Chỉ có người nào dám ước mơ mới có thể biến ước mơ trở thành hiện thực

Image resultCó một chàng trai năm 21 tuổi làm ăn thất bại, năm 22 tuổi tranh chức nghị viện thất bại, năm 24 tuổi việc làm ăn thất bại, năm 26 tuổi, người yêu qua đời, năm 27 tuổi, từng cảm thấy tuyệt vọng với cuộc sống. Năm 34 tuổi, cạnh tranh chức nghị viên lại thất bại, năm 36 tuổi, vẫn là cạnh tranh chức nghị viện thất bại, năm 45 tuổi vẫn thất bại, năm 47 tuổi ứng tuyển phó tổng thống không trúng cử, năm 49 tuổi, lại không trúng cử, năm 52 tuổi, trúng cử chức vị tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 16.

Người đàn ông này chính là Abraham  Lincoln, bởi vì ông ta tin tưởng vững chắc rằng chỉ là Thượng Đế đang lùi lại chứ không phải là cự tuyệt lời thỉnh cầu của ông. Cho nên, ông luôn luôn nỗ lực kiên trì hết mình và cuối cùng ông đã thành công.

Có thể cho phép một người thất bại nhiều lần, thậm chí thất bại nhiều lần ở cùng một việc, nhưng không cho phép vì nhiều lần thất bại ở cùng một việc mà từ bỏ việc đó. Vì vậy, chỉ có người kiên trì với ước mơ của mình mới có cơ hội biến nó thành hiện thực.

Nóng: CỰU GĐ SỞ TƯ PHÁP TPHCM BỎ ĐẢNG

FB Võ Văn Tạo

Ông Võ Văn Thôn, cựu GĐ Sở Tư pháp TP HCM. Ảnh: VTC

Trưa 28-8-2016, ông Võ Văn Thôn, cựu giám đốc Sở Tư pháp TPHCM xác nhận, ông vừa quyết định từ bỏ ĐCSVN.

Ông Lê Thân, bạn tù Côn Đảo với ông Thôn cho biết, ông Thôn là một trong những nhân vật bị nổi bật trong phong trào sinh viên trước 1975, bị chế độ Sài Gòn bỏ tù ở Côn Đảo.

Về phía mình, ông Thôn cho biết, ông nghỉ hưu đã 16 năm. Ông có tham gia ký Kiến nghị tập thể 61 đảng viên. Mới đây, ông đăng ký tự ứng cử.

Ngày 24-8, theo chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy Quận 3, chi bộ ông tiến hành kiểm điểm “xử lý” ông, có nội dung tự ứng cử. Ông trần tình rằng ông nghỉ hưu đã lâu và không hề được tổ chức đảng thông báo cái nguyên tắc đảng viên ra ứng cử lại phải được đảng phân công hay đồng ý (tương tự trước đây, ông Trương Đình Tuyển, cựu Bộ trưởng Thương mại và ông Đặng Hùng Võ, cựu Thứ trưởng TNMT cũng tuyên bố tự ứng cử, và Ban Bí thư phải nhắc 2 ông rút). Nếu nói khuyết điểm thì đây chỉ là vấn đề thủ tục, không nên quan trọng hóa, quy chụp nặng nề. Nhưng đại diện Đảng ủy Quận 3 vẫn gò chi bộ ra hình thức xử lý kỷ luật.

Không tâm phục, khẩu phục, ông Thôn bỏ cuộc họp ra về. Các đảng viên trong chi bộ cho biết, kết quả đa số thống nhất kỷ luật ông theo hình thức “khiển trách” (mức nhẹ nhất). Ngày 26-8, ông viết thư gửi chi bộ, thông báo từ bỏ đảng tịch.

Được biết, tình hình ông và gia đình đang bị an ninh gây sức ép rất căng. Bạn bè đến thăm đều bị theo dõi.

____

Người quen cho biết, đây là số điện thoại nhà ông Thôn: 08 3839 2230.

Việt Nam bắt đầu tìm và diệt ‘ruồi’ thuộc phe thất thế

Người Việt

Trịnh Xuân Thanh khi đang là bí thư đảng ủy, chủ tịch Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam. Hình: Ảnh: PVC-MT

HÀ NỘI (NV) – “Đả hổ, diệt ruồi” vốn là cách gọi chuyện chống tham nhũng ở Trung Quốc. Dựa trên cách gọi này, người ta bảo Việt Nam cũng đang diệt “ruồi” nhưng đó là những con “ruồi” thuộc phe thất thế.

Điển hình của một giống… “ruồi”

Công an Việt Nam đã khám xét tư gia của ông Trịnh Xuân Thanh tại Hà Nội vào chiều 26 tháng 8 và bắt giữ ông này vào tối cùng ngày nhưng đến ngày 27 tháng 8, báo chí Việt Nam chỉ có tin từ bí thư tỉnh Hậu Giang, cho biết, ông Thanh – người mà trên danh nghĩa hiện là phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, đang… nghỉ phép!

Một số Facebooker đang là nhà báo có thẻ hành nghề do chính quyến cấp than rằng, bị câu lưu chưa phải là… bị bắt vì công an chưa xác nhận đã… bắt và như thế thì không thể đưa tin là… chưa bị bắt vì… kỳ cục quá! Đành phải chờ “tin chính thức đã bị bắt!”

Ông Thanh, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, sau khi trưởng thành thì sang Đông Âu “làm ăn.” Năm 1995 quay về Việt Nam và năm 1996 được bổ nhiệm làm lãnh đạo một công ty của Ban Chấp Hành Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Đến năm 2000 chuyển qua làm phó giám đốc Chi Nhánh Hà Nội của Tổng Công Ty Sông Hồng, sau đó được đề bạt làm phó tổng giám đốc rồi làm tổng giám đốc của tổng công ty này cho đến năm 2007 thì chuyển qua Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVC).

Trong hai năm 2010 và 2011, ngoài việc được vinh danh là một trong mười “Sao vàng Đất Việt,” PVC còn được tặng huân chương lao động và danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.” Giữa năm 2013, người ta phát giác PVC thua lỗ 3,200 tỷ đồng! Ông Thanh lúc đó là chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của PVC đột nhiên được rút khỏi PVC để về làm trưởng văn phòng đại diện của Bộ Công Thương ở miền Trung. Vài tháng sau, vào đầu năm 2014, thủ tướng Việt Nam chỉ đạo điều tra – xử lý các sai phạm khiến PVC thua lỗ nghiêm trọng, nhiều thuộc cấp của ông Thanh bị tống giam, còn ông Thanh thì từ miền Trung quay về Hà Nội làm… chánh văn phòng Ban Cán Sự Đảng của Bộ Công Thương.

H1Căn biệt thự được cho là của ông Trịnh Xuân Thanh ở quận Tây Hồ, Hà Nội trước khi bị khám xét tối 26 tháng 8. (Hình: Facebook Lê Nguyễn Hương Trà)

Năm 2015, ông Thanh được “luân chuyển” về tỉnh Hậu Giang. “Luân chuyển” là bước khởi đầu của tiến trình chuẩn bị cho việc bổ nhiệm các viên chức đã được lựa chọn trước để đảm nhận những chức vụ cao hơn và quan trọng theo “quy hoạch cán bộ” (cách gọi tiến trình lựa chọn trước về nhân sự lãnh đạo từ trung ương đến địa phương)…

Trung tuần tháng 6, áp lực của dư luận từ việc ông Thanh đi xe riêng nhưng lại mang biển số dành cho công xa đã khiến ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN yêu cầu phải điều tra về những vấn đề có liên quan đến ông Thanh.

