Cụ bà 87 tuổi mặc áo tắm, nắm tay chồng ra biển

Cụ bà tóc bạc phơ, đầu quấn khăn, hàm răng đen bóng, vui vẻ diện áo tắm nắm tay cụ ông xuống biển Nha Trang.

Ngày hôm qua những hình ảnh một cụ ông nắm tay cụ bà đi tắm biển được đăng lên Facebook, và lan truyền mạnh mẽ trên các trang mạng xã hội, nhận được hàng trăm nghìn like và chia sẻ.

Nhân vật chính bất chợt trở nên nổi tiếng này là cụ ông Phạm Xuân Theo (85 tuổi) và cụ bà Vũ Thị Hảo (87 tuổi) đang sống ở thành phố Tuyên Quang.

Chị Kim Huế (đang là giáo viên một trường mẫu giáo ở Định Công, Hà Nội) là con gái thứ 5 trong số 6 người con của hai cụ. Chị đăng ảnh của bố mẹ lên Facebook của mình, nhưng không ngờ lại được nhiều người đón nhận đến vậy.

Chị Huế cho biết được đi Nha Trang – Đà Lạt là mong ước của bố mẹ chị. Dịp nghỉ hè này chị và các anh em trong nhà thực hiện ước mơ cho ông bà. Chị cùng các con cháu và bố mẹ đã có chuyến đi du lịch bắt đầu từ ngày 19/6 tới nay. Ngày mai cả gia đình sẽ kết thúc hành trình về quê Tuyên Quang.

Ban đầu con cháu bảo mặc áo tắm, cụ Hảo hơi ngại nhưng tính cụ vốn “xì teen”, lại được cụ ông động viên nên cụ vui vẻ mặc. Khi ra biển đi tắm, rất nhiều người đã nhìn hai cụ.

Cô giáo mầm non này tâm sự thêm, chị không được may mắn như bố mẹ, được nắm tay nhau đi suốt cuộc đời. Chồng chị bị bệnh hiểm nghèo đã qua đời 6 năm trước. Từ nỗi đau đó chị luôn mong muốn mang lại niềm vui cho bố mẹ, để những ngày cuối đời bố mẹ luôn vui.

Cụ Theo và cụ Hảo đều là người Thái Bình, yêu nhau từ thời đi thanh niên xung phong. Sau đó hai cụ công tác trong Nông trường quốc doanh sông Lô (ở Tuyên Quang).

Hai cụ đã về hưu lâu năm và không sống cùng con cái. Các con cháu đều công tác ở xa, thỉnh thoảng mới về thăm các cụ. Dù nhiều lần các con muốn đón hai cụ về sống cùng hay thuê người chăm sóc nhưng hai cụ chỉ muốn được tự chăm nhau.

“Bố mẹ tôi sống rất hạnh phúc, tình cảm, có tiếng ở vùng rồi. Dịp này đi chơi bất ngờ đăng ảnh các cụ lên mạng, được khen là hai cụ vui lắm”, chị Huế chia sẻ.

Hai cụ đã được con cháu cho đi du lịch gần như khắp cả nước. Sắp tới hai cụ mong muốn được đi tới hai địa điểm chưa được đặt chân đến là Điện Biên và Côn Đảo.

Phan Dương
Ảnh: NVCC

Những tấm bảng quá nặng so với vành tang trắng trên đầu của người vợ anh Khải

FB Luân Lê

NẶNG

Quà tặng cho quả phụ phi công Trần Quang Khải. Nguồn: internet

Tôi tin rằng, không một tấm bảng trao tặng nào lại khiến người ta đau xót và cảm thấy bị xúc phạm đến như này.

Những tấm bảng quá nặng so với vành tang trắng trên đầu của người vợ anh Khải. Nó đã khiến chính người đàn bà ấy phải thốt lên rằng: chẳng có gì cơ hội hơn nữa ngay tại trang cá nhân của mình.

Một mẹ, một con, một vành tang trắng, khóc thương thân xác anh vừa mới về với mây trời, khi mồ đất lạnh còn chưa yên mà người ta đã thi nhau diễn trò trên nỗi đau đớn và mất mát của người khác.

Các bạn có thấy và hãy nhìn sâu vào đôi mắt, đôi tay của người đàn bà khổ hạnh ấy để thấy cô ấy như muốn buông bỏ và trốn khỏi tầm ngắm của những ống kính chuyên nghiệp đang đứng chờ sẵn để sau đó chúng cho xã hội thấy rằng “lòng từ bi của họ” là miễn phí và đáng được tuyên dương.

Tự do còn không miễn phí (Freedom is not free), thì những điều như vậy chỉ khiến người ta cảm thấy bản thân đang mang nợ mà luôn coi đó là một gánh nặng trên đôi vai và trong nỗi đau còn chưa ngớt một giây khắc nào.

Chính người nhận còn thấy bị xúc phạm và đau đớn vì những điều này, và ngay sau đó người ta lại tiếp tục dậy sóng rồi xâu xé đòi xử lý đối với phát biểu của cô giáo Hà về việc không đồng tình đặc cách vợ phi công Khải vào trường Chu Văn An để dạy học sau cái chết của chồng. Vậy họ, những người mang nỗi đau của người khác ra mà “trưng lên” giữa bàn dân thiên hạ thế này có nghĩ đến cảm nhận, danh dự và cả tình cảnh của cô ấy không?

Bố thí, từ thiện hay cho đi lòng tốt, trợ giúp người hoạn nạn lúc khó khăn luôn là một nghĩa cử cao quý, nhưng hãy xem “mục đích” và “cách người ta làm” thì mới hiểu thực sự hành động đó trọn vẹn nghĩa tình và đẹp đẽ đến đâu. Nhưng tuyệt nhiên và chắc chắn rằng, nó sẽ không phải bằng và thông qua cách ồn ào, trưng diện ra để người ta biết.

Bởi đồng tiền giá trị là những đồng tiền không gây ra tiếng động. Và vì thế, hành vi ý nghĩa là hành vi của và trong sự thầm lặng.

Nước mắt gia đình phi công Khải còn chưa nguôi, mà người ta dồn dập làm những việc chỉ khiến cho người nhận lấy thêm đau đớn hơn mà thôi.

Tôi lại tự hỏi mình, bây giờ tình người sao mà nặng đến thế? Và đạo đức quả là một thứ gì đó quá xa xỉ và cũng rất dễ dàng để bị trục lợi.

Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai

soviet_aron_84927222

Nguồn: Leon Aron, “Everything You Think You Know About the Collapse of the Soviet Union Is Wrong“, Foreign Policy, July/August 2011.

Biên dịch: Trần Ngọc Cư

Mọi cuộc cách mạng đều tạo ra kinh ngạc. Tuy vậy, cuộc Cách mạng Nga gần đây nhất phải được kể là một trong những kinh ngạc lớn nhất. Trong những năm trước 1991, gần như không một chuyên gia, học giả, viên chức chính quyền, hay chính trị gia phương Tây nào thấy trước được sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô, và kéo theo nó một chế độ độc tài độc đảng, một nền kinh tế do nhà nước làm chủ, và cả sự kiểm soát của Điện Cẩm Linh (Kremlin) đối với đế quốc Liên Xô và Đông Âu. Với một ngoại lệ duy nhất, tất cả những nhà bất đồng chính kiến Xô-viết cũng như chính những nhà cách mạng tương lai – nếu ta xét qua hồi ký của họ – cũng không tiên đoán được sự kiện này. Khi Mikhail Gorbachev trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản vào tháng Ba năm 1985, không một nhân vật cùng thời nào của ông dự kiến một cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến cách mạng. Mặc dù người ta không đồng ý với nhau về tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề nội tại trong chế độ Xô-viết, nhưng không ai coi những vấn đề này là đang đe dọa sinh mệnh của chế độ, chí ít trong tương lai gần.

