Đồng dao Hà Nội

Hoa sen Hồ Tây Hanoi

Khuyết Danh

“Hay nói ầm ĩ là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu là con chó vện”

(Trần Đăng Khoa)

Nhanh hơn cả điện là chặt cây xanh
Giải thích loanh quanh: Ủy ban Thành Phố
Họp báo nhí nhố là lão Quốc Hùng
Ăn nói như khùng là anh Tuyên giáo

Phát biểu như ngáo là Phan Đăng Long
Trồng một đêm xong, là cây Hà Nội
Đào nhanh, chặt vội: Công ty Cây Xanh
Chi tiền rất nhanh là nhà tài trợ

Tàn sát man rợ: chủ trương cấp trên
Kiểm điểm liên miên là thằng cấp dưới
Tiền bỏ đầy túi là các quan to
Chịu trận ốm o, mấy anh tẹp nhẹp

Nói đơn, làm kép: Phế Thải Bắc Ninh
Mỡ thay vàng tâm: Công an Hà Nội
Rút dây chạy vội: Sĩ Nghị xứ Thanh
Vội vàng chối quanh: Ủy ban Hà Nội.

Chi tiền, hứng tội: Doanh nghiệp có tên
Nguồn gốc đảo điên: Chủ trương Thành ủy
Chết dân, ngàn tỷ: Dự án Hà Thành
Vàng mắt, da xanh: Dân đen cả nước

Hứa rồi bội ước: Thủ tướng đương kim
Nhắm mắt lim dim: Mấy ông nghị gật
Như con lật đật là việc người dân
Mặt méo mày nhăn là người lao động

Mồm to, miệng rộng: Đám Dư luận viên
Thay đổi liên miên: Luật và quần lót
Làm xấu nói tốt: Báo cáo hàng năm
Nói như thằng hâm là anh Hùng hói

Như người khác cõi, là lão Tấn Sang
Nổ như bắp rang là sư Thanh Quyết
Ăn chơi mải miết là sư Thanh Cường
Hề chèo một phường, nghị Đương vai chính

Sợ Tàu nóng tính, là Phùng Quang Thanh
Coi giặc là anh, ấy là lão Lú
Chén anh chén chú, là đám quan tham
Bị điên quanh năm là ban tư tưởng

Ăn nằm vất vưởng là đám dân oan
Suốt ngày khóc than là dân mất đất
Ngai vàng ngây ngất, anh Tổng về hưu
Vẽ vượn, bày hươu “Hội đồng lú lẫn”

Dân tình uất hận là việc thường ngày
Tính giá, bầy hầy là anh điện lực
Tăng giá bất chợt là chú xăng dầu
Nợ công ngập đầu là dân xứ Việt

Dân nghèo mạt kiếp, nhờ đảng tiên phong
Suốt ngày long nhong, làm thuê các nước
Chỉ một mơ ước, đủ ăn hàng ngày
Cho hết kiếp này, cuộc đời ông chủ.

Lý Quang Diệu và chính sách ngăn ngừa Cộng Sản tại Singapore

Trần Trung Đạo

 Cựu Thủ tướng Cộng Hòa Singapore Lý Quang Diệu được đưa vào bệnh viện hôm 5 tháng 2 vì bịnh viêm phổi trầm trọng. Chỉ vài hôm sau, ông được chuyển qua hệ thống duy trì sự sống (life support). Theo nhiều nguồn tin, hai năm trước đây ông đã thêm vào di chúc một đoạn trong đó ông không muốn kéo dài sự sống vô nghĩa bằng cách này. Theo thông báo của chính phủ Singapore “ông qua đời trong thanh thản” tại Tổng Y Viện Singapore lúc 03:18 sáng, giờ địa phương thứ Hai 23/3/2015, thọ 91 tuổi. Lý Quang Diệu là Thủ tướng đầu tiên của Singapore và mất vào năm kỷ niệm 50 năm độc lập của quốc gia này.

Các thành tựu kinh tế

Về đối ngoại, hầu hết các chính trị gia thế giới từ Margaret Thatcher của Anh trước đây đến Barack Obama của Mỹ hiện nay đã từng ca ngợi Thủ tướng Lý Quang Diệu. Ông có một tầm nhìn rất xa không chỉ vào tương lai Singapore mà cả chính trị khu vực Á Châu và Thái Bình Dương. Từ đầu năm 1994, Lý Quang Diệu đã thấy trước sự căng thẳng trong vùng biển Đông.

Về đối nội, mặc dù nhiều chính sách cứng rắn của Lý Quang Diệu tạo nên nhiều tranh luận và phê bình, ông có một niềm tin vững chắc vào khả năng lãnh đạo của chính mình và tiềm năng của nhân dân Singapore để cùng đưa quốc gia rất nhỏ bé và bị bao quanh bởi các quốc gia thù địch thành một trong những nước giàu có nhất thế giới. Ngày nay, Singapore, quốc gia có dân số 5.5 triệu, là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất thế giới, một trong năm cảng thương mại bận rộn nhất thế giới và có lợi tức đầu người cao thứ ba trên thế giới.

Một danh sách dài của những bảng danh dự mà các thống kê, các tổ chức kinh tế, tài chánh, thương mại quốc tế dành cho Singapore trong nhiều lãnh vực. Chẳng hạn, World Bank xếp Singapore vào hạng nhất trên thế giới về dễ dàng làm thương mại (The ease of doing business) và giữ vị thứ này suốt 7 năm liền; Singapore được xếp hạng ba trên thế giới về quốc gia cạnh tranh nhất (Most competitive country in the world); Singapore đứng hạng nhất về bảo vệ tài sản trí tuệ (The best protection of intellectual property); WHO (World Health Organization) năm 2010 xếp Singapore hạng nhì về tỉ lệ tử vong thấp trong thiếu nhi; Tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International: Corruption Perceptions Index) năm 2010 xếp Singapore vào hạng quốc gia trong sạch nhất. Và rất nhiều bảng danh dự quốc tế khác.