Hồi đầu tháng này, Ủy Ban Kiểm Tra của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN, thừa nhận, ông Thanh là người phải chịu trách nhiệm chính về việc PVC thua lỗ và việc ông Thanh được thuyên chuyển, được qui hoạch vào các chức vụ cao hơn là “vi phạm nguyên tắc, quy trình, thủ tục và tiêu chuẩn cán bộ.”

Sau khi ông Thanh bị tước bỏ tư cách đại biểu Quốc Hội Việt Nam, bị miễn nhiệm vai trò phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, bị xác định là đối tượng cần phải xử lý nhằm chứng minh nỗ lực cải tổ bộ máy công quyền của chính quyền Việt Nam, báo chí Việt Nam tiếp tục công bố thêm nhiều tình tiết khác liên quan đến ông Thanh.

Chẳng hạn, trong thời gian ông Thanh làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của PVC, thuộc cấp của ông Thanh đã chi 80 tỷ cho những khoản được chú thích rất ngắn gọn: “Phục vụ sếp,” “Sếp tiếp khách,” “Sinh nhật sếp,” “Sếp họp lớp”… Đáng chú ý là có những khoản chi như “Tổ chức sinh nhật cho bố sếp” khiến công chúng ngỡ ngàng vì ngốn tới 550 triệu đồng!

Báo chí Việt Nam không cho biết bố ông Thanh là ai nhưng các Facebooker tiết lộ, bố ông Thanh là ông Trịnh Xuân Giới – nhân vật từng đảm nhiệm vai trò phó Ban Dân Vận của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN và từng được ca ngợi như điển hình của “liêm khiết, thanh bạch.”

Chẳng phải con mà cháu nội nhân vật điển hình của “liêm khiết,” chỉ mới 24 tuổi cũng đang là… lãnh đạo một doanh nghiệp nhà nước!

Từ ông Thanh, báo chí Việt Nam đang tiếp tục moi ra tiến trình “luân chuyển” để thăng tiến bất thường của cả một nhóm, gồm đồng liêu và thuộc cấp của ông Thanh tại Bộ Công Thương Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, trách nhiệm bổ nhiệm để sắp đặt những cá nhân như ông Thanh vào những vị trí lãnh đạo quốc gia trong tương lai chỉ mới qui đến ông Vũ Huy Hoàng – bộ trưởng Công Thương, thượng cấp của ông Thanh – thì… dừng.

Đập “ruồi” để dọa “hổ” thất thế

Những thông tin dồn dập trên báo chí Việt Nam về sự tương phản giữa tư cách, năng lực ông Trịnh Xuân Thanh và các đồng liêu, thuộc cấp của ông với tiến trình thăng tiến không ngừng nghỉ của họ khiến dân chúng Việt Nam căm phẫn.

Hồi đầu tháng này, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam, chính thức khẳng định, Ban Tổ Chức của Trung Ương Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm ít nhất là về việc “luân chuyển” ông Trịnh Xuân Thanh.

Tuyên bố của bà Ngân được xem như sự ám chỉ vai trò và trách nhiệm của ông Tô Huy Rứa – trưởng Ban Tổ Chức Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN – người mới vừa nghỉ hưu.

Cũng thời điểm vừa kể, ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, hào hứng tuyên bố với công chúng: “Trịnh Xuân Thanh chỉ là một thí dụ!” Theo ông Trọng, trường hợp ông Thanh tuy “chỉ là một ví dụ mà đã liên quan nhiều thứ.” Ông Trọng khẳng định, chính quyền Việt Nam “đang quyết tâm” vì “đã nói nhiều lần.” Chuyện “làm” được mô tả là sẽ “từng bước, chắc chắn, chặt chẽ. thận trọng, hiệu quả” vì “phải giữ được ổn định để phát triển đất nước, bởi sau vụ này còn liên quan người khác.”

Ông Trọng xác nhận hiện “đang có mong muốn là tổng bí thư phải đánh đấm liên hồi, không chỉ đánh nhát một, phải làm đến cùng.” Đồng thời khẳng định: “Cả hệ thống sẽ vào cuộc. Tất cả đều đang vận hành. Có việc nói được, có việc chưa nói được nhưng với khí thế mới, chúng ta tin rằng sẽ làm tốt hơn nữa.”

Dường như để minh họa cho những tuyên bố vừa dẫn, chính quyền Việt Nam tuyên bố thanh tra mỏ Núi Pháo và việc Tổng Công Ty Viễn Thông Di Động (MobiFone) mua 95% cổ phần của Công Ty Nghe Nhìn Toàn Cầu (AVG).

Núi Pháo tọa lạc ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Người ta đã phát giác tại đó có một mỏ đa kim với trữ lượng vonfram, florit, đồng và bismut cực kỳ lớn. Trong vài năm qua đã có rất nhiều đơn thư tố cáo việc giao cho tập đoàn Masan khai thác mỏ Núi Pháo là một hình thức chuyển giao tài nguyên quốc gia cho gia đình ông Nguyễn Tấn Dũng – thủ tướng Việt Nam đã mãn nhiệm – thủ đắc.

Tương tự cũng đã có rất nhiều đơn thư tố cáo việc Mobifone mua 75% cổ phần của AVG, là hình thức mà dư luận cho là rút ruột tài sản quốc gia của bà Nguyễn Thanh Phượng – con gái ông Nguyễn Tấn Dũng.

Chỉ là “hổ” đả “hổ” và “ruồi” diệt “ruồi”

Tham nhũng vốn đã là vấn nạn trầm kha tại Việt Nam và là nguyên nhân chính khiến kinh tế liên tục suy thoái không có điểm dừng, xã hội hỗn loạn, đói khổ tràn lan. Cũng vì vậy, “đả hổ, diệt ruồi” – kiểu như truy cứu trách nhiệm của ông Trịnh Xuân Thanh có thể khiến nhiều người hài lòng.

Tuy nhiên xét về bản chất thì chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” đang manh nha tại Việt Nam không nhắm đến mục tiêu “xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Nó chỉ là một cuộc thanh toán nội bộ.

H1Bằng tốt nghiệp đại học của ông Quang. Tất cả bằng cấp, giấy tờ tùy thân của ông Quang đều ghi ông sinh năm 1950. (Hình: Internet)

H1Đến 2004, ông Quang “sắm” được một giấy xác nhận rằng đến năm 1956, ông mới… ra đời. (Hình: Internet)

Rõ ràng là ông Tô Huy Rứa – cựu Trưởng Ban Tổ chức BCH Trung ương Đảng CSVN, phải chịu trách nhiệm ít nhất là về việc “luân chuyển” ông Trịnh Xuân Thanh. Đó là lý do khiến nhiều người đồng tình với bà Nguyễn Thị Kim Ngân, tân Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Tuy nhiên ít người thấy rằng, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đương nhiệm không thể vô can. Chẳng lẽ ông Nguyễn Phú Trọng, người từng là Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng CSVN khóa trước có thể phủi tay, vô sự trước những bê bối liên quan đến việc “luân chuyển” ông Trịnh Xuân Thanh?