Vậy, do đâu mà có sự thiển cận đều khắp lạ lùng đến thế? Việc các chuyên gia phương Tây không tiên liệu được sự sụp đổ của Liên Xô một phần là do sử quan xét lại (historical revisionism) – tạm gọi là khuynh hướng bài chủ nghĩa chống cộng (anti-anti-communism) – một khuynh hướng phóng đại sự ổn định và tính chính danh của chế độ Xô-viết. Tuy nhiên, một số nhân vật khác vốn không được coi là mềm dẻo đối với chế độ cộng sản cũng không kém kinh ngạc trước sự cáo chung của chế độ này. Một trong những người thiết kế chiến lược Mỹ trong thời Chiến tranh Lạnh, ông George Kennan, viết rằng, trong khi nhìn lại toàn bộ “lịch sử các sự vụ quốc tế trong thời hiện đại”, ông nhận thấy rằng “thật khó nghĩ ra một biến cố nào lạ lùng, đáng kinh ngạc, và mới thoạt nhìn không thể giải thích nổi, hơn sự tan biến đột ngột và toàn bộ… của đại cường mệnh danh kế tục nhau là Đế quốc Nga rồi đến Liên Xô”. Richard Pipes, có lẽ là sử gia Mỹ hàng đầu về nước Nga và cũng là một cố vấn của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, cho rằng cuộc cách mạng gần đây của Nga là “bất ngờ”. Một tuyển tập gồm các bài tiểu luận viết về sự cáo chung của Liên Xô trong một số báo đặc biệt năm 1993 của tạp chí bảo thủNational Interest (Lợi ích Quốc gia) có tựa đề là “Cái chết lạ lùng của chủ nghĩa Cộng sản Xô-viết”.

Nếu có thể hiểu được dễ dàng hơn, thì sự thiếu phán đoán mang tính tập thể này có thể đã được an toàn xếp vào một hồ sơ trí tuệ gồm những điều kỳ lạ và phù phiếm của khoa học xã hội rồi bị lãng quên. Tuy nhiên, thậm chí ngày nay, với khoảng cách 20 năm, giả thuyết cho rằng Liên Xô vẫn có thể tiếp tục tồn tại trong tình trạng lúc đó hay bất quá cuối cùng nó sẽ bắt đầu một cuộc suy tàn kéo dài khá lâu, có vẻ là một kết luận không kém phần hợp lý.

Thật vậy, vào năm 1985 Liên Xô gần như vẫn có đủ nguồn lực thiên nhiên và nhân sự của 10 năm về trước. Chắc chắn là, mức sống tại đây còn thấp hơn tại Đông Âu khá xa, nói chi đến phương Tây. Tình trạng thiếu hụt hàng hoá, hạn chế lương thực, những hàng người dài trước các quầy hàng, và nạn nghèo khổ khắc nghiệt diễn ra đều khắp xã hội. Nhưng Liên Xô đã từng trải qua nhiều đại họa to lớn hơn thế và đã có thể đối phó mà không hề mất một mảy may quyền kiểm soát của nhà nước đối với xã hội và nền kinh tế, lại càng không hề từ bỏ quyền lực này.

Không có một thước đo thành tích kinh tế chủ yếu nào trước năm 1985 cho thấy một thảm họa đang lù lù xốc tới. Từ năm 1981 đến năm 1985 mức tăng trưởng GDP của Liên Xô, mặc dù có chậm lại so với thập niên 1960 và thập niên 1970, nhưng cũng đạt được 1,9% một năm. Chính cùng một mô hình dù suy yếu nhưng không đến nỗi thảm khốc này còn kéo dài cho đến hết năm 1989. Nạn thiếu hụt ngân sách, một yếu tố kể từ thời Cách mạng Pháp được coi là tín hiệu quan trọng cho một cuộc khủng hoảng có thể đưa đến cách mạng, chưa lên tới 2% GDP vào năm 1985. Mặc dù có gia tăng nhanh chóng, nạn thâm thủng ngân sách vẫn ở dưới mức 9% GDP cho đến hết năm 1989 – một con số mà hầu hết các nhà kinh tế cho là hoàn toàn có thể xoay trở được (manageable).

Giá dầu lửa rơi cực nhanh, từ 66 đôla một thùng năm 1980 xuống 20 đôla một thùng năm 1986 (trong số 2000 giá cả) chắc chắn là một đòn nặng nề đánh vào tài chính Xô-viết. Tuy vậy, nếu điều chỉnh theo nạn lạm phát, thì vào năm 1985 giá dầu lửa trên thị trường thế giới vẫn cao hơn năm 1972, và chỉ thấp hơn toàn thập niên 1970 một phần ba mà thôi. Nhưng đồng thời, mức thu nhập của người dân Xô-viết gia tăng hơn 2% vào năm 1985, và sau khi điều chỉnh lạm phát, đồng lương của họ còn tiếp tục gia tăng trong 5 năm liền cho đến hết năm 1990 ở mức độ trung bình trên 7% mỗi năm.

Vâng, tình trạng đình đốn kinh tế của Liên Xô là hiển nhiên và đáng lo ngại. Nhưng như Giáo sư Đại học Wesleyan, ông Peter Rutland, đã chỉ rõ, “Dẫu sao, những chứng bệnh kinh niên của Liên Xô không nhất thiết đe dọa sinh mệnh của nước này”. Ngay cả nhà nghiên cứu hàng đầu về các nguyên nhân kinh tế của cuộc cách mạng này, ông Anders Aslund, cũng ghi nhận rằng từ năm 1985 đến năm 1987, tình hình “là không mảy may sôi động”.

Từ quan điểm của chính quyền, tình hình chính trị lúc bấy giờ thậm chí ít đáng lo ngại hơn trước. Sau 20 năm liên tục đàn áp đối lập chính trị, gần như tất cả những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng đã bị cầm tù, lưu đày (như trường hợp Andrei Sakharov từ năm 1980), buộc phải ra sống ở nước ngoài, hay chết trong các trại cải tạo và nhà giam.

Cũng gần như không có bất cứ một dấu hiệu nào khác báo trước một cuộc khủng hoảng tiền cách mạng (pre-revolutionary crisis), kể cả một nguyên nhân truyền thống thường được coi là có thể dẫn đến sự suy sụp của một quốc gia – đó là sức ép từ bên ngoài. Trái lại, thập niên trước đó được các học giả đánh giá đúng đắn là thời kỳ Liên Xô “đã thực hiện được tất cả những tham vọng quân sự và ngoại giao quan trọng”, như nhà sử học và ngoại giao Mỹ, ông Stephen Sestanovich, đã viết. Tất nhiên, lúc bấy giờ Afghanistan ngày càng cỏ vẻ là một cuộc chiến lâu dài, nhưng đối với một quân lực gồm 5 triệu binh sĩ như của Liên Xô, sự thiệt hại tại đó là không đáng kể. Thật vậy, mặc dù gánh nặng tài chính khổng lồ do việc duy trì một đế quốc về sau trở thành một vấn đề chính trong các cuộc tranh luận sau năm 1987, nhưng bản thân những chi phí cho cuộc chiến Afghanistan không làm cho quốc gia kiệt quệ: Được ước tính vào khoảng 4 đến 5 tỉ đôla vào năm 1985, đó là một phần không đáng kể trong tổng sản lượng nội địa (GDP) của Liên Xô.