Thành tựu lớn nhất của Lý Quang Diệu chưa hẳn là thành tựu kinh tế

Reihan Salam, Chủ bút điều hành của National Review Institute và tác giả nhiều tác phẩm chính trị, trong phân tích và cũng là kết luận Thành Tựu Lớn Nhất Của Lý Quang Diệu Chưa Hẳn Là Thành Tựu Kinh Tế của Singapore (Lee Kuan Yew’s Greatest Accomplishment May Not Have Been Singapore’s Economic Success) đăng trên National Review sáng 23/3/2015 vừa qua.

Theo Reihan Salam, trong những năm trước 1959, xã hội Singapore chịu đựng tình trạng xung đột chủng tộc giữa các sắc dân Ấn, Mã Lai và Trung Hoa không chỉ về kinh tế mà trong cả văn hóa, tôn giáo. Ngoài ra, sự phân liệt trầm trọng diễn ra trong sinh hoạt chính trị với đa số thành phần CS và thân Cộng là người gốc Hoa trong khi đa số thành phần chống Cộng là gốc Mã Lai. Thế nhưng, ngày nay có thể nói không một quốc gia nào mà nơi đó người dân thuộc thành phần thiểu số cảm thấy an toàn hơn tại Singapore và gần một nửa số người đang sống yên ổn tại Singapore vốn sinh ra tại nước ngoài. Sự an toàn, ổn định và hòa hợp đó sẽ không xảy ra nếu quốc gia này nằm trong tay CS. Thành tựu lớn nhất của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, do đó, phải là thành tựu ngăn chận được sự phát triển của phong trào CS tại Singapore.

Lịch sử phong trào CS tại Mã Lai và Singapore

Năm 1927, năm cán bộ CS Trung cộng được phái tới Mã Lai để thành lập đảng CS Nanyang (Mã Lai, Singapore) với tầm hoạt động bao gồm cả Thái Lan, Đông Dương và các thuộc địa Đông Ấn thuộc Hòa Lan. Năm 1930, Đệ Tam Quốc Tế CS (1919-1943) tổ chức một hội nghị tại Singapore, giải tán đảng CS Nanyang và thành lập đảng CS Mã Lai. Cùng thời gian này, đảng CSVN cũng thuộc Đệ Tam Quốc Tế được thành lập.

Địa bàn hoạt động của đảng CS Mã Lai bao gồm Mã Lai, Singapore và lan rộng tận Thái Lan. Chương trình hành động của đảng CS Mã Lai gắn liền với điều kiện chính trị tại Trung cộng và đảng CSTQ bởi vì đa số đảng viên CS Mã Lai là người gốc Hoa. Những năm hòa hoãn giữa đảng CSTQ và Quốc Dân Đảng Trung Hoa để chống Nhật, đảng CS Mã Lai có cơ hội hoạt động mạnh hơn. Năm 1939, đảng CS Mã Lai có khoảng 40 ngàn đảng viên với một nửa số đó hoạt động tại Singapore. Tài liệu của đảng CSVN không ghi thống kê của năm 1939 nhưng trong giai đoạn 1935 đảng chỉ có 600 đảng viên. So sánh để thấy, hoạt động của đảng CS Mã Lai lúc bấy giờ mạnh đến dường nào.

Các đảng CS thuộc Đệ Tam Quốc Tế, trong đó có Việt Nam và Mã Lai, thực thi một chiến lược giống nhau do Lenin vạch ra trong Cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản được chấp thuận tại đại hội Đệ Tam Quốc Tế lần thứ nhất vào năm 1919 và Luận Cương về Vấn đề Dân Tộc và Thuộc Địa do Lenin đọc tại đại hội của Đệ Tam Quốc Tế CS lần thứ 2 vào năm 1920. Chấp hành đường lối quốc tế đó, đảng CS tại các nước thuộc địa dùng cơ hội hợp tác với chính quyền chống ngoại xâm để phát triển đảng một cách công khai. Mã Lai-Singapore chống Anh, Trung Hoa chống Nhật và Việt Nam chống Pháp. Đảng CS mượn chiếc cầu chống thực dân và lợi dụng lòng yêu nước của các tầng lớp nhân dân để đạt mục đích tối hậu là thiết lập chế độ CS trên phạm vi cả nước.

Lai Teck, Tổng bí thư đảng CS Mã Lai có máu Việt Nam

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, đảng CS Mã Lai tuyên bố hợp tác với chính quyền bảo hộ Anh để bảo vệ Singapore. Nhiều đảng viên CS Mã Lai được Anh huấn luyện quân sự. Lai Teck, Tổng bí thư đảng CS Mã Lai nhưng thực chất là một gián điệp làm việc cho nhiều cơ quan tình báo chống CS. Y có máu Việt Nam với cha là người Việt và mẹ là người Hoa. Lai Teck sinh tại Việt Nam và có tên thật là Trương Phước Đạt. Y từng làm việc cho cơ quan mật thám Pháp và xâm nhập đảng CSVN. Sau khi toàn thành nhiệm vụ Pháp chuyển Lai Teck sang cho tình báo Anh và tình báo Anh chỉ thị y xâm nhập vào đảng CS Mã Lai năm 1935. Lai Teck có một tiểu sử đầy kỳ bí và nhiều câu hỏi về nhân vật này vẫn chưa được ai trả lời thỏa mãn.