Ngoài ông Trọng, chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” đang manh nha tại Việt Nam còn được đặt dưới sự chỉ đạo điều hành của ông Trần Đại Quang, ủy viên Bộ Chính Trị, tân chủ tịch Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và ông Nguyễn Xuân Phúc, ủy viên Bộ Chính Trị, tân thủ tướng.

Có lẽ nên nhắc lại rằng, đơn thư tố cáo ông Quang và ông Phúc không ít hơn đơn thư tố cáo ông Nguyễn Tấn Dũng. Giống như lúc ông Dũng còn tại nhiệm, những đơn thư tố cáo ông Quang và ông Phúc chưa bao giờ được xác minh, trả lời công chúng, trong khi về nguyên tắc, dân chúng có quyền được biết sự thật.

Ngoài những bằng chứng rõ ràng cho thấy ông Dũng đã dùng nhiều chiêu, trò để củng cố quyền lực, lũng đoạn chính trường Việt Nam, còn có những bằng chứng khác rõ ràng không kém, cho thấy ông Quang chẳng khá hơn.

Ví dụ hàng loạt giấy tờ tùy thân của ông Quang ghi nhận ông ta vốn sinh năm 1950 song tới năm 2004, ông Quang lúc đó là tổng cục phó Tổng Cục An ninh của Bộ Công An Việt Nam “sắm” được một giấy xác nhận rằng đến năm 1956, ông ta mới… ra đời. Nhờ giấy xác nhận sắm được này, ông Quang không phải nghỉ hưu và giờ chễm chệ ngồi ở vị trí chủ tịch nước.

Hoặc trong khi ông Dũng nổi tiếng vì trâng tráo, thản nhiên sắp đặt con mình vào những vị trí nhất định trong hệ thống công quyền để lãnh đạo quốc gia trong tương lai thì “tiếng tăm” của ông Quang cũng chẳng kém hơn. Ông Quang trở thành bộ trưởng Công An Việt Nam năm 2011 và ngay sau đó, ông Trần Quốc Tỏ, em trai của ông Quang trở thành tổng cục phó Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm. Sau khi ông Quang trở thành ủy viên Bộ Chính Trị thì ông Tỏ được “luân chuyển” từ Bộ Công An về làm phó bí thư tỉnh Thái Nguyên. Đầu nằm 2016, ông Quang được Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN đề cử vào vị trí chủ tịch nhà nước thì ông Tỏ trở thành bí thư tỉnh Thái Nguyên.

H1Trang 1 bản kê khai tài sản của ông Vũ Chí Hùng, con rể ông Nguyễn Xuân Phúc. (Hình: Internet)

Tương tự, cựu thủ tướng Việt Nam từng “lẫy lừng” vì có cô con gái giàu “nứt đố, đổ vách” thì tân thủ tướng Việt Nam nổi tiếng không kém bởi tài sản của cậu con rể. Theo bản kê khai tài sản năm 2013, lúc 34 tuổi của ông Vũ Chí Hùng, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cảng Dịch Vụ Dầu Khí Tổng Hợp Phú Mỹ (PTSC Phú Mỹ) thì con rể và con gái ông Phúc sở hữu năm căn nhà, hai mảnh đất, tất cả đều thuộc loại “đắc địa” ở Hà Nội và Sài Gòn, chưa kể 33 tỷ tiền gửi trong ngân hàng, lượng cổ phiếu trị giá 9 tỷ.

Thu nhập chính thức của Thủ tướng Việt Nam chỉ khoảng $750/ tháng nhưng cả ông Dũng lẫn ông Phúc đều gửi con ra ngoại quốc du học. Cả ba người con ông Dũng học ở Mỹ, Thụy Sĩ và Anh, còn con ông Phúc cũng học ở Mỹ!

***

Một số người bảo rằng, dù có đả “hổ,” diệt “ruồi” thì cuối cùng, chính trường Việt Nam cũng vẫn chỉ có “hổ” và “ruồi.” Bản chất chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” đang manh nha tại Việt Nam chỉ là một canh bạc theo kiểu “được ăn cả, ngã về không.” Tưởng chiến dịch này sẽ khởi đầu cho tiến trình “xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là hoang tưởng.

Ông Trọng chẳng từng nhấn mạnh, chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” sẽ được thực hiện “từng bước, chắc chắn, chặt chẽ, thận trọng, hiệu quả” để “giữ được ổn định.” “Giữ được ổn định” là tiếp tục duy trì “sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng CSVN” và chỉ có thế mà thôi. (G.Đ)

“Vì sao người Trung Quốc ngu thế?”

NghiêncuuQuocte

chinapeople

Tác giả: Li Ming (Triết gia Trung Quốc) | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Lời giới thiệu: Nhiều người cho rằng văn minh Trung Hoa có đóng góp quá nhỏ bé (xét về số dân) vào thành tựu của văn minh nhân loại, về khoa học tự nhiên cũng như khoc học xã hội. Tìm ra căn nguyên của tình trạng này là một vấn đề có tầm quan trọng đối với Trung Quốc, từng được một vài học giả phương Tây, hoặc phương Tây gốc Hoa bàn luận, nhưng dường như giới học giả Trung Quốc lại thiếu quan tâm vấn đề này, có lẽ vì họ không muốn nói tới các mặt tiêu cực của thể chế chính trị-văn hóa nước họ. Trong tình hình đó, cuốn “Vì sao người Trung Quốc ngu thế?” của triết gia Li Ming (Lê Minh, xuất bản 2003) thu hút được sự chú ý của dư luận. Dưới đây là bài nói của Li Ming tại ĐH Bắc Kinh về sách trên. Bài gồm 6 phần: 1) Vì sao người Trung Quốc là một dân tộc “vô học”?  2) Vì sao sự ngu dốt của người Trung Quốc là kết quả tất nhiên của sự lựa chọn không ngừng xuất phát từ lợi ích tự thân của kẻ thống trị các đời trước; 3) Vì sao người phương Tây trong xã hội cận đại lại trở nên thông minh? 4) Nghi ngờ về sự “thông minh” của người phương Tây trong thế kỷ 21; 5) Tình trạng ngu dốt và thông minh hiện nay của người Trung Quốc; 6) Sau thế kỷ 21, người Trung Quốc nên trở nên thông minh như thế nào? Dưới đây xin giới thiệu phần đầu.

Trong cuốn “Người Trung Quốc xấu xí”, ông Bá Dương đã xúc phạm mạnh đồng bào Trung Quốc (TQ), và bị họ chửi cho mất mặt, giờ đây tôi lại lấy thuyết “ngu dốt” ra để gây sự lần nữa thì chẳng phải là tự chuốc lấy quả đắng đấy ư? Thực ra không phải tôi thích gây sự, mà là do cổ họng tôi bị hóc xương, không lấy xương ra thì khó chịu. Lại còn một lý do nữa là TQ từ xưa tới nay có quá nhiều văn nhân tự khoe mình thông minh, làm cho những người TQ bình thường lâu nay cũng thường xuyên rơi vào đám sương mù dầy đặc tự cho mình là thông minh, mọi người đều mơ giấc mơ người TQ “thông minh”, dường như người nước ta đúng là đặc biệt có gene thông minh. Tiếc thay, mơ mộng rốt cuộc chỉ là mơ mộng. Trên thực tế, người TQ có đúng là thông minh như thế không? Song le thông minh là gì, ngu dốt là gì?