Hoa Kỳ cũng không phải là một lực tác động cho cuộc cách mạng. “Học thuyết Reagan” bao gồm nỗ lực chống lại và, nếu có thể, đảo ngược những bước tiến của Liên Xô trong Thế giới Thứ ba quả có tạo được sức ép chung quanh đế quốc này, ở những nơi như Afghanistan, Angola, Nicaragua, và Ethiopia. Tuy nhiên, những khó khăn của Liên Xô ở đó cũng chẳng có gì nghiêm trọng để trở thành một nguy cơ cho chế độ.

Trong một màn giáo đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang có tiềm năng gây ra nhiều tốn kém cho đối phương, Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược [hay lá chắn nguyên tử] do Reagan đưa ra thực sự có ý nghĩa  nghiêm trọng – nhưng đề xuất này không hề báo hiệu một sự thất bại quân sự cho Liên Xô, vì Điện Cẩm Linh biết chắc rằng việc triển khai hữu hiệu hệ thống phòng thủ không gian của Mỹ cũng mất vài thập kỷ nữa mới thực hiện được. Tương tự như thế, mặc dù cuộc nổi dậy chống cộng sản bất bạo động của công nhân Ba Lan là một tình hình rất bức xúc cho giới lãnh đạo Xô-viết, làm nổi bật sự mong manh của đế quốc của họ tại châu Âu, nhưng vào năm 1985 Phong trào Đoàn kết (Soliditary) tỏ ra đã kiệt lực. Liên Xô hình như thích nghi được với việc tung ra các “đợt bình định” đẩm máu cứ 12 năm một lần – Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Ba Lan năm 1980 – bất chấp dư luận thế giới.

Nói thế khác, đây là một Liên Xô đang ở trên đỉnh cao quyền lực và thanh thế toàn cầu của mình, theo quan điểm của chính nó lẫn quan điểm của thế giới còn lại. Sau này, sử gia Adam Ulam đã nhận xét “Chúng ta thường quên rằng vào năm 1985, không một chính phủ của một quốc gia quan trọng nào tỏ ra có quyền lực vững chắc và có đường lối chính sách rõ ràng như chính quyền Liên bang Xô-viết”.

Hẳn nhiên, có nhiều lý do thuộc về cơ chế – kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại saoLiên Xô phải sụp đổ như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào. Nghĩa là, làm sao trong một thời gian từ năm 1985 đến năm 1989, trong lúc không gặp phải những tình trạng tồi tệ gay gắt về kinh tế, chính trị, dân số, và các vấn đề cơ chế khác, mà nhà nước và hệ thống kinh tế Xô-viết bỗng dưng bị một quần chúng đủ đông đảo coi là ô nhục, thiếu tính chính danh, và hết chịu nỗi để phải sụp đổ?

Gần như hầu hết mọi cuộc cách mạng hiện đại, cuộc cách mạng Nga gần đây nhất được khởi động bằng một tiến trình tự do hóa khá do dự “từ trên xuống” – và lý do căn bản của nó vượt quá nhu cầu sửa sai nền kinh tế hoặc làm cho môi trường quốc tế tốt đẹp hơn. Cái cốt lỏi trong sáng kiến của Gorbachev là rất lý tưởng, đó là điều không thể chối cãi: Ông muốn xây dựng một Liên Xô có đạo lý hơn.

Vì mặc dù chiêu bài đưa ra là cải thiện kinh tế, nhưng rõ ràng là Gorbachev và những người ủng hộ ông trước hết muốn sửa chữa những sai lầm đạo lý hơn là sai lầm kinh tế. Hầu hết những điều họ tuyên bố công khai trong những ngày đầu của chương trình tái cơ cấu (perestroika), bây giờ nhìn lại, có vẻ chỉ là một cách biểu lộ nỗi khổ tâm của họ về sự suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin. Đó là bước khởi đầu của một sự liều lĩnh đi tìm kiếm những câu trả lời cho các vấn nạn to lớn mà mọi cuộc cách mạng vĩ đại thường bắt đầu: Thế nào là một cuộc sống tốt đẹp, hợp với nhân phẩm? Cái gì tạo ra một trật tự kinh tế và xã hội công chính? Một nhà nước chính danh và đàng hoàng là như thế nào? Quan hệ của một nhà nước ấy với xã hội dân sự phải như thế nào?

“Một không khí đạo lý mới mẻ đang thành hình trên đất nước ta”, Gorbachev đã nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, nơi ông tuyên bố rằng glasnost (chủ trương cởi mở) và tự do hóa sẽ làm nền tảng cho perestroika (chủ trương tái cơ cấu)  xã hội Xô-viết của ông. “Việc thẩm định lại các giá trị và xét lại chúng một cách sáng tạo đang được tiến thành”. Sau này, khi nhắc lại cảm tưởng của ông rằng “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”, ông gọi đó là “lập trường đạo lý” của ông.

Trong một bài phỏng vấn vào năm 1989, “người cha đỡ đầu của glasnost”, ông Aleksandr Yakovlev, nhớ lại rằng, vào lúc trở về Liên Xô sau 10 năm làm Đại sứ tại Canada, ông cảm thấy đã đến lúc người dân phải tuyên bố, “Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.

Theo ý kiến của vị thủ tướng của Gorbachev, ông Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý [nrastennoe] của xã hội vào năm 1985 là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”:

[Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.

Một thành viên khác trong nhóm thân cận sơ khởi và rất ít ỏi của Gorbachev gồm những nhân vật chủ trương tự do, Bộ trưởng Ngoại giao Eduard Shevardnadze, cũng khổ tâm không kém vì tình trạng thiếu luật lệ và tham nhũng đều khắp. Ông nhớ lại đã nói với Gorbachev vào mùa đông 1984-1985: “Mọi thứ đã thối nát. Phải thay đổi thôi”.

Trở lại thập niên 1950, một vị tiền nhiệm của Gorbachev, ông Nikita Khrushchev, đã lần đầu thấy rõ sự mong manh của cái nền tảng của ngôi nhà mà Stalin đã xây lên trên sự khủng bố và dối trá. Nhưng thế hệ thứ năm này của giới lãnh đạo Xô-viết cảm thấy tin tưởng hơn về sức bật của chế độ. Gorbachev và các đồng chí của ông tỏ ra tin tưởng rằng những điều đúng cũng là những điều có thể quản lý được dễ dàng về mặt chính trị (politically manageable). Gorbachev tuyên bố rằng chủ trương dân chủ hóa “không phải là một khẩu hiệu nhưng là tinh túy của perestroika”. Nhiều năm về sau, ông đã trả lời phỏng vấn như sau:

Mô hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa. Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.