Khi Singapore rơi vào tay Nhật, Tổng bí thư Lai Teck bị Nhật bắt và trong giai đoạn này y lại bí mật hợp tác với Nhật. Sau Thế chiến thứ hai, Lai Teck vẫn tiếp tục hoạt động trong đảng CS. Mãi cho đến 1947, khi quá khứ bị phanh phui, Lai Teck bỏ trốn sang Thái. Chin Peng, Tổng bí thư mới của đảng CS Mã Lai yêu cầu các đảng viên CS Thái và CS Việt Nam đang hoạt động trên đất Thái truy lùng Lai Teck. Cuối cùng, một tổ ám sát CS Thái tìm ra và siết cổ y chết tại Bangkok. Xác của Lai Teck được ném xuống sông Chao Phraya năm 1947. Năm đó Lai Teck 44 tuổi.

Cộng sản Mã Lai và Singapore sau Thế chiến thứ hai

Giống như tại Việt Nam, khi Nhật rút lui nhưng Đồng Minh chưa đến, các nhóm CS Mã Lai xuất hiện, nhất là trong các khu người Hoa. Các đảng viên CS này được chào đón như những anh hùng cứu tinh dân tộc. Đảng CS tịch thu vũ khí do Nhật để lại và tuyển dụng đảng viên một cách công khai. Những “trung đoàn” CS trong thời chiến mỗi đơn vị chỉ hơn một trăm lính đã lên đến con số 6 ngàn trong một thời gian ngắn.

Khi chính quyền bảo hộ Anh được tái lập tại Singapore và ra lệnh đảng CS Mã Lai phải giao nạp vũ khí và giải tán các “trung đoàn” CS. Đảng CS buộc phải đồng ý giải tán nhưng cũng giấu đi nhiều vũ khí. Theo lịch sử đảng CS Mã Lai, các “trung đoàn” phải giải tán vì thiếu hàng ngũ cán bộ chính trị viên để nắm vững phần tư tưởng của đảng viên, nhưng dù sao đó cũng là một quyết định sai lầm của đảng. Trong khi đó tại Việt Nam, đảng CS lợi dụng khoảng trống cuối Thế chiến thứ hai để chiếm Hà Nội và vài thành phố khác qua biến cố gọi là “Cách mạng Mùa Thu”.

Sau thời kỳ Lai Teck, Chin Peng, 27 tuổi, một lãnh đạo CS Mã Lai gốc Hoa lên nắm quyền Tổng bí thư và chuyển sang đấu tranh bạo động, bao gồm ám sát và khủng bố. Chính quyền phản ứng mạnh qua các chiến dịch truy lùng các lãnh đạo đảng nhưng Chin Peng trốn thoát. Đảng CS Mã Lai thành lập một tổ chức ngoại vi có tên Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Mã Lai. Chính quyền Mã Lai áp dụng chính sách cắt nguồn tiếp tế cho CS bằng cách đưa dân về các “Khu tân lập” được bảo vệ an ninh chặt chẽ. Sau lần đàm phán thứ nhất để giải quyết xung đột trong hòa bình thất bại, các lực lượng CS rút lui dần về biên giới Thái. Theo ước đoán của Bộ Ngoại giao Mỹ, số đảng viên CS Mã Lai trong giai đoạn này chỉ còn vào khoảng 2 ngàn người. Anh trao trả độc lập hoàn toàn cho Mã Lai ngày 31 tháng 8 năm 1957 nhưng vẫn tiếp tục bảo hộ Singapore.

Lý Quang Diệu và CS Singapore

Năm 1950, sau khi học xong ngành luật tại Fitzwilliam College, Cambridge, Anh, và hoàn tất chương trình thực tập luật, Lý Quang Diệu được nhận vào luật sư đoàn Anh nhưng ông đổi ý định hành nghề ở Anh và về nước. Chàng luật sư 27 tuổi Lý Quang Diệu trở lại quê hương mang theo một tấm lòng yêu nước, lý tưởng công bằng xã hội, ý chí quyết tâm và tầm nhìn xa vào tương lai Singapore.

Lý Quang Diệu là một trong ba người thành lập Đảng Hành động Nhân dân Singapore (People Action Party, gọi tắt là PAP) vào ngày 21 tháng 11, 1954. Mục đích chính của PAP là bảo đảm an ninh quốc gia mà không phải sử dụng bạo lực và xác định trong tuyên ngôn thành lập “PAP sẵn sàng hợp tác một cách thành thật với các đảng phái chính trị khác để đạt đến mục tiêu độc lập thật sự cho đất nước”.

Trong cuộc bầu cử tháng Năm 1959, PAP thắng lớn. Singapore thành quốc gia tự trị trong khuôn khổ Commonwealth và Lý Quang Diệu là Thủ tướng đầu tiên với Thống đốc Sir William Allmond Codrington Goode là Quốc trưởng. Theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý 1962, Singapore sáp nhập vào Liên Bang Mã Lai. Việc chọn gia nhập Liên Bang Mã Lai phát xuất từ mối lo ngại thiếu tài nguyên và ngoài ra, một số chính trị gia cũng quan tâm đến việc Singapore có thể trở thành một quốc gia CS. Tuy nhiên chỉ trong vòng 3 năm, Quốc hội Mã Lai với số phiếu 126 trên 126 loại Singapore ra khỏi liên bang. Thủ tướng Lý Quang Diệu đứng trước một tương lai Singapore đầy bất ổn. Ngay cả trong nội bộ PAP, vài năm trước, các thành viên sáng lập cũng đã chọn con đường tả khuynh cho riêng họ.