Tôi cho rằng đó chỉ là kết luận rút ra được từ sự so sánh với các chủng loại người khác. Quan điểm của tôi là: trong sự so sánh đó, chủng loại người nào có thể cung cấp cho nền văn minh của toàn nhân loại những nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nhà nghệ sĩ lớn đẳng cấp thế giới, thì chủng loại người ấy là thông minh. Ngược lại, là chủng loại người ngu dốt.

Nói cách khác, qua so sánh, chủng loại người nào giỏi hơn về khám phá các quy luật mới (về tự nhiên, xã hội, tâm lý loài người), về phát minh công nghệ mới (tư duy, công cụ, máy móc), sáng tạo các tri thức mới (về khoa học, nghệ thuật), thì thuộc về chủng loại người thông minh. Ngược lại chủng loại người nào không giỏi, thậm chí không có thể khám phá quy luật mới, phát minh công nghệ mới, sáng tạo tri thức mới thì là không thông minh.

Dĩ nhiên, thông minh hoặc không thông minh, ngu dốt hoặc không ngu dốt đều mãi mãi ở trong quá trình biến động. Vì thế nên nói không có chủng loại người nào có số phận an bài là thông minh, cũng không có ai số phạn an bài là ngu dốt. Nhưng nếu mọi người tự mình kiên trì mãi mãi không biến đổi thì “ngu dốt” cũng có thể trở thành một loại số phận. Tôi vô cùng lo ngại người TQ trong tình hình trường kỳ giữ một truyền thống lịch sử “bất biến” sẽ thực sự có số phận như vậy.

Người TQ có thực sự thông minh không? Nếu người TQ thực sự thông minh như thế thì trong dòng sông lịch sử dài dằng dặc rốt cuộc họ đã cống hiến cho nền văn minh nhân loại được bao nhiêu nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học lớn, nhà công nghệ lớn, nghệ sĩ lớn cấp thế giới, cung cấp được bao nhiêu khám phá lớn về quy luật, phát minh lớn về công nghệ và nghệ thuật, sáng tạo lớn về tri thức?

Nếu người TQ thực sự thông minh thì tại sao trong hơn 100 năm gần đây, về nhân cách chính trị lại luôn luôn bị người nước khác bắt nạt, về  kinh tế toàn là bị người ta bóc lột, về văn hóa học thuật toàn là bị người ta phân biệt đối xử? Cái “thông minh” tự tâng bốc mình có thể biến thành thông minh thực sự được chăng? Rõ ràng không thông minh mà cứ tự tâng bốc mình thông minh, điều đó nên nói là ngu dốt thực sự.

Socrates ở thời cổ Hy Lạp được nhiều người cho là người thông minh nhất. Nhưng cái ông thích được tâng bốc hơn cả lại không phải là sự thông minh của mình, mà ông bao giờ cũng tự xưng: “Tôi biết sự vô tri của mình”. Cho nên Socrates là thủy tổ của phép biện chứng. Ông hiểu sâu sắc thực chất của sự việc con người sở dĩ “thông minh” không phải là ở bản thân sự thông minh mà là ở chỗ thực sự nhận thức được sự vô tri của mình và biết cách vượt qua sự vô tri đó. Trong lịch sử TQ có bao nhiêu sĩ đại phu và văn nhân dám công khai thừa nhận mình vô tri? Lại có bao nhiêu người đã nghiêm chỉnh khắc phục được sự vô tri của mình? Trên ý nghĩa này thực sự có thể nói chính là giới sĩ đại phu văn nhân trong các đời trước đã liên tục tạo ra sự ngu dốt của người TQ. Sở dĩ hôm nay tôi phải lớn tiếng tuyên bố về sự “ngu dốt” của người TQ ngày xưa và ngày nay, thực ra là tôi vô cùng mong muốn người TQ trong tương lai sẽ trở thành “thông minh”.

Lịch sử mấy nghìn năm của TQ thực ra là lịch sử các sĩ đại phu văn nhân tự khoe “thông minh”. Các sĩ đại phu văn nhân “thông minh” trong các thời đại trước đây đã để lại cho người TQ ngày nay những trước tác có tới hàng tỷ chữ, trong đó nổi tiếng nhất có bộ Nhị thập tứ sử, Tư trị Thông giám, Vĩnh Lạc đại điển, Tứ khố toàn thư v.v… Tiếc thay nếu dùng chiếc cân tri thức lý tính của con người hiện đại mà cân đo lượng văn bản lớn ấy thì phần tri thức của nó nhẹ tới mức làm người TQ cảm thấy đau khổ, chỉ đáng một phần vạn lượng tri thức ngày nay. Có một điểm càng làm cho người ta không thể không ghi nhớ là nếu ai hiện nay vẫn vùi đầu vào núi văn bản ấy thì người đó sẽ được nhân bản thành một vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ. Các vị văn nhân tự khoe “thông minh’ của TQ trong các thời đại trước đây chính là được nhân bản từ núi thư tịch ấy. Chính vì thế mà xã hội và lịch sử TQ cũng được nhân bản lặp đi lặp lại vô cùng giống như thời xưa, thậm chí như nhau. Chỉ trong một trăm năm gần đây mới có chút thay đổi, nhưng phần cốt lõi thì vẫn khá cứng — tức giới văn nhân TQ cho đến nay vẫn chưa nhận thấy sự vô tri của mình và tại sao lại vô tri, khắc phục sự vô tri như thế nào. Điều này đúng là thực sự ngu dốt.

Sự ngu dốt của người TQ trước hết, hoặc về căn bản, vẫn là sự ngu dốt của giới sĩ đại phu văn nhân nước này. Văn nhân các triều đại trước đây đã làm ra rất nhiều thư tịch có hàm lượng tri thức cực nhỏ — Kinh, Sử, Tử, Tập. Văn nhân TQ ngày nay vẫn tiếp tục làm ra rất nhiều văn bản loại ấy, tạo ra một lượng lớn rác rưởi văn tự trong toàn bộ nền văn minh TQ. Trước kia Lỗ Tấn từng đau khổ cảnh báo thanh thiếu niên TQ cần bớt đọc, thậm chí không đọc sách do văn nhân TQ viết. Qua đây có thể thấy ông sớm hiểu rõ tính nghiêm trọng tồn tại trong núi rác văn tự của nền văn minh TQ. Chính là sự nhân bản lặp lại núi rác rưởi văn tự ấy đã lấp kín con đường trí tuệ của bao nhiêu thế hệ người TQ. Thứ đầu tiên được chế tạo với khối lượng lớn là sự ngu dốt của văn nhân TQ, sau đó nó khuếch đại thành sự ngu dốt của người TQ. Đó là số phận sự ngu dốt của người TQ trong hơn hai nghìn năm qua, nhất là trong 500 năm gần đây, và đặc biệt là 200 năm nay.