Sự thể những cải tổ đã đưa đến cuộc cách mạng năm 1989 phần lớn cũng phát xuất từ một nguyên nhân “lý tưởng” khác: bản thân Gorbachev rất ghét bạo động và, vì thế, ông cương quyết không sử dụng việc áp bức quần chúng (mass coercion) khi tầm mức của các biến chuyển bắt đầu vượt quá ý định ban đầu của ông. Triển khai các lực lượng đàn áp kiểu Xít-ta-lin cho dù để “duy trì chế độ” cũng sẽ là một hành động phản lại niềm tin tưởng son sắt nhất của ông. Một chứng nhân nhớ lại Gorbachev đã nói vào cuối thập niên 1980, “Chúng ta được dạy là chúng ta phải đấm bàn”, rồi ông nắm tay lại, minh họa cú đấm. Viên Tổng bí thư phát biểu tiếp: “Nói chung, việc này có thể thực hiện. Nhưng chúng tôi không thích làm như vậy”.

Vai trò của tư duy và lý tưởng trong việc mang lại cuộc cách mạng Nga xuất hiện rõ nét hơn khi chúng ta nhìn vào những diễn biến bên ngoài Điện Cẩm Linh. Một ký giả Xô-viết hàng đầu và về sau trở thành một tiếng nói nhiệt tình đối với chủ trương glasnost, ông Aleksandr Bovin, đã viết vào năm 1988 rằng những lý tưởng củaperestroika đã “chín muồi” giữa lúc nhân dân ngày càng “bức xúc” trước nạn tham nhũng, ăn cắp của công trắng trợn, trước những láo khoét, và những cản trở chặn đứng việc làm của người lương thiện. Những dự kiến “về một cuộc đổi thay có thực chất đang bàng bạc trong không gian”,  một chứng nhân khác nhớ lại, và những người mang kỳ vọng này đã tạo nên một khối cử tri rõ nét (appreciable constituency) đang đòi hỏi những cải tổ triệt để. Thật vậy, những kỳ vọng đã đón chào Gorbachev khi ông lên cầm cầm quyền là rất mãnh liệt và ngày càng gia tăng đến độ chúng có thể định hình cho chính sách thực sự của ông. Đột nhiên, chính các tư duy đã trở nên một yếu tố có cấu trúc, có thực thể trong cuộc cách mạng đang diễn ra.

Theo cách nói của Yakovlev, cái uy tín của ý thức hệ chính thống, vốn ràng rịt toàn bộ hệ thống chính trị và kinh tế của chế độ Xô-viết “như những niềng thép”, đang rã rệu nhanh chóng. Nhận thức mới đã giúp người dân thay đổi thái độ đối với chế độ và tạo ra “một chuyển biến trong hệ thống các giá trị”. Dần dần, tính chính đáng của các sắp xếp chính trị [cơ chế chính trị] bắt đầu bị chất vấn. Trong một trường hợp điển hình của “định lý Thomas” bất hủ mà [nhà xã hội học] Robert K. Merton xây dựng thành lý thuyết – “Nếu người ta tin rằng một tình thế là có thực, thì tình thế đó sẽ trở thành hiện thực trong hậu quả của nó”– sự suy đồi thực sự của nền kinh tế Xô-viết chỉ mang lại hậu quả nghiêm trọng sau khi và bởi vì có một chuyển biến cơ bản trong cách người dân cảm nhận và đánh giá thành tích của chế độ.

Viết cho một tạp chí Xô-viết năm 1987, một độc giả Nga gọi những gì ông chứng kiến chung quanh ông là một “sự dứt khoát triệt để trong ý thức của người dân”. Chúng ta biết độc giả này nhận xét đúng vì cuộc cách mạng của Nga là cuộc cách mạng vĩ đại đầu tiên mà tiến trình của nó được vẽ thành biểu đồ trong các cuộc thăm dò dư luận quần chúng ngay từ đầu. Vào cuối năm 1989, cuộc thăm dò dư luận tiêu biểu đầu tiên đã cho thấy dân chúng nhiệt liệt ủng hộ các cuộc tuyển cử có tính cạnh tranh và việc hợp pháp hóa các đảng phái ngoài Đảng Cộng sản Xô-viết – sau bốn thế hệ dưới chế độ độc tài độc đảng và trong lúc các đảng phái độc lập vẫn còn bất hợp pháp. Giữa thập niên 1990, hơn nửa số người được thăm dò trong một vùng nước Nga đồng ý rằng “một nền kinh tế lành mạnh” có khả năng phát triển nhanh hơn “nếu chính phủ cho phép tư nhân làm ăn theo ý họ muốn”. Sáu tháng sau, một cuộc thăm dò trên toàn nước Nga cho thấy 56% hậu thuẫn một cuộc chuyển đổi nhanh chóng hay tuần tự sang một nền kinh tế thị trường. Thêm một năm sau thì số người ủng hộ kinh tế thị trường tăng đến tỉ lệ 64%.

Những người đã gieo vào xã hội “chuyển biến ngoạn mục về ý thức” không ai khác hơn là những kẻ đã từng châm ngòi cho các cuộc cách mạng tiêu biểu khác của thời hiện đại: đó là, các nhà văn, nhà báo, và giới nghệ sĩ. Như Alexis de Tocqueville nhận xét, những con người này “giúp tạo ra một ý thức chung về sự bất mãn như vậy, một công luận được kiên định như vậy, rồi hai yếu tố này… lại tạo ra những đòi hỏi hữu hiệu cho các chuyển biến có tính cách mạng”. Đột nhiên, “toàn bộ việc giáo dục” trên cả nước trở thành “công tác của những người cầm bút”.

Tại Nga Xô cũng vậy. Những hàng người dài trước các sạp báo – đôi khi  các đám đông phải xếp hàng quanh một khu phố từ lúc 6 giờ sáng, vì lượng báo ra hàng ngày thường bán sạch chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ – và số người đặt mua ngày càng đông các báo nổi tiếng có chủ trương tự do đã chứng minh sức công phá của những nhà bình luận nổi tiếng thuộc khuynh hướng glasnost, hay xin mượn cụm từ của Samuel Johnson, “những bậc thầy truyền giảng chân lý” (teachers of truth): kinh tế gia Nikolai Shmelyov; các triết gia chính trị như Igor Klyamkin và Alexandr Tsypko; các tiểu luận gia như Vasily Selyunin, Yuri Chernichenko, Igor Vinogradov, and Ales Adamovich; các ký giả Yegor Yakovlev, Len Karpinsky, Fedor Burlatsky, và chí ít trên hai chục nhà văn nữa.

Đối với họ, việc phục sinh đạo lý là thiết yếu. Điều này có nghĩa là không những chỉ rà soát lại các hệ thống chính trị và kinh tế Xô-viết, không những chỉ lật ngược các qui phạm xã hội (social norms), mà còn là một cuộc cách mạng trên bình diện cá nhân: một sự thay đổi trong nhân cách của người dân Nga. Như Mikhail Antonov tuyên bố trong một tiểu luận rất sáng tạo năm 1987, với tiêu đề “Vậy thì việc gì đang đến với chúng ta?” trên tạp chí Oktyabr, phải “cứu” lấy nhân dân – không phải để họ thoát khỏi các mối nguy từ bên ngoài, nhưng “chủ yếu để họ thoát khỏi chính mình, thoát khỏi các tiến trình phi luân đang giết chết những phẩm chất cao quí nhất của con người”. Cứu nhân dân bằng cách nào? Bằng cách làm cho tiến trình dân chủ hóa còn sơ sinh trở thành con đường định mệnh, không thể đảo ngược – không phải bằng “một đợt băng tan” ngắn ngủi của Khrushchev, nhưng bằng một cuộc thay đổi khí hậu. Và việc gì sẽ đảm bảo cho tình hình không thể đảo ngược này? Trên hết, đó là sự xuất hiện của con người tự do, một con người “không bị lây nhiễm trước các sự kiện lặp đi lặp lại của chế độ nô lệ tinh thần”. Tuần báo Ogoniok, một tạp chí quan trọng thuộc chủ trương glasnost, đã viết vào tháng Hai năm 1989 rằng chỉ có “con người không có khả năng làm chỉ điểm cho công an, không có khả năng phản bội và láo khoét, bất luận nhân danh ai hay tổ chức nào, mới có thể cứu chúng ta khỏi sự xuất hiện trở lại của một nhà nước độc tài”.