Các thành phần CS và tả khuynh trong lãnh đạo PAP

Hai thành viên sáng lập khác là Fong Swee Suan và Lim Chin Siong có lập trường tả khuynh trong lúc Lý Quang Diệu quyết tâm ngăn chận mầm mống CS phát sinh trong xã hội Singapore. Lý Quang Diệu biết rõ rất đông lãnh đạo và đảng viên PAP bị ảnh hưởng CS và việc chấp nhận sự ủng hộ của cánh CS chẳng khác gì ngồi trên lưng cọp nhưng ông tin tưởng vào khả năng và có một niềm tin kiên định vào mục đích sống của đời mình. Muốn đưa Singapore trở thành một quốc gia cường thịnh, trước hết phải xóa bỏ mọi tàng tích CS còn tồn đọng từ quá khứ và ngăn chận mọi mầm mống phát sinh của ý thức hệ CS tại Singapore. Tất cả chính sách đối nội của Lý Quang Diệu đều tập trung vào mục đích đó.

Đảng PAP tập hợp những thanh niên Singapore trẻ, có tinh thần độc lập và liên kết với các nghiệp đoàn, nhưng như Lý Quang Diệu giải thích, sự liên kết này chẳng khác gì một loại “hôn nhân hợp đồng” vì ông chỉ biết nói tiếng Anh nên cần các đảng viên biết nói tiếng Tàu trong giới lao động thân CS.

Lim Chin Siong, một trong ba người thành lập, có giọng nói hùng hồn và thu hút người nghe đã đắc cử Dân biểu Quốc Hội đơn vị Bukit Timah khi chỉ mới 22 tuổi. Năm 23 tuổi Lim Chin Siong và Lý Quang Diệu đại diện cho Singapore để thảo luận về hiến pháp tại London.

Những hoạt động tả khuynh quá khích của Lim Chin Siong đã làm cho hai lãnh đạo PAP xa nhau rất sớm. Lý Quang Diệu tố cáo Lim Chin Siong là CS và dựa vào Sắc Luật An Ninh Quốc Nội (Internal Security Act) bỏ tù đồng chí sáng lập PAP này nhiều năm không xét xử.

Mặc dù Lim từ chối là CS, các hành vi của y như việc đọc diễn văn trong lễ tưởng niệm Joseph Stalin và kế hoạch lật đổ chính phủ Lý Quang Diệu sau khi Singapore sáp nhập vào Mã Lai cho thấy chủ trương CS hóa Mã Lai bao gồm cả Singapore nằm trong ý định của Lim và mục tiêu của đảng Barisan Sosialis do y thành lập. Dù sao, sau khi Lim Chin Siong chết ngày 5 tháng Hai 1996, Lý Quang Diệu bày tỏ sự kính trọng về quyết tâm, tận tụy với lý tưởng dành cho đồng chí sáng lập PAP vừa qua đời.

Fong Swee Suan, một thành viên sáng lập khác của PAP cũng có lập trường thân CS. Không giống Lý Quang Diệu học hành đổ đạt, Fong Swee Suan bị trục xuất ra khỏi trường trung học vì tham gia đình công. Fong dành hết thời gian còn lại cho các hoạt động của giới thợ thuyền. Trong thời gian PAP lãnh đạo Singapore, Fong Swee Suan là Bộ trưởng Bộ Lao Động. Tháng Bảy 1961, Lý Quang Diệu yêu cầu Fong Swee Suan từ chức vì có liên can đến việc kêu gọi Singapore tự trị. Fong bị bắt tháng Hai 1963, giam tại Mã Lai và được phóng thích vào tháng Tám 1967. Fong có niềm tin sâu xa rằng giới công nhân là giới bị áp bức bóc lột và nghiệp đoàn là phương tiện để giới công nhân đấu tranh giải phóng áp bức bóc lột. Ông thừa nhận là một người xã hội chứ không phải là CS.

Sau khi giới hạn các thành phần CS và tả khuynh trong hàng ngũ lãnh đạo PAP, và ổn định chính trị quốc nội, Lý Quang Diệu thực hiện hàng loạt các chính sách kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ quốc tế. Singapore gia nhập Liên Hiệp Quốc 1965 và ASEAN 1967.

Lý Quang Diệu và Cộng Sản Tàu

Có lẽ không ai có ý thức rõ ràng và sâu sắc hơn Lý Quang Diệu về hiểm họa CS Tàu tại Singapore. Hầu hết, nếu không muốn nói tất cả đảng viên CS hoạt động tại Singapore là người Hoa. Do đó, tách rời Singapore ra khỏi quỹ đạo của Trung Cộng càng xa càng tốt. Ông học về lý thuyết CS tại Anh một cách nghiêm túc và nhiều lần khẳng định chủ nghĩa CS không cần thiết là một phương tiện để giành độc lập và chủ nghĩa CS không thể xây dựng Singapore thành một nước cường thịnh về mọi mặt.

Vào những năm đầu thập niên 1960, trong lúc các nhà lãnh đạo CSVN phải sang chầu Trung Cộng hàng năm để xin súng đạn, Lý Quang Diệu từ chối ngay cả việc thừa nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một nước có chủ quyền toàn vẹn. Những biện pháp cứng rắn của chính phủ Lý Quang Diệu sau khi Singapore ra khỏi Liên bang Mã Lai là nhằm bảo vệ sự tồn tại mong manh của bán đảo này và ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng Sản với hậu thuẩn tích cực của Trung Cộng.

Khi Đặng Tiểu Bình phát động bốn hiện đại hóa, Lý Quang Diệu mở rộng các quan hệ các quan hệ kinh tế, thương mại với Trung Cộng vì lợi ích của Singapore nhưng vẫn chưa thiết lập các quan hệ chính trị trên tầm mức quốc gia. Mặc dù công khai bày tỏ sự kính phục dành cho Đặng Tiểu Bình và được mời thăm Trung Cộng nhiều lần, mãi đến tháng 10 năm 1990, khi Singapore đủ mạnh về kinh tế và ổn định về chính trị, Lý Quang Diệu mới thiết lập ngoại giao hoàn toàn. Singapore là nước cuối cùng ở Đông Nam Á thừa nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Và mặc dù công nhận Trung Cộng, Lý Quang Diệu đồng thời cũng duy trì một quan hệ tốt với Đài Loan.