  1. Vì sao người Trung quốc là một dân tộc “vô học”?

Tác giả đã sống được ngót 60 tuổi, làm học giả trong khoảng 20 năm, cho tới nay mới chợt tỉnh ngộ biết rằng “học” là gì. Sự tỉnh ngộ ấy cũng làm cho tôi bỗng dưng rơi vào một nỗi buồn sâu sắc: người TQ (dân tộc Trung Hoa) có lịch sử văn minh 5 nghìn năm mà chẳng lưu lại bao nhiêu thứ thực sự đáng để hậu thế học tập. Là một học giả hiện đại TQ tôi vô cùng đau khổ phát hiện thấy người TQ chúng ta vốn dĩ căn bản chưa hiểu thế nào mới là “học” đích thực, do đó mà đến nỗi hầu như vô “học”.

Điều đó thực ra không khó kiểm chứng. Chỉ cần mời mọi người đọc lại một lượt toàn bộ các giáo trình tiểu học, trung học, đại học, viện nghiên cứu sinh, xem xem trong số những kiến thức đáng gọi là “học” dạy cho học sinh, rốt cuộc có bao nhiêu cái là do người TQ chúng ta khám phá, phát minh và sáng tạo.

Kết quả ra sao? Có thể nói, ngoại trừ những thứ như ngữ văn TQ, y dược TQ, sân khấu, thư, họa TQ — số lượng các kiến thức thổ sản ấy đã cực ít lại cũng khó có thể gọi là “học” mà chỉ có thể gọi là “thuật” — hầu như 9999 phần vạn các kiến thức còn lại đều là “sản phẩm du nhập qua đường biển” từ phương Tây. Trong các lĩnh vực như thiên văn, địa chất, địa lý, toán học, vật lý, hóa học, sinh vật, tâm lý, triết học, khoa học xã hội (chính trị học, kinh tế học, xã hội học, pháp học, luân lý học, tân văn học….) thì người TQ chúng ta có truyền thống 5000 năm lịch sử lâu đời và chiếm tỷ lệ số dân nhiều nhất thế giới, rốt cuộc sáng tạo được môn học nào, khoa học nào? Chúng ta lại có ưu thế rõ rệt ở lĩnh vực nào vậy? Thậm chí người Nhật cũng có thể cười chế nhạo chúng ta “Đôn Hoàng ở TQ nhưng Đôn Hoàng học thì lại ở Nhật”.

Bình tĩnh tự xét mình, nên thừa nhận là trong nền văn minh TQ 5000 năm, chúng ta có chữ “học” động từ (học hỏi, học ở chỗ hỏi, vậy hỏi ai? Hỏi trời, hỏi các đại nhân, hỏi các thánh nhân) mà không có chữ “học” danh từ (môn học, khoa học, những tri thức có năng lực sinh trưởng kéo dài, có sinh mạng riêng, tự làm thành hệ thống).

Nhìn tổng quát xưa nay, chúng ta có quan trắc thiên văn nhưng không có môn thiên văn học; có khảo sát địa lý (như Từ Hạ Khách du ký…) nhưng không có địa chất học, địa lý học; có trồng trọt thực vật, vận dụng thực vật nhưng không có thực vật học; có dạy thú và sử dụng động vật nhưng không có động vật học (phương pháp dùng trong các môn động vật học, thực vật học hiện nay vẫn dùng phương pháp phân loại hệ thống do người phương Tây phát minh); có tính toán con số cụ thể nhưng không có toán học trừu tượng; có Tứ đại phát minh nhưng không có vật lý học, hóa học; có kiến trúc cầu hầm nhà nhưng không có cơ học kiến trúc (vật liệu, công trình, kết cấu); thậm chí ta có ngôn ngữ, chữ viết, hội họa, âm nhạc, nhưng không có các môn học thành hệ thống như ngôn ngữ học, ngữ pháp học, tư từ học (Thuyết văn giải tự của Hứa Thận là một bộ tự điển, Mã thị văn thông là sản phẩm sau khi học ngữ pháp học của phương Tây, Lục thư pháp tắc chưa hình thành nguyên lý nghiêm chỉnh), mỹ thuật học (hội họa TQ không có thấu thị học, sắc thái học…), âm nhạc học (tuy rằng Chu Tải Dục đời Minh đầu tiên phát hiện thập nhị bình quân luật nhưng không làm nó trở thành hòa thanh học, âm luật học v.v…).

Sau hơn 20 năm làm học giả TQ, tới nay tôi mới bừng tỉnh dậy sau giấc mơ lớn: người TQ chúng ta tự xưng có nền văn minh truyền thống cổ xưa 5000 năm nhưng lại là một nền văn minh vô “học”.

Thưa đồng bào, chẳng lẽ quý vị không cảm nhận được điều đó ư? Tứ đại phát minh của ta cố nhiên vĩ đại đấy nhưng đều chỉ là “thuật” mà thôi, hơn nữa lại là kỹ thuật khá thô sơ do tiền nhân thời xưa phát hiện và phát minh ra trong trải nghiệm cuộc sống trực tiếp tiếp xúc với thiên nhiên, những cái đó chưa được nâng lên thành “học”, cũng tức là chưa biến thành tư duy lý luận trừu tượng, thành học thuyết giải thích quy luật của sự vật. Chẳng hạn thuốc súng trong Tứ đại phát minh , thành phần vật chất (nguyên tố) của nó là gì? Tính chất hóa học thế nào? Nguyên lý gây nổ của nó là gì? Lại nói kim chỉ nam trongTứ đại phát minh vì sao nó mãi mãi chỉ về phương Nam (hoặc Bắc), rốt cuộc từ tính là gì? Tất cả những cái đó đều phải chờ đến sau này khi người phương Tây tiến hành tư duy lý luận trừu tượng mới có được nhận thức. Trên tất cả các mặt, người TQ chúng ta hầu như chỉ dừng bước không tiến tiếp ở “thuật” mà thôi, vì thế nên thành tích trong lĩnh vực “học” cực kỳ nhỏ bé, quả thật có thể nói là vô “học”.

“Học” với ý nghĩa môn học, là gì vậy? Điều quan trọng là ở chỗ có lý luận trừu tượng cao độ, lý luận đó có thể giải thích hiện tượng đã có của sự vật, lại có thể mô tả một cách trừu tượng quy luật phát sinh của hiện tượng, vì thế không những có thể giải thích cụ thể sự vận hành thực tế lúc đó của sự vật mà còn có thể dự đoán trạng thái và sự biến đổi của sự vật trong tương lai, và được kiểm chứng hoặc chứng thực, hoặc chứng ngụy trong thực tiễn sau đó.

Một trong những tiền đề quan trọng nhất để xây dựng lý luận là phải nắm được quy luật tư duy logic cơ bản nhất. Hơn hai nghìn năm qua, nhất là 200 năm gần đây, nền giáo dục người TQ từ nhỏ được tiếp thụ chỉ có sự nhồi nhét Tứ thư Ngũ kinh, xưa nay chưa bao giờ biết logic là cái gì, sĩ đại phu-văn nhân còn như vậy, nói gì tới đông đảo dân chúng mù chữ. Tại TQ còn có một điểm đặc biệt làm đứt đoạn nền văn minh — đó là sự tách rời hầu như tuyệt đối giữa người lao động phổ thông với tầng lớp văn nhân biết đọc biết viết.