Lối lý luận vòng vo này – để cứu nhân dân, người ta phải cứu lấy perestroika, nhưng người ta chỉ cứu đượcperestroika nếu có thể  thay đổi đựợc con người “từ bên trong” – gần như không hề làm cho ai khó chịu. Những người phát biểu tư duy về những vấn đề này gần như đã cho rằng việc cứu nước bằng chủ trươngperestroika và việc kéo người dân khỏi bãi sình lầy tinh thần là hai nỗ lực đan kết chặt chẽ, có lẽ không thể tách rời nhau, và họ dừng lại ở đó. Vấn đề quan trọng là phải đưa nhân dân trở về “địa vị công dân” từ vị trí “nông nô” và “nô lệ”. “Đủ lắm rồi!” là một lời tuyên bố của Boris Vasiliev, tác giả của một tiểu thuyết bán rất chạy trong giai đoạn này về Thế chiến II, một cuốn truyện được đóng thành phim và được khán giả yêu chuộng không kém. Ông nói: “Đủ lắm rồi những láo khoét, đủ lắm rồi tinh thần nô lệ, đủ lắm rồi sự hèn nhát. Sau cùng, chúng ta phải nhớ rằng tất cả chúng ta đều là công dân. Những công dân tự hào của một đất nước tự hào!”.

Nhìn kỹ vào những nguyên nhân của Cách mạng Pháp, de Tocqueville có nhận xét nổi tiếng rằng, các chế độ bị cách mạng lật đổ thường thường ít áp bức dân chúng hơn các chế độ trước đó. Tại sao? Vì, theo suy đoán của de Tocquevile, mặc dù người dân “có thể ít khổ sở hơn”, nhưng họ lại “cảm thấy bị xúc phạm nhiều hơn”.

Thông thường, Tocqueville có khuynh hướng bàn về những điều tối quan trọng. Từ Những Người cha lập quốc trong Cách mạng Mỹ (the Founding Fathers), đến nhóm Jacobins của Cách mạng Pháp và nhóm Bôn-sê-vich trong Cách mạng Nga, những nhà cách mạng này đã chiến đấu chủ yếu dưới một bóng cờ: phát huy nhân phẩm. Chính vì nỗ lực tìm kiếm nhân phẩm xuyên qua quyền tự do và quyền công dân mà khuynh hướng lật đổ chính quyền trong tinh thần glasnost vẫn còn tồn tại – và sẽ còn tồn tại. Cũng như trước đây những trang báo của tờ Ogoniok và tờ Moskovskie Novosti nằm hãnh diện bên cạnh hình ảnh Boris Yeltsin trên chiếc xe tăng như là các biểu tượng của cuộc mạng Nga gần đây, ngày nay những trang mạng bằng tiếng Á-rập cũng hiên ngang làm biểu tượng cách mạng bên cạnh những hình ảnh các đám đông nổi dậy tại Quảng trường Tahrir của Cairo, tại Khu Casbah của Tunis [Tunisia], trên các đường phố của Benghazi [Lybia], và các thành phố sôi sục bạo động của Syria. Gác các vấn đề ngôn ngữ và văn hóa chính trị qua một bên, các thông điệp và cảm thức mà những cuộc cách mạng này gợi lên là rất giống nhau.

Mohamed Bouazizi, một thanh niên bán hoa trái, mà cuộc tự thiêu của anh đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy tại Tunisia khởi đầu cho Mùa Xuân Á Rập 2011, đã tự tử “không phải vì anh ta thất nghiệp nhưng vì khi anh đến nói chuyện với [chính quyền địa phương] có trách nhiệm về vấn đề của anh thì bị đánh đập – cái chết này là để tố cáo chính phủ”, một người biểu tình tại Tunis đã nói với một nhà báo Mỹ như thế. Tại Benghazi, cuộc nổi dậy của người Lybia bắt đầu với việc các đám đông hô vang khẩu hiệu, “Nhân dân muốn chấm dứt tham nhũng!” Tại Ai Cập, các đám đông đã “biểu lộ tinh thần tự cường của một dân tộc bị đàn áp quá lâu đã đến lúc không còn biết sợ hãi nữa, không muốn để cho giới lãnh đạo của mình tiếp tục tước đoạt tự do và chà đạp nhân phẩm”, cây viết chuyên đề của tờ New York Times, ông Thomas Friedman, đã tường thuật từ Cairo vào tháng Hai năm nay. [Nếu có mặt ở hiện trường], ông cũng có thể đã tường thuật như thế từ Mát-xkơ-va năm 1991.

“Nhâm phẩm có ưu tiên hơn bánh mì!” là khẩu hiệu của cách mạng Tuy-ni-di. Kinh tế Tuy-ni-di đã gia tăng trong khoảng 2 và 8 phần trăm một năm trong hai thập kỷ liền trước cuộc nổi dậy. Với giá dầu lửa ở mức cao, Libya cũng đang phát triển kinh tế khá mạnh ngay trước khi có cuộc nổi dậy. Cả hai trường hợp này nhắc nhở chúng ta rằng trong thế giới hiện nay, tiến bộ về mặt kinh tế không thể thay thế cho niềm tự hào và tự trọng trong tư cách công dân. Nếu chúng ta không nhớ kỹ điều này, chúng ta sẽ tiếp tục kinh ngạc – trước “các cuộc cách mạng màu” trong thế giới hậu Xô-viết, trước Mùa Xuân Ả Rập, và không chóng thì chầy trước một biến động dân chủ tất yếu tại Trung Quốc – như chúng ta từng kinh ngạc trước cuộc cách mạng tại Nga Xô. “Thượng Đế đã ban cho chúng ta một ý thức mãnh liệt về nhân phẩm khiến chúng ta không thể chấp nhận sự khước từ các quyền tự do và các quyền bất khả xâm phạm, bất chấp cả quyền lợi có thực hay giả tưởng nào mà các chế độ độc tài ‘ổn định’ có thể mang lại”, tổng thống của nước Kyrgyzstan, ông Roza Otunbayeva, đã viết vào tháng Ba năm nay. “Thật là kỳ diệu khi người dân, nam, phụ, lão, ấu, thuộc nhiều tôn giáo và khuynh hướng chính trị khác nhau, qui tụ trong các quảng trường thành phố và tuyên bố ‘chúng tôi đã chịu đựng đủ lắm rồi’ (enough is enough)”.