Quan hệ thương mại với Trung Cộng, tránh phê bình chế độ chính trị CS tại Trung Cộng không có nghĩa Lý Quang Diệu thừa nhận cơ chế CS là đúng. Lý Quang Diệu hiểu CS hơn nhiều lãnh đạo quốc gia khác vì chính ông đã từng tranh đấu một cách gian nan để ngăn chận CS tại Singapore cũng như đã từng phát biểu về lâu về dài nền dân chủ Ấn Độ sẽ giúp cho quốc gia này vượt qua Trung Cộng.

Một số học giả Trung Cộng như Lu Qi gọi Lý Quang Diệu là hanjian (Hán Gian) khi kết án ông Lý đã buộc người dân Singapore sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ chính và kết quả làm cho đa số người dân Singapore gốc Hoa ngày nay không biết tiếng Tàu. Nhưng tên học giả này quên rằng Lý Quang Diệu là Singapore chứ không phải là Trung Hoa và lại càng không phải Hán. Quyết định duy trì tiếng Anh làm ngôn ngữ chính ngay từ thời gian mới độc lập là một phần trong tầm nhìn xa của họ Lý để chuẩn bị cho Singapore dễ dàng hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa năm chục năm sau.

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Lý Quang Diệu và nhiều lãnh đạo sáng suốt ở châu Á đã lợi dụng chính sách chống CS của Mỹ ở châu Á để hợp tác và phát triển kinh tế với Mỹ, nhờ đó, không chỉ nền kinh tế Singapore mà nhiều nước nhỏ khác ở châu Á như Nam Hàn, Đài Loan cũng đã lần lượt cất cánh và trong một thời gian ngắn được thế giới ca ngợi như là những con rồng châu Á.

“Vâng, nếu tôi không làm thế, chúng ta có thể không có mặt ở đây hôm nay”

Như Joseph Chinyong Liow, thuộc Viện Nghiên Cứu Brookings, phân tích trong bài bình luận Lý Quang Diệu, con người và giấc mơ hôm 22 tháng 3 vừa qua, chính lý tưởng và tầm nhìn đã giúp Lý Quang Diệu đưa Singapore từ một quốc gia bị trị, phân hóa chính trị, CS hoành hành, xung đột chủng tộc, thiếu thốn tài nguyên thiên thiên trở thành một nước hiện đại, được nhân loại khắp năm châu kính nể.

Lý Quang Diệu, một lần, thừa nhận đã có can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân nhưng như ông biện luận “Vâng, nếu tôi không làm thế, chúng ta có thể không có mặt ở đây hôm nay”. Đúng thế, lịch sử Singapore hiện đại đã chứng minh một cách hùng hồn rằng Lý Quang Diệu có lẽ là lãnh đạo có lập trường quốc gia duy nhất không những tồn tại mà còn xóa bỏ được cả một hệ thống CS tại Singapore và đưa đất nước ông thăng tiến vượt lên trên phần lớn nhân loại.

@ Danluan

Phan Châu Trinh cũng giống Lý Quang Diệu?

“Người Việt Nam có Hồ Chí Minh thì người Singapore có Lý Quang Diệu”. Cả Hồ Chí Minh và Lý Quang Diệu đều là người khai sinh ra dân tộc, đều là những là lãnh tụ vĩ đại. Một người đưa dân tộc nhỏ bé thắng người khổng lồ Mỹ, một người đưa đảo quốc tý hon không tài nguyên thành cường quốc kinh tế.

Nếu phải so sánh, trước đây có lẽ không ít người sẽ chọn Việt Nam và Hồ Chí Minh là hình ảnh vĩ đại hơn, vì phát triển kinh tế thì nhiều nước có thể làm được, còn thắng Mỹ “duy nhất có Việt Nam”.

Nhưng mọi việc gần đây đã có sự thay đổi, người ta thấy rằng Việt Nam tuy lập được chiến công hiển hách như thế nhưng sau 40 vẫn không phát triển hơn được bao nhiêu và không biết đến bao giờ mới bằng được Singapore, đất nước mà trước đây chính lãnh tụ của nó mong một ngày được như Sài Gòn của Việt Nam.

Hóa ra phát triển kinh tế không dễ như thế. Đánh giặc cũng khó, nhưng làm kinh tế cũng khó không kém. Mỗi lĩnh vực có một đặc thù riêng mà nếu không hiểu thì không thể thành công.

Mỗi thời đại cần một anh hùng

Việt Nam thành công trong chiến tranh là nhờ có Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng Hồ Chí Minh là tiêu biểu cho kiểu anh hùng thời chiến, người có thể kêu gọi toàn thể dân tộc hy sinh tất cả cho sự nghiệp kháng chiến.

Cách mạng của Đảng Cộng sản lấy tầng lớp nhân dân lao động là Công nhân và Nông dân làm nòng cốt, vì những người này nghèo khổ nhất, có ý chí căm thù giặc sâu sắc nhất, có thể chịu gian nan khổ cực, bất chấp tính mạng để chiến đấu.

Đảng Cộng sản đã phát huy một cách cao độ khả năng của những tầng lớp không được học cao hiểu rộng này, vì trong chiến đấu, ý chí mới là thứ quan trọng nhất. Cho dù có khỏe mạnh được trang bị vũ khí đến mấy cũng khó có thể địch lại mười người lao vào đòi chết. Không sợ hy sinh gian khổ mới là yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh.