Hầu như toàn bộ những người TQ tiếp xúc với thiên nhiên và có kinh nghiệm lao động sản xuất đều không biết đọc biết viết, nhưng giới văn nhân TQ biết đọc biết viết lại hầu như căn bản không tiếp xúc với thiên nhiên. Nói khác đi nghĩa là từ xưa tới nay cái đầu (tư duy) và cái tay (thực tiễn) của người TQ hầu như bị tách rời tuyệt đối. Cộng thêm tư duy của văn nhân TQ lại về căn bản thiếu mất sự huấn luyện của tính quy luật logic có ý thức, qua đó tạo nên sự tách rời tuyệt đối giữa “thuật” với “học”. Do sự đứt rời song trùng ấy mà cho dù chưa xét tới còn có nhiều nhân tố khác vô cùng bất lợi như chế độ xã hội, tập tục… thì cũng đã ngăn trở vô cùng nghiêm trọng con đường phát triển trí tuệ của người TQ rồi. Đó dường như là số phận ngu dốt của người TQ trong mấy nghìn năm qua, nhất là trong 200 năm gần đây.

Sự tách rời giữa đầu óc với tay chân trong văn hóa truyền thống TQ, cũng tức là tách rời  giữa tư duy và thực tiễn, cùng sự xa lạ giữa tư duy với logic của văn nhân TQ, đã tạo ra sự “học” của người TQ: hầu như duy nhất chỉ có cái “học” hỏi mà căn bản không có sự học hiểu, suy luận, giải thích, càng chưa thể nói tới sự học sáng tạo kiến trúc cấu tạo của tư duy logic trừu tượng.

Tứ thư Ngũ kinh và những thứ tràn ngập thành tai họa hơn nữa như Kinh, Sử, Tử, Tập, hầu như toàn bộ đều là sự học hỏi. Văn hóa truyền thống TQ chỉ có sự học-hỏi, cộng thêm sự tách rời giữa đầu (tư duy) với tay (thực tiễn) và tiếp tục tạo ra sự đứt rời giữa “học” đích thực với “thuật” đã nói ở trên, — sự đứt rời song trùng ấy trên thực tế đã tạo nên sự vô “học” của người TQ từ xưa tới nay.

Trải qua quá trình Tây học truyền vào TQ trong 100 năm gần đây, TQ ngày nay cũng chỉ có cái “học” đi theo cái “học” của phương Tây mà về cơ bản chưa có cái “học” của bản thổ. Chính vì thế mà các “học nhân” của TQ ngày nay, trong quá trình học sẽ cảm thấy một cách nặng nề rằng mình đã mắc phải chứng “mất tiếng nói”. Hầu như mọi từ ngữ, khái niệm về “học” đều du nhập từ phương Tây, mà không có liên quan chút nào với truyền thống văn hóa bản xứ của chúng ta. Miệng là của người TQ nhưng nội dung lời nói lại là những điều trải qua sự suy nghĩ nghiền ngẫm của người phương Tây. Giấy viết, sách vở, truyền thông là phương tiện của bản xứ (song máy móc làm giấy, làm sách và thiết bị truyền thông cũng có thể của phương Tây), nhưng mọi đạo lý, quy phạm, quy tắc, quy luật…  được sách báo truyền thông nói tới đều là những thứ người phương Tây phát hiện, phát minh và sáng tạo. Trong tình hình này chúng ta còn có thể nói người TQ không “ngu dốt” ư?  Nếu còn muốn tự khoe mình “thông minh” kiểu AQ thì chúng ta lại “thông minh” ở chỗ nào vậy?

Khi phân tích kỹ nền văn minh 5000 năm của TQ, có một môn tri thức có thể gọi là “học” được — đó là “Trung Y học” [Y học Trung Hoa]. Có lẽ cũng chỉ trong lĩnh vực “Trung Y học”, người TQ có thể để lại cho nhân loại một thứ duy nhất có thể gọi là “lý luận” của mình. Đó là lý luận “Âm dương ngũ hành”. Tiếc thay tuy đây là thứ lý luận duy nhất trên thế giới có thể gọi là lý luận của người TQ, thuộc loại sánh được với lý luận logic của phương Tây, nhưng kể từ khi nó xuất hiện cách đây hơn 2000 năm, trong quãng thời gian dài dằng dặc sau đó, thứ lý luận ấy không hề có chút tiến triển nào. Người TQ không hề nghĩ tới chuyện nên tiếp tục cải thiện, đẩy mạnh lý thuyết này, mà chỉ mù quáng sùng tín nó, làm theo nó. Cuối cùng lý thuyết ấy chẳng những chưa được cải thiện mà ngược lại ngày càng trở nên cũ rích, xơ cứng. Cho tới nay số người TQ tiếp thụ lý luận logic của phương Tây ngày càng tăng lên, họ chỉ có thể coi thường thuyết Âm dương Ngũ hành, phỉ nhổ thuyết đó, thậm chí vu khống nó, coi là thứ lạc hậu, mê tín, thuộc cùng loại với thuật phù thủy.

[…..]

Xin trở lại vấn đề trước đây, đi tìm nguồn gốc tại sao người TQ trong lịch sử lại vô “học”. Hiện nay có thể đã rất rõ ràng, đó là do trong lịch sử dài lâu, người TQ chưa tự mình sáng lập được một cơ sở có thể đặt nền móng cho tất cả mọi thứ “học”, cái cơ sở mà người phương Tây cận-hiện đại dựa vào để xây dựng hầu như tất cả mọi thứ “học” —Logic đối xứng nhị nguyên luận.

Nói rõ hơn, tức là logic hình thức, logic hình học, logic số lý, logic biện chứng … được từng bước hoàn thiện kể từ Aristotle, Euclid… Về bản chất, các logic này đều là logic tính đối xứng và nhị nguyên luận. Triết học phương Tây từ Plato trở đi, từ bản thể luận tới nhận thức luận, thứ được các triết gia phương Tây ra sức hoàn thiện là bản thân phương pháp tư duy logic đối xứng nhị nguyên luận. Chính là sự không ngừng hoàn thiện, phát triển của phương pháp logic phương Tây (từ triết học cổ đại) và sự kết hợp hữu cơ với phương pháp thực nghiệm có lựa chọn trong thời cận đại, đã sinh ra và xúc tiến các khoa “học” trên mọi lĩnh vực, mọi tầng nấc của phương Tây thời cận-hiện đại.