Hẳn nhiên, động lực đạo lý tuyệt vời, sự tìm kiếm chân và thiện, chỉ là một điều kiện cần nhưng không đủ để tái tạo một đất nước thành công. Nhân dân có thể đủ sức lật đổ chế độ cũ (ancien régime), nhưng không thể cùng một lúc khắc phục được nền văn hóa chính trị độc tài đã ăn sâu trên cả nước. Gốc rễ của các định chế dân chủ do những cuộc cách mạng có động cơ đạo lý có lẽ tỏ ra còn quá nông cạn, không thể giữ vững một nền dân chủ hữu hiệu trong một xã hội thiếu truyền thống quí giá là cơ sở hạ tầng biết tự tổ chức và biết tự trị. Đây là điều có thể gây trở ngại to lớn cho việc thực hiện những hứa hẹn của Mùa Xuân Á-rập – đã thấy ở Nga. Sự phục sinh đạo lý ở Nga đã bị trở ngại do sự phân hóa và ngờ vực mà 70 năm độc tài toàn trị sản sinh ra. Mặc dù Gorbachev và Yeltsin đã tháo dỡ một đế quốc, nhưng cái di sản của não trạng đế quốc trong hằng triệu người Nga đã khiến họ dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa tân độc tài của Putin (neo-authoritarian Putinism), với các chủ đề tuyên truyền to lớn như “sự bao vây của các thế lực thù nghịch” và “Nước Nga đứng dậy từ bước ngã quị”. Hơn thế nữa, bi kịch quốc gia to lớn (và tội lỗi quốc gia) mà chủ nghĩa Xit-ta-lin gây ra chưa bao giờ được tìm hiểu đầy đủ và chưa bao giờ được thống hối, vì vậy đã làm hỏng toàn bộ nỗ lực phục hồi đạo lý, đúng như các người rao giảng glasnost từng mạnh mẽ cảnh báo.

Đó là lý do nước Nga ngày nay một lần nữa đang từng bước tiến tới một thời điểmperestroika khác. Mặc dù những đợt cải tổ thị trường trong thập niên 1990 và giá dầu lửa tăng cao hiện nay đã kết hợp lại để tạo nên sự phồn vinh chưa từng có trong lịch sử cho hằng triệu người Nga, nhưng sự tham nhũng trắng trợn của tầng lớp cai trị ở chóp bu, chế độ kiểm duyệt kiểu mới, và việc công khai khinh thường dư luận đã tạo ra tình trạng bất mãn và yếm thế, một tình trạng đang bắt đầu lên tới (nếu không muốn nói đã thực sự vượt qua) mức độ của đầu thập niên 1980.

Người ta chỉ cần đến Mát-xcơ-va vài ngày để tiếp xúc với giới trí thức hiện nay hay, tốt hơn nữa, liếc qua các trang nhật ký mạng (blogs) trên LiveJournal (Zhivoy Zhurnal), diễn đàn Internet nổi tiếng nhất của Nga, hay qua các website của những nhóm trí thức đối lập và độc lập hàng đầu, là thấy được rằng câu châm ngôn của thập niên 1980 – “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa!” đang trở thành tín điều một lần nữa. Lệnh truyền đạo lý của tinh thần tự do đang tái khẳng định chính nó, và hiện tượng này không chỉ diễn ra hạn hẹp trong các giới trí thức và những nhà hoạt động dân chủ. Tháng Hai năm nay, Viện Phát triển Đương đại (the Institute of Contemporary Development), một viện nghiên cứu chính sách tự do do Tổng thống Dmitry Medvedev làm Chủ tịch, đã xuất bản một tài liệu có vẻ như là một chương trình vận động tranh cử Tổng thống Nga năm 2012:

Trong quá khứ nước Nga cần tự do để sống [tốt đẹp hơn]; hiện nay nước Nga cần tự do để sống còn… Thách thức của thời đại chúng ta là làm sao để rà soát lại hệ thống giá trị, hun đúc một ý thức mới. Chúng ta không thể xây dựng một đất nước hiện đại với tư duy cũ… Đầu tư tốt đẹp nhất [mà nhà nước có thể dành cho con người] là Tự do và Nền Pháp trị (the Rule of Law). Và tôn trọng Phẩm giá của con người.

Chính cuộc tìm kiếm có tính cách trí thức và đạo lý này, một nỗ lực khôi phục niềm tự hào và tự trọng, bắt đầu bằng một cuộc duyệt xét đạo lý không nương nễ đối với quá khứ và hiện tại của đất nước, chỉ vỏn vẹn trong vài năm đã khoét hổng nhà nước Xô-viết đồ sộ, tước sạch tính chính danh của nó, và biến nó thành một chiếc vỏ bị thiêu rụi (burned-out shell) để rồi tan rã vào tháng Tám 1991. Câu chuyện về hành trình đạo lý và trí thức này là một câu chuyện hoàn toàn chiếm vị trí trung tâm về cuộc cách mạng vĩ đại cuối cùng của thế kỷ 20.

Nguồn: Boxitvn.net

Kết quả cuối cùng của cuộc trưng cầu dân ý Brexit:

brx result

Xem thêm: Các bài khác về chủ đề Brexit:

BỘ QP THỪA NHẬN TÌM ĐƯỢC VỊ TRÍ CASA LÀ NHỜ TÀU NEW ZEALAND

Danh sách tổ bay CASA 8983 hy sinh.

Bộ Quốc phòng xác nhận 9 thành viên tổ bay CASA hy sinh

Việc nhanh chóng tìm được vị trí máy bay CASA 212 rơi là nhờ một tàu New Zealand ngang qua phát hiện, gửi thông báo và dừng chờ Việt Nam đến xác nhận.


Trong buổi gặp mặt báo chí chiều 24/6, thượng tướng Võ Văn Tuấn, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, 10 ngày từ khi chiếc máy bay Su 30 MK2 gặp nạn hôm 14/6, Đảng, Nhà nước, Chính phủ cùng nhiều địa phương, ngư dân đã cùng vào cuộc tìm kiếm máy bay và phi hành đoàn.Về nguyên tắc, tìm kiếm cứu nạn phải thực hiện ba việc. Đó là xác định máy bay có rơi hay không, xem phi hành đoàn thế nào và cuối cùng là khẩn trương tiến hành trục vớt.

Vừa qua, hai máy bay của Việt Nam gặp nạn. Chiếc Su 30 số hiệu 8585 của Không quân Việt Nam bị rơi cách đông bắc đảo Mắt (vùng biển Nghệ An) khoảng 40 km, còn máy bay CASA 212 của lữ đoàn không quân 918 rơi ở vị trí khoảng 30 km phía nam đông nam đảo Bạch Long Vỹ, cách đường phân định vịnh Bắc Bộ khoảng 5 km.

“Sau 10 ngày tìm kiếm, phi công Nguyễn Hữu Cường trên Su 30 được cứu, phi công Trần Quang Khải hy sinh. 9 thành viên phi hành đoàn CASA 212 cũng đã hy sinh”, thượng tướng Võ Văn Tuấn nói.

Ông Tuấn thông tin thêm, từ 14 đến 24/6 các lực lượng đã cứu được phi công Cường, vớt được thi thể phi công Khải. Nhiều thi thể phi công trên chiếc CASA 212 cũng được tìm thấy cùng nhiều vật thể quan trọng liên quan.

Bộ Quốc phòng sẽ làm công tác chính sách cho những quân nhân đã hy sinh cùng gia đình họ theo quy định, đồng thời, tiếp tục tìm kiếm hộp đen máy bay. Từ đó, cơ quan chức năng kết hợp các yếu tố khác để tìm nguyên nhân tai nạn.