Nhưng trong thời bình thì khác hẳn, làm kinh tế không phải cứ liều chết mà thành. Chủ nghĩa Cộng sản đã chiến thắng Chủ nghĩa Tư bản trong chiến tranh ở thế kỷ 20 và trên khí thế đó, ai cũng nghĩ rằng Kinh tế bao cấp của các nước Xã hội Chủ nghĩa sẽ tiếp tục làm được điều tương tự trước Kinh tế thị trường của các nước Tư bản. Kết quả đã rõ. Tất cả đều phải quay lại Kinh tế thị trường như một sự thừa nhận: muốn giàu có thì đó là con đường tất yếu.

Đến lạ là sau khi làm được những điều thần kỳ như thế trong chiến tranh, các nước Xã hội Chủ nghĩa lại chịu thua trong một trận chiến tưởng chừng êm đềm và dễ dàng hơn nhiều. Sự hô hào không còn tác dụng trong thời bình, nó chỉ giúp Công nhân và Nông dân có thêm ý chí chứ không giúp họ có thêm hiểu biết mà làm kinh tế thì cần phải có kiến thức và khoa học.

Nhìn sang những “thần tượng” của Việt Nam hiện tại như Nhật Bản và Singapore thì thấy rằng cuộc cách mạng của họ “bình dị” hơn nhiều, nhưng cách thức thì như nhau. Cách mạng Giải phóng dân tộc là đề cao vị trí của người Nông dân, Công nhân, giúp họ tự tin rằng “châu chấu có thể đá voi lòi ruột”; còn cách mạng về kinh tế thì gần như ngược lại: phải tìm ra những điểm yếu, những cái dốt nát kém cỏi của dân tộc mình để mà sửa chữa.

Như vậy, anh hùng thời chiến và anh hùng thời bình về căn bản có sự khác nhau. Làm người ta tự tin lên đã khó, nhưng làm người ta chịu thừa nhận rằng mình kém cỏi có lẽ còn khó hơn.

Bài học Nhật Bản

Đối với những dân tộc nhỏ bé, không có con đường nào khác ngoài học tập.

Sự học của người Nhật có được nhắc tới trong tác phẩm Tôtem Sói của Khương Nhung: “Nhật Bản học Trung Quốc hơn ngàn năm Nho học mà không thấy có tiếng vang gì trên thế giới, vậy mà học phương Tây mới hơn ba mươi năm mà đã cất cánh bay cao”.

Nhật Bản bắt đầu học theo phương Tây từ thời Tokugawa, họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đại trong hai thế kỷ để tiếp thu mọi trí thức từ nền văn minh xa lạ này. Bác sỹ Sugita Genpaku – người đã khởi đầu cho phong trào Lan học (Học tập Hà Lan) cuối thế kỷ 18 đã nói: “Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình”.

Ngược lại, ở Trung Quốc cũng có một cuộc dịch thuật nhưng do các nhà truyền giáo thực hiện nên không trung thực và càng không có kết quả do sự tự mãn của văn hóa Trung Hoa.

Đáng nói là hai trăm năm dịch thuật ở thời Tokugawa chính là thời gian mà ở châu Âu bùng nổ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghiệp tạo ra sự khác biệt to lớn giữa các nền văn minh dẫn tới những thay đổi chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Nhờ vậy, Nhật Bản đã không bị bỏ xa và họ nhanh chóng trở thành cường quốc đi xâm chiếm lại chính ông thầy Trung Quốc của mình ngày xưa.

Có thể nói, nguồn gốc của sự khác biệt giữa Trung Quốc và Nhật Bản trước đây chính là cách tự nhìn nhận chính dân tộc mình: Một tự hào về bản thân và một tự nhận mình là kém cỏi.

Ngay cả trong thời kỳ phát triển vũ bão sau Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản cũng phải học từng ly từng tý phương Tây, thậm chí có lúc bị chỉ trích là sao chép, ăn cắp bản quyền như trong cuốn “Những bài học từ sự thành công của nền Kinh tế Nhật Bản” của Martin Wolf. Đó đơn giản là những thứ mà người Nhật biết rằng nếu họ không học thì không thể tự làm ra được.

Bài học Singapore

Biết rằng tự thân cái làng chài nhỏ bé thì khó có thể làm nên trò trống gì, mọi thứ đều phải có căn bản, nên giữa lúc các nước đang phát triển dè bỉu các đế quốc kinh tế thì Lý Quang Diệu lại trải thảm đỏ mời các “tên đế quốc” đó vào Singapore. Nếu ở thời điểm đó hành động này có thể xem như một bước lùi. Đến nay chúng ta đã biết “bước lùi” đó đem lại bước tiến như thế nào.

Lý Quang Diệu cũng cho phép mở sòng bạc tại Singapore vì “Thế giới đã thay đổi, nếu không có những khu nghỉ dưỡng kết hợp kiểu như ở Las Vegas, chúng tôi sẽ thua” và “Tôi nghĩ chúng tôi phải đi theo bất kỳ hướng nào theo tiếng gọi của tình hình thế giới nếu chúng tôi muốn tồn tại và là một phần của thế giới hiện đại này. Nếu chúng tôi không kết nối với thế giới hiện đại, chúng tôi chết. Chúng tôi sẽ quay trở lại cái làng chài trước đây.”

Toàn là những quyết định mà nếu nhìn ở một khía cạnh khác thì đều là “chịu thua trước thế giới tư bản” cả, nhưng bây giờ Singapore đã thắng nhiều nước tư bản khác.

Một điểm chung nữa của Singapore và Nhật Bản là đặt giáo dục lên hàng đầu.