Hegel nói người TQ “không có triết học”. Chẳng may người TQ bị ông nói trúng. Đúng là người TQ không có triết học, mà điều đó lại ở chỗ người TQ không có logic — dĩ nhiên là nói logic đối xứng nhị nguyên luận. Các văn nhân nhiều đời trước của chúng ta chưa từng bỏ công sức vào việc thăm dò quy luật của bản thân tư duy. Họ chỉ có duy nhất một phương pháp tư duy là độc đoán trực giác và trực giác độc đoán. Tư duy độc đoán trực giác ấy ngoài việc sản sinh những ý kiến đủ mọi màu sắc ra thì chẳng thể có được sự suy lý khuếch trương, kéo dài, càng không thể có sự kiến cấu sáng tạo trừu tượng. Cho nên những tư liệu do các văn nhân TQ viết, ngoài việc có ý nghĩa chất đống to bằng hạt cát ra thì căn bản không thể có giá trị lý luận kiến cấu hữu cơ. Điều đó làm cho văn nhân chúng ta bao đời qua chưa bao giờ hiểu được lý luận là gì. Về cơ bản, văn nhân TQ là một lũ người lùn văn hóa chẳng biết lý luận là cái gì, chỉ biết phát biểu ý kiến (ý khí chi kiến) mà thôi. Dựa vào những người ấy thì mãi mãi chẳng có thể xây đắp nên tòa lâu đài khoa học cận-hiện đại. Cho dù trên mặt sáng lập kỹ thuật và nghệ thuật thì phần lớn cũng chỉ có thể là những thứ bình thường, nông cạn, vô vị, thậm chí thấp hèn. Chính vì thế mà đã hình thành một lịch sử hầu như vô “học” hơn hai nghìn năm qua của TQ, qua đó tạo ra sự ngu dốt trên thực chất của văn nhân TQ rồi mở rộng ra thành sự ngu dốt của người TQ (nhất là trong 200 năm gần đây).

Trong tất cả các nguyên nhân làm cho người TQ thời cận đại bị đày đọa, nguyên nhân căn bản nhất là sự ngu dốt của họ — tình trạng này dần dần tích tụ mà thành trong lịch sử dài lâu. Do logic mà lạc hậu, nghèo khó. Do logic mà bị kẻ khác bắt nạt, bị đánh, bị kỳ thị. Chỉ có từ đó nhận thức được sự ngu dốt của mình và thoát ra khỏi sự ngu dốt ấy thì người TQ mới có thể thay đổi tất cả trong thế kỷ và thời đại mới.

Trên đây đã phân tích nguyên nhân tình trạng người TQ vô “học” , quy lại chủ yếu là hai điểm sau:

1- Trong lịch sử lâu dài, những người TQ biết chữ thì không làm công việc sản xuất; ngược lại, những người làm sản xuất thì không biết chữ — điều này đã tạo nên sự hoàn toàn tách rời giữa tư duy với thực tiễn. Nói gọn lại, tức sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay” của người TQ.

2- Trong lịch sử dài hơn 2000 năm, sự hoàn toàn tách rời giữa “bộ não” và “cánh tay”, giữa “học” và “thuật” của người TQ — sự tách rời song trùng này làm nên nguyên nhân lịch sử giải thích vì sao người chúng ta ngu dốt như thế. Vấn đề này phải được phân tích tiếp. Vì sao người TQ lại có căn nguyên lịch sử như thế? Đây chính là vấn đề cần được giải đáp trong phần sau.

Nguyễn Hải Hoành dịch. Bản gốc tiếng Trung: 中国人为什么这么愚蠢?- 黎 鸣

 

Đảng viên cộng sản vẫn có thể nhập tịch Mỹ

Bùi Văn Phú

H1Mới đây, sự kiện ông Trương Đình Anh, nguyên tổng giám đốc công ti viễn liên FPT của Việt Nam đưa cả gia đình sang Mỹ định cư đã gây chú ý trong dư luận.

Trước sự việc này, dù trong thực tế không rõ ông Anh có là đảng viên cộng sản hay không, cũng đã có những thắc mắc được nêu lên là một đảng viên cộng sản có được nhập cư vào Mỹ hay không.

Tháng trước tôi có bài viết về những mẫu đơn xin nhập cư I-485 và nhập tịch Hoa Kỳ N-400, với các câu hỏi là người nộp đơn có liên quan hay không đến đảng cộng sản, các tổ chức khủng bố và tổ chức Nazi trong quá khứ cũng như hiện tại.

Hồ sơ xin thẻ xanh, mẫu I-485, có câu hỏi số 6: “Have you EVER been a member of, or in any way affiliated with, the Communist Party or any other totalitarian party?” [Ông/Bà đã có bao giờ là thành viên, hay qua bất cứ hình thức nào có liên hệ với Đảng Cộng sản hay một đảng độc tài toàn trị nào khác?]

Trong đơn xin nhập tịch Hoa Kỳ, mẫu N-400, có câu hỏi 10: “Have you EVER been a member of, or in any way associated (either directly or indirectly) with: A. The Communist Party? B. Any other totalitarian party? C. A terrorist organization?” [Ông/Bà đã có bao giờ là thành viên, hay qua bất cứ hình thức nào có liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp) với: A. Đảng Cộng sản? B. Với bất cứ đảng độc tài toàn trị nào khác? C. Một tổ chức khủng bố?]

Đã có nhiều thông tin được đưa ra, cùng một số bài viết phân tích về chính sách nhập cư của Mỹ và những liên hệ với đảng cộng sản, tổ chức khủng bố, tổ chức Nazi của người nộp đơn.

Trên trang mạng luatkhoa.org có bài viết của luật sư Vi Katerina Trần vào năm ngoái giải thích rõ ràng nhất về vấn đề nhập tịch Hoa Kỳ của những ai đã từng là đảng viên cộng sản.

“Theo Bộ An Ninh Nội Địa và Cơ Quan Di Trú và Nhập Tịch Mỹ (U.S. Citizenship and Immigration Services – Department of Homeland Security) thì một người nếu là đảng viên đảng cộng sản hay có liên hệ với đảng cộng sản trong vòng 10 năm trước ngày nộp đơn và cho đến ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch thì sẽ không được nhập quốc tịch Mỹ.”

Tuy nhiên dù có là đảng viên, nhưng không nhất thiết sẽ bị sở di trú bác đơn xin nhập tịch nếu người đứng đơn có thể chứng minh tình trạng đảng viên rơi vào những trường hợp sau, theo tài liệu của luật sư Vi Katerina:

“Nếu người xin nhập quốc tịch chứng minh được, bao gồm những điều sau đây nhưng không phải nhất thiết là tất cả:

(1) việc họ tham gia đảng cộng sản hay mối liên hệ với nó là việc không tự nguyện,

(2) khi tham gia họ không có sự nhận thức về mục đích của tổ chức của đảng cộng sản và khi có nhận thức về điều đó họ đã chấm dứt quan hệ với tổ chức,

(3) họ đã chấm dứt quan hệ với đảng cộng sản trước năm 16 tuổi,

(4) họ tham gia đảng cộng sản vì đó là sự bắt buộc phải chấp hành theo quy trình pháp luật,

(5) họ tham gia đảng cộng sản vì những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như để có được việc làm, được phân phối thực phẩm và những nhu yếu phẩm khác,

(6) họ đã không còn là đảng viên đảng cộng sản trên 10 năm.”

Dựa vào những điều kiện nêu trên, những ai có quá trình sinh hoạt với đảng cộng sản vẫn có thể giải trình với chánh án di trú trong trường hợp đơn xin nhập tịch bị từ chối.