“Qua lời kể của phi công Cường thì bước đầu xác định Su 30 gặp sự cố trong buồng lái nên phi công nhảy dù thoát hiểm. Còn nguyên nhân tai nạn CASA 212 – máy bay làm nhiệm vụ cứu nạn phi công Su 30, đang được đánh giá. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết khi làm nhiệm vụ có biến động bất thường, máy bay bay ở độ cao thấp. Đó có thể là những yếu tố kết hợp tạo ra tai nạn”, thượng tướng Võ Văn Tuấn cung cấp.

Việc xác định được vị trí CASA 212 kịp thời là nhờ một tàu New Zealand ngang qua vùng biển, phát hiện vật thể nên đã dừng lại thông báo, chờ Việt Nam ra trục vớt.

Đề cập nhiều tai nạn hàng không xảy ra nhiều năm chưa tìm được nguyên nhân như vụ MH370, hay vụ rơi máy bay ở Ai Cập, Phó tổng tham mưu trưởng cho rằng, để có những kết quả tìm kiếm cứu nạn trên là do các nỗ lực tổng hợp, trong đó có sự đóng góp nhiệt tình của ngư dân, phối hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng và địa phương.

Dù điều kiện khó khăn nhưng quân đội đã được trang bị hệ thống dò tín hiệu tối tân SONA, hệ thống tìm hộp đen, robot lặn, kết hợp các phương tiện truyền thống như tàu giác cảm… giúp việc tìm kiếm hiệu quả trong điều kiện ban đêm, sóng to, gió lớn. Những điều kiện tưởng chừng khiến công việc còn phải kéo dài hơn.

Cùng với đó, nước láng giềng Trung Quốc chủ động đề nghị cung cấp thông tin, để phương tiện của Việt Nam tìm kiếm ở phía đông đường phân định vịnh Bắc Bộ.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam cũng gửi thư thông báo Mỹ sẵn sàng chia sẻ, giúp Việt Nam tìm kiếm cứu nạn. Tập đoàn Airbus cung cấp máy bay CASA 212, tập đoàn của Mỹ cung cấp thiết bị tìm kiếm hộp đen cho hàng không dân dụng Việt Nam cũng cử chuyên gia phối hợp phân tích kết quả.

“Trách nhiệm của Việt Nam đã tạo được đồng thuận quốc tế. Khi máy bay MH 370 chở nhiều khách Trung Quốc bị nạn, chúng ta cử lực lượng rất đông ra tìm kiếm. Đồng Chí Lê Kiêm Toàn, lữ đoàn trưởng 918 thực hiện rất nhiều chuyến bay tìm kiếm nên khi nghe tin đồng chí bị nạn, Trung Quốc rất mong muốn hỗ trợ”, thượng tướng Tuấn nói và hy vọng thời gian tới sẽ kết thúc việc tìm kiếm cứu nạn, giải quyết được hậu quả của hai tai nạn.

Diễn biến hai máy bay gặp nạn
– Sáng 14/6, tiêm kích Su-30MK2 số hiệu 8585 gặp nạn ở vùng biển phía đông Nghệ An, gần đảo Mắt khi đang bay huấn luyện. Trên máy bay có thiếu tá Nguyễn Hữu Cường và thượng tá Trần Quang Khải. Một ngày sau, thiếu tá Cường được tàu ngư dân cứu sống.
– Ngày 16/6, tuần thám CASA 212 số hiệu 8983 mất liên lạc trên vùng biển Bạch Long Vỹ khi làm nhiệm vụ tìm kiếm phi công trên chuyến bay Su-30MK2. Trên máy bay có 9 quân nhân.
– Ngày 17/6, thi thể phi công Trần Quang Khải được tìm thấy.
– Ngày 16-17/6: 42 tàu của các lực lượng Việt Nam và hàng trăm tàu cá ngư dân tham gia tìm kiếm máy bay CASA. Bộ Quốc phòng huy động trang thiết bị hiện đại nhất.
– Ngày 20/6: Phát hiện vật thể có kích thước 13×4 m trong vùng tìm kiếm máy bay CASA, độ sâu 60 m.
– Ngày 21/6: Tập đoàn Airbus, Tây Ban Nha đề nghị phối hợp, giúp đỡ giải mã hộp đen máy bay CASA, tìm nguyên nhân tai nạn.
– Ngày 22/6: 15 tàu Trung Quốc phối hợp tìm kiếm cùng Việt Nam ở phía đông đường phân định vịnh Bắc Bộ.
– Ngày 23/6: Tìm thấy mảnh vỡ máy bay Su 30MK2 và động cơ máy bay CASA số hiệu 8983 cùng nhiều thi thể thành viên phi hành đoàn
Hoàng Thùy – Võ Văn Thành

Nước Anh rời EU và tác động, ảnh hưởng

Thủ tướng Anh David Cameron tuyên bố sẽ rời nội các sau khi nước Anh chọn rời khỏi EU.

Nước Anh đã lựa chọn rời khỏi Liên minh châu Âu với kết quả phiếu bầu 52% tán thành ra đi so với 48% ở lại, sau cuộc trưng cầu dân ý hôm 23/6/2016.

Đâu là tác động, ảnh hưởng và các hệ lụy của quyết định này của nước Anh đối với chính đảo quốc này cũng như với phần còn lại của EU và thế giới, đặc biệt là ở khu vực châu Âu.

Đây cũng là chủ đề của Bàn tròn Trực tuyến tuần này của BBC Việt ngữ với Tọa đàm trực tuyến được phát từ lúc 18h30 tới 19h00 giờ Việt Nam ngày thứ Sáu, 24/6, mời quý vị đón theo dõi tại đây.

Các khách mời sẽ là các nhà quan sát, bình luận, doanh nhân tham dự từ Anh, Pháp, Đức, Ba Lan và Việt Nam.

Lấy làm tiếc

Nước Anh đã chọn rời khỏi EU với 52% phiếu bầu thuận với Brexit, so với 48% muốn ở lại.

Thủ tướng Anh, David Cameron, đã tuyên bố sẽ rời chức vụ ở nội các sau khi nước Anh có quyết định rời EU vào buổi sáng ngày 24/6 trước Văn phòng số 10 Downing Street.

Cựu Thị trưởng London, Boris Johnson khen ngợi đóng góp của Thủ tướng Anh, nhưng đề nghị người dân ‘không vội vàng’.

Thủ tướng Đức, Angela Merkel, kêu gọi EU bình tĩnh và cho rằng quyết định của nước Anh là điều ‘đáng tiếc nhất’.

Bà cũng đề nghị họp khẩn lãnh đạo EU vào thứ Tư tuần sau.

Trong khi đó, Tổng thống Pháp nói quyết định của nước Anh là một ‘sự lựa chọn buồn’.

Bộ trưởng thứ nhất phụ trách Scotland, bà Sturgeon, tuyên bố trưng cầu dân ý lần thứ hai của Scotland về độc lập khỏi nước Anh ‘đang đặt trên bàn’.

Bà cũng nói Scotland sẽ tôn trọng ý kiến của cử tri về việc ‘ở lại EU’.

Mời quý vị đón theo dõi Bàn tròn Bình luận của chúng tôi tại đây.

Cựu Thị trưởng London Boris Johnson tuyên bố quyết định là ngày ‘độc lập của nước Anh’ và là một thắng lợi lớn của người dân.