Nhật Bản bắt đầu bùng nổ giáo dục ngay từ thời Tokugawa. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, phát triển đất nước cần những người có học. Như học giả Khổng giáo Dazai Jun (1686-1747) viết: “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học”.

Còn Lý Quang Diệu cũng đã nói với nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế”.

Singapore treo cờ rủ để quốc tang ông Lý Quang Diệu
Nhớ đến Phan Châu Trinh

Sự khác biệt của Phan Châu Trinh với những nhà yêu nước ở Việt Nam cùng thời là không mị dân, không nhắm mắt ca ngợi dân tộc mình một cách mù quáng, không nâng cao đồng bào bằng những tự hào hão và đặc biệt, không chửi bới tất cả những thứ thuộc về ngoại bang. Ông dám lớn tiếng nói: Dân tộc ta thua vì dân tộc ta đã quá kém cỏi, mà là kém ở tận gốc, ở văn hóa.

Ông xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến mất nước là sự thua kém của xã hội ta so với phương Tây và con đường giải thoát là phải rút ngắn khoảng cách, đưa dân tộc mình ngang tầm thời đại với đối thủ.

Chính vì vậy, ông chủ trương đấu tranh bất bạo động: “Nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh cả hoàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên dụng tâm về mặt khai trí trị sinh các việc thực dụng. Dân trí đã mở, trình độ một ngày một cao tức là cái nền độc lập ngày sau ở đấy”.

Phan Châu Trinh cho rằng Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mưu cầu độc lập chứ không cầu viện ngoại bang dùng bạo lực giành độc lập.

Chỉ như vậy mới bảo đảm Việt Nam sẽ có một nền độc lập chân chính, lâu bền về chính trị lẫn kinh tế trong quan hệ với ngoại bang cũng như nhân dân sẽ được hưởng độc lập và tự do cá nhân trong quan hệ với nhà nước.

Chính vì thế ông đã đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tinh lân cận để vận động cuộc Duy tân nhằm phổ biến các giá trị của nền văn minh phương Tây, cải cách giáo dục, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu gọi cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay…

Như chúng ta đã biết thì Phan Châu Trinh đã thất bại do nhiều nguyên nhân. Đặc biệt so với phương pháp đấu tranh của Đảng Cộng sản thì không hiệu quả bằng, ít nhất là trong thời điểm ấy, trong hoàn cảnh lịch sử và trong điều kiện của nước Việt Nam hồi ấy. Nhưng sẽ không ít người phải giật mình nếu tình cờ đọc “Tỉnh hồn quốc ca” của ông vì sự đúng đắn và thời sự của nó cho đến tận ngày hôm nay.

Phan Châu Trinh có lẽ đã sinh ra nhầm thời rồi, ông là kiểu anh hùng trong thời bình chứ không phải trong thời chiến. Ông đặt vấn đề Phát triển dân tộc để Giải phóng dân tộc, nhưng hoàn cảnh lúc đó không giúp ông thực hiện thành công nhiệm vụ này. Cuộc cách mạng của ông rất giống với cuộc cách mạng của người Nhật và người Singapore, nhưng Nhật Bản và Singapore lúc đó không có chiến tranh như Việt Nam.

Dù thế, chúng ta không được phép quên Phan Châu Trinh, người mà theo nhà sử học Daniel Héméry là: “Khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hóa và chính trị Việt Nam ở thế kỷ 20, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những vấn đề nan giải đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải và mãi mãi còn phải đảm nhận”.

Ngày này 89 năm trước, ngày 24/3/1926 đã diễn ra một sự kiện lớn chưa từng có trong lịch sự người An Nam lúc bấy giờ, đó là đám tang của Phan Châu Trinh. Việt Nam bây giờ đã quên mất sự kiện này, không một cơ quan báo đài hay phương tiện truyền thông đại chúng nào kỷ niệm ngày ra đi của ông cả. Đó có lẽ là một thiếu sót lớn nếu thật sự là một dân tộc biết coi trọng lịch sử, biết nhìn thẳng vào sự thật để tiến lên phía trước.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả.

@bbc

Tầm nhìn phủ xanh Singapore của ông Lý Quang Diệu

Hơn 50 năm trước, ông Lý Quang Diệu tin rằng hình ảnh Singapore sẽ không lẫn vào các nước Thế giới thứ 3 chỉ bằng biện pháp đơn giản: trồng nhiều cây cối để phủ xanh đảo quốc.

Báo Straits Times cho biết, trong thời gian du học tại trường Cambridge (Anh), ông Lý Quang Diệu rất quan tâm cách người Anh sắp đặt vị trí cây xanh trên các tuyến đường nhộn nhịp ở thủ đô London. Ông cũng dành thời gian tìm hiểu về đất đai, hệ thống thoát nước, phân bón và khí hậu.

Khi nắm trọng trách phát triển Singapore, ông Lý Quang Diệu nhấn mạnh việc mở rộng độ che phủ của cây xanh để giảm hệ quả tiêu cực của quá trình đô thị hóa, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống. Ông rất thích cây angsana (vốn dễ trồng cũng như phát triển nhanh, tán rộng) và cây còng. Ngoài ra, cây xanh còn góp phần làm đẹp mỹ quan đô thị, đặc biệt khi đến mùa hoa nở, thu hút những chú chim đến làm tổ và mang lại âm thanh rộn rã cho phố phường. Ngày 16/6/1963 là dấu cột mốc quan trọng trong chiến dịch trồng cây ở Singapore. Khi ấy, thủ tướng Lý Quang Diệu tự tay cuốc đất để trồng một cây thành ngạnh. Các nhà sử học ví hành động trồng cây của ông Lý Quang Diệu giống như việc gieo những hạt giống đầu tiên của giấc mơ “khu vườn Singapore” xuống mảnh đất cằn cỗi trong quá khứ.