Ngày nay có nhiều người từ Việt Nam được cấp thẻ xanh cho vào Hoa Kỳ, không theo diện nhập cư thông thường nhất là đoàn tụ gia đình, mà qua diện đầu tư, kết hôn hay nghề nghiệp.

Khi đã có qui chế thường trú nhân với thẻ xanh và đã sống ở Mỹ đủ thời hạn theo luật định, một thường trú nhân đều có thể xin nhập tịch Hoa Kỳ.

Sau khi tuyên thệ nhập tịch, một công dân Mỹ sẽ được hưởng tất cả các quyền theo hiến định, trừ quyền ứng cử tổng thống hay phó tổng thống vì phải là công dân từ lúc sinh ra.

Trong lúc này vấn đề nhập cư cũng đang được hai ứng viên tổng thống Mỹ nhắc đến nhiều trong cuộc vận động tranh cử.

Ngày nay nói đến các tổ chức khủng bố là nói đến Al-Queda, ISIS, Taliban. Ứng viên Donald Trump đã phát biểu rằng trong thủ tục nhận một vạn người tị nạn Syria vào định cư tại Hoa Kỳ trong năm nay, các cơ quan chức năng đã không cứu xét kỹ xem những người xin vào Mỹ có liên hệ với tổ chức khủng bố nào không. Ông Trump đưa ra lí do đó để biện minh cho chủ trương là nếu được bầu chọn làm tổng thống ông sẽ xiết chặt chính sách định cư đối với dân đến từ những quốc gia Hồi giáo.

Donald Trump chủ trương giới hạn người nhập cư vào Mỹ, đặc biệt là từ các quốc gia Hồi giáo vì muốn ngăn ngừa khủng bố xâm nhập vào Mỹ. Ứng viên Hillary Clinton coi đó là kỳ thị.

Vì thế vấn đề nhập cư vào Mỹ đang được các giới chức an ninh và di trú xem xét cẩn thận.

Tuy nhiên một thường trú nhân nếu vào được Hoa Kỳ qua những lời khai gian, sau này cơ quan an ninh và di trú tìm ra thì luật pháp cũng cho phép các cơ quan chức năng quyền truy tố cũng như trục xuất cư dân đó.

Mới đây nhất có trường hợp của di dân gốc Trung Quốc Lu Lin, 59 tuổi, đang chờ một tòa án ở ngoại ô thành phố Chicago đưa ra phán quyết vào đầu tháng 11 tới đây về tội khan gian lý lịch. Theo báo Chicago Tribune ngày 3/8/2016, Lin đã nhận tội khai gian trong đơn xin nhập tịch rằng ông chưa bao giờ là đảng viên cộng sản.

Theo hồ sơ thụ lý vụ án của tòa, Lu Lin đã là đảng viên cộng sản Trung Quốc từ năm 1987 đến năm 1997 dưới một tên khác là Yeung Yung.

Tội khai gian trong hồ sơ để có quốc tịch Mỹ có thể bị 5 năm tù và phạt tiền lên đến 250,000 đôla.

Việc đến Mỹ định cư của cựu chủ tịch FPT Trương Đình Anh gây chú ý vì ông là một thương gia thành công trong lãnh vực viễn thông của Việt Nam. Hơn nữa ông còn có liên hệ gia đình với ông Trương Gia Bình, con rể của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước đây ông Bình đã đến Mỹ nhiều lần để nghiên cứu về Thung lũng Điện tử với giấc mộng xây dựng một khu công nghệ thông tin cho Việt Nam nhưng giấc mộng của ông chưa thành.

Riêng ông Anh quyết định đưa cả gia đình đến Mỹ là vì tương lai của bốn con trai chưa quá 21 tuổi.

Sự kiện này không chỉ gây chú ý về vấn đề nhập cư vào Hoa Kỳ của một gia đình có danh tiếng ở Việt Nam, mà một lần nữa đặt ra vấn đề “chảy máu chất xám” và cả “chất xanh” – tức đồng đôla được chuyển ra nước ngoài từ các nước cộng sản như Trung Quốc và Việt Nam – vì nhiều người ra đi trong thời buổi này là những người giầu vào hàng triệu phú.

Muốn được nhập cư vào Mỹ qua diện đầu tư, một doanh nhân ít nhất cũng phải có 500 nghìn đôla đến một triệu đôla đầu tư vào những dự án được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận.

© 2016 Buivanphu.wordpress.com

H1Đơn xin thẻ xanh I-485

H2Đơn xin nhập tịch Hoa Kỳ N-400

Khởi công dự án nghìn tỷ tại Ninh Thuận

Sáng nay (27/8), tại tỉnh Ninh Thuận, trước khi dự Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tới dự, phát lệnh khởi công dự án nhà máy điện gió Trung Nam và khu đô thị biển Bình Sơn-Ninh Chữ.

Đây là các dự án có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về năng lượng tái tạo và du lịch để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Dự án Nhà máy Điện gió Trung Nam tại Ninh Thuận là dự án điện gió đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận, có vốn đầu tư lên đến hơn 3.965 tỷ đồng do Công ty CP Đầu tư Xây dựng Trung Nam (Trungnam Group) làm chủ đầu tư.

Với tổng công suất 90 MW, dự án được khởi công hôm nay (27/8), trên địa bàn 2 xã Bắc Phong và Lợi Hải, huyện Thuận Bắc với 45 turbine gió công suất 2 MW/chiếc đặt trên tháp đỡ turbine cao 95 m. Đây sẽ là dấu mốc mới hướng đến nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo đang trở thành xu hướng của thế giới và được Chính phủ khuyến khích đầu tư, phát triển.

Giai đoạn 1 của dự án dự kiến hoàn thành vào quý IV/2017 và sau khi đưa vào vận hành, nhà máy điện gió Trung Nam có nhiệm vụ chính là phát điện cung cấp cho hệ thống điện quốc gia.

Theo chủ đầu tư, với 14 vùng gió trải rộng gần 8.000 ha, Ninh Thuận là một trong những tỉnh đầy tiềm năng trong phát triển điện gió. Vào những tháng gió mùa, Ninh Thuận đạt tỉ lệ gió Nam và Đông Nam lên đến 98% với vận tốc trung bình gần 6-7 m/s ở độ cao 65 m, tạo điều kiện hoạt động thuận lợi cho các cột điện gió công suất từ 2-3,5 MW.

Trước đó, Thủ tướng đã phát lệnh khởi công Dự án khu đô thị biển Bình Sơn-Ninh Chữ có tổng vốn 850 tỷ đồng, do công ty cổ phần Hacom Holdings làm chủ đầu tư.

Khi hoàn thành dự kiến vào quý III/2020, dự án sẽ có khoảng 10 khách sạn cao cấp 4 sao, 5 sao (dọc đường Yên Ninh) và khoảng 200 khách sạn 2 đến 3 sao, các khu biệt thự, nhà liền kề, thương mại được đầu tư đồng bộ, khoảng 1.000 căn hộ cao cấp phục vụ các chuyên gia đến làm việc tại Ninh Thuận; tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thứ cấp vào đầu tư khách sạn, dịch vụ, trung tâm thương mại…; tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động trong và ngoài tỉnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển tiềm năng du lịch của tỉnh đến năm 2020.

Chinhphu.vn