Ban công tầng 18 ngập hoa khiến ai cũng phải lòng ở Hà Nội

Những chậu hoa nở hàng trăm bông khiến ban công nhà chị Giang trở thành không gian đẹp mà ai cũng thích ngắm nhìn.
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi

Chị Nguyễn Hương Giang (Cầu Giấy, Hà Nội) bắt đầu trồng hoa ở ban công chung cư vào năm 2011. Nhìn vườn hoa xinh xắn của chị, mọi người đều cảm nhận được sự tinh tế, chu đáo của người phụ nữ làm nghề kế toán nhưng lại rất lãng mạn.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-1

Diện tích ban công chỉ có 8 m2, đặt được 20 chậu hoa. Ban đầu, chị Giang trồng hoa phong lan nhưng không thành công vì nhà hướng Tây nắng nóng. Bởi vậy, chị chuyển sang trồng dạ yến thảo, phong lữ, triệu chuông…

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-2

Chủ nhà làm cửa kính lớn nên ngồi trong nhà cũng có thể ngắm được toàn bộ khoảng vườn hoa rực rỡ sắc màu.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-3

Chị Giang từng trồng rất nhiều loại như thanh tú, hoa hồng, đồng tiền, hướng dương, mõm sói, dừa cạn… nhưng chị thích và trồng nhiều nhất là dạ yến thảo.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-4

Mỗi loại hoa đều có đặc tính riêng, cần điều kiện thời tiết, ánh sáng và cách chăm sóc riêng. Bởi vậy, chị Giang đều tìm hiểu và thử nghiệm, dần có nhiều kinh nghiệm để lựa chọn loại cây phù hợp với ban công nhà mình.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-5

Mỗi cây trong vườn thường nở vài chục tới hàng trăm bông. Chị Giang thường nhặt bỏ hết lá vàng, đài hoa héo để hoa luôn rực rỡ, tránh cây bị mốc, giữ cho gốc thoáng, đất vẫn đủ độ ẩm.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-6

Từ ngày trồng hoa, chị Giang quan tâm nhiều hơn đến tình hình thời tiết để chuyển cây vào chỗ an toàn, tránh nắng nóng, mưa giông.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-7

Tùy từng loại hoa, chủ vườn có chế độ tưới và dinh dưỡng phù hợp. Dạ yến thảo cần đất tơi xốp, dễ thoát nước, không bị ngập úng.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-8

Hàng ngày, chị Giang dành khoảng 30 phút để tưới, nhặt hoa lá héo, cuối tuần dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc và ngắm hoa. Hoa lobelia được gieo từ hạt bé li ti, thích hợp trồng vào mùa mát mẻ.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-9

Ngoài dạ yến thảo có thể trồng quanh năm, chị trồng thêm dừa cạn, hoa sam, mười giờ, thanh tú vào mùa hè. Khi đông sang, chị trồng phong lữ thảo, tử la lan, tử linh lan, lobelia, thu hải đường…

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-10

Tiền đầu tư cho vườn của chị Giang cũng chỉ tương đương với mua hoa cắm bình hàng ngày. Không chỉ có khoảng hiên đẹp, chị còn có thêm những người bạn mới, cùng đam mê hoa lá, chia sẻ kinh nghiệm, vui buồn khi có được chậu hoa như ý hay lúc cây bị bệnh.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-11

Chị Giang chia sẻ: “Quan trọng nhất là tình yêu với hoa lá, hãy thực sự yêu những loài hoa đang trồng, bạn sẽ có những chậu hoa rực rỡ như ý”.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-1
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-2
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-3
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-4
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-5
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-6
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-7
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-8

Hồng Liên

Ảnh: Hương Giang/VNExpress

Những chậu hoa nở hàng trăm bông khiến ban công nhà chị Giang trở thành không gian đẹp mà ai cũng thích ngắm nhìn.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi

Chị Nguyễn Hương Giang (Cầu Giấy, Hà Nội) bắt đầu trồng hoa ở ban công chung cư vào năm 2011. Nhìn vườn hoa xinh xắn của chị, mọi người đều cảm nhận được sự tinh tế, chu đáo của người phụ nữ làm nghề kế toán nhưng lại rất lãng mạn.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-1

Diện tích ban công chỉ có 8 m2, đặt được 20 chậu hoa. Ban đầu, chị Giang trồng hoa phong lan nhưng không thành công vì nhà hướng Tây nắng nóng. Bởi vậy, chị chuyển sang trồng dạ yến thảo, phong lữ, triệu chuông…

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-2

Chủ nhà làm cửa kính lớn nên ngồi trong nhà cũng có thể ngắm được toàn bộ khoảng vườn hoa rực rỡ sắc màu.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-3

Chị Giang từng trồng rất nhiều loại như thanh tú, hoa hồng, đồng tiền, hướng dương, mõm sói, dừa cạn… nhưng chị thích và trồng nhiều nhất là dạ yến thảo.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-4

Mỗi loại hoa đều có đặc tính riêng, cần điều kiện thời tiết, ánh sáng và cách chăm sóc riêng. Bởi vậy, chị Giang đều tìm hiểu và thử nghiệm, dần có nhiều kinh nghiệm để lựa chọn loại cây phù hợp với ban công nhà mình.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-5

Mỗi cây trong vườn thường nở vài chục tới hàng trăm bông. Chị Giang thường nhặt bỏ hết lá vàng, đài hoa héo để hoa luôn rực rỡ, tránh cây bị mốc, giữ cho gốc thoáng, đất vẫn đủ độ ẩm.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-6

Từ ngày trồng hoa, chị Giang quan tâm nhiều hơn đến tình hình thời tiết để chuyển cây vào chỗ an toàn, tránh nắng nóng, mưa giông.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-7

Tùy từng loại hoa, chủ vườn có chế độ tưới và dinh dưỡng phù hợp. Dạ yến thảo cần đất tơi xốp, dễ thoát nước, không bị ngập úng.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-8

Hàng ngày, chị Giang dành khoảng 30 phút để tưới, nhặt hoa lá héo, cuối tuần dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc và ngắm hoa. Hoa lobelia được gieo từ hạt bé li ti, thích hợp trồng vào mùa mát mẻ.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-9

Ngoài dạ yến thảo có thể trồng quanh năm, chị trồng thêm dừa cạn, hoa sam, mười giờ, thanh tú vào mùa hè. Khi đông sang, chị trồng phong lữ thảo, tử la lan, tử linh lan, lobelia, thu hải đường…

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-10

Tiền đầu tư cho vườn của chị Giang cũng chỉ tương đương với mua hoa cắm bình hàng ngày. Không chỉ có khoảng hiên đẹp, chị còn có thêm những người bạn mới, cùng đam mê hoa lá, chia sẻ kinh nghiệm, vui buồn khi có được chậu hoa như ý hay lúc cây bị bệnh.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-11

Chị Giang chia sẻ: “Quan trọng nhất là tình yêu với hoa lá, hãy thực sự yêu những loài hoa đang trồng, bạn sẽ có những chậu hoa rực rỡ như ý”.

ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-1
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-2
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-3
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-4
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-5
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-6
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-7
ban-cong-tang-18-ngap-hoa-khien-ai-cung-phai-long-o-ha-noi-page-2-8

Hồng Liên

Ảnh: Hương Giang/VNExpress