Thủ tướng lập quốc của Singapore chọn thời điểm trồng cây vào mùa hè, mùa hạn hán, để nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến dịch phủ xanh cả nước giúp điều hòa khí hậu, mang lại nhiều mưa hơn cho hòn đảo.

Tuy nhiên, tầm nhìn sâu xa hơn của ông Lý Quang Diệu ở chỗ, ông tin rằng một Singapore sạch sẽ và trong xanh sẽ nâng cao lợi thế cạnh tranh của đất nước trong quá trình vươn lên Thế giới thứ nhất.

Trong hồi ký Từ Thế giới thứ Ba đến Thế giới thứ Nhất, ông Lý Quang Diệu chia sẻ: “Sau khi độc lập, tôi luôn đau đáu suy nghĩ về những biện pháp để tách bạch hình ảnh Singapore với các nước Thế giới thứ 3. Tôi quyết định phải cải thiện môi trường và cảnh quan Singapore. Phủ xanh thành phố là kế hoạch hiệu quả nhất mà tôi từng phát động”.

“Những mảng xanh trong thành phố cũng giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm của người dân, khiến họ tự hào về những thực thể tồn tại xung quanh. Chúng tôi hướng dẫn họ chăm sóc cây xanh và không phá hoại cây cối”, ông Lý Quang Diệu kể trong quyển hồi ký xuất bản năm 2000.

Trong những thập kỷ điều hành đất nước, ông Lý Quang Diệu luôn quyết liệt thực hiện giấc mơ xây dựng “thành phố vườn” ở Singapore.

“Tôi cử người đi khắp nơi, đến các vùng xích đạo, vùng nhiệt đới, vùng cận nhiệt đới, để tìm những giống cây hoặc dây leo mới. Họ đến châu Phi, vùng Caribbean, châu Mỹ, và mang về một số giống cây mới. Chúng không nhiều, nhưng nếu bạn dành chỗ để trồng cây, để dây leo mọc lên, thì sự oi bức sẽ giảm và bạn có một thành phố khác hẳn”, ông Lý Quang Diệu kể trong quyển The Man And His Ideas (xuất bản năm 1998).

Khi Singapore trở thành đô thị hiện đại, ông Lý Quang Diệu “khoe” rằng, ông luôn cảm thấy thoải mái và nhẹ nhõm khi từ máy bay trông xuống đại lộ East Coast rợp bóng cây. Vì sao trồng cây lại là ưu tiên của Singapore vào thời kỳ đầu độc lập, khi đất nước chưa chắc chắn về sự tồn vong kinh tế? “Ông Lý Quang Diệu đã khẳng định chiến dịch phủ xanh phải là phần thiết yếu trong quá trình xây dựng đất nước. Một thành phố xanh với khâu quản lý, quy hoạch hiệu quả sẽ gửi tín hiệu tích cực đến các nhà đầu tư. Hơn nữa, nó cũng truyền cảm hứng đến người dân Singapore, khiến họ tự hào rằng họ đang sống trong một ‘thành phố vườn’. Có những lợi ích không thể đong đếm nhưng vô cùng quan trọng”, ông Poon Hong Yuen, chủ tịch Ủy ban quản lý công viên quốc gia Singapore (NParks), nói. Ngày nay, cây xanh đã che bóng cho gần một nửa Singapore. “Mật độ phủ xanh của Singapore năm 1986 là 36%, đến năm 2007 là 47% dù chúng tôi vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và dân số ấn tượng”, ông Poon nói.

Từ năm 1971, chính phủ Singapore quyết định chọn một ngày trong tuần thứ nhất của tháng 11 là Ngày Trồng cây toàn quốc. Sự kiện Ngày Trồng cây đầu tiên diễn ra vào ngày 7/11/1971. Tháng 11 là thời điểm bắt đầu mùa mưa ở Singapore. Do vậy, đảo quốc có thể tiết kiệm lượng nước ngọt phải dùng để tưới tiêu trong giai đoạn này. Ngày Trồng cây ở Singapore thực sự là một ngày hội của cả nước, với nhiều hoạt động ý nghĩa diễn ra bên cạnh nhiệm vụ chính là trồng cây. Những quan chức nước ngoài tại Singapore cũng hào hứng tham gia sự kiện này. Các gia đình hướng dẫn trẻ em trồng cây và giảng giải về những lợi ích mà cây xanh mang lại. Ông Lý Quang Diệu chưa từng vắng mặt ở bất kỳ lễ khai mạc sự kiện nào suốt hơn 50 năm qua. Ngày 2/11/2014, dù sức khỏe đã suy yếu đáng kể, ông vẫn tham gia lễ phát động Ngày Trồng cây cùng người dân.

Theo TRI THỨC

LƯỢM LẶT TIN 27-3-15

Báo Nhân Dân tiêu nhiều tiền hơn VTV?
Người đọc báo ở Việt Nam – hình minh họa

Tài liệu công khai ngân sách của Bộ Tài chính Việt Nam cho thấy tờ báo của Đảng Cộng sản cầm quyền có dự toán ngân sách cao hơn Đài Truyền hình Việt Nam (VTV).

Trong văn bản công bố trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Nam về chi tiêu của Văn phòng Trung ương Đảng ( xem đường dẫn), báo Nhân Dân có dự toán ngân sách năm 2014 là 46 tỷ 460 triệu VND.

Văn bản tương tự về VTV cho hay đài này chỉ có dự toán ngân sách cùng năm là 45 tỷ 970 triệu VND.

Tuy nhiên, đây không phải là số liệu về các khoản thu từ quảng cáo và kinh doanh của VTV.