóm tắt luận văn tiến sỹ. Các bài viết về Nguyễn Trường Tộ, Trần Độ, Văn Cao, Trần Dần, Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo … theo chúng tôi (với khối lượng đọc chỉ ở mức vừa phải) đều là những bài viết đầy đủ nhất và hay nhất về các vị này, tính cho đến nay. Các bài viết về Trần Mạnh Hảo, Phan Đình Diệu, Trần Huỳnh Duy Thức, Đỗ thị Minh Hạnh, Lê thi Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên … thì như những bản tráng ca, đầy chất thơ, thấm đẫm tình người.

Địa chỉ liên hệ với tác giả:

Nguyễn Thanh Giang – Số nhà 6 ngõ 235 đường Trung Văn – Quận Nam Từ Liêm – Hanoi. Mobi: 0984 724 165 – Email: giangnguyen1936@gmail.com.

Bài viết này xin được trả lời chung cho những comment mà tôi đã nhận được trên facebook của mình.
——————————————————————-
Hà Nội 17 tháng 9 năm 2014
Nguyễn Thị Kim Chi
Số nhà 4, ngách 43, ngõ 31, đường Xuân Diệu, Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội
Mobi: 0983 541327
Emạil: nguoichanthanh1943.rg@gmail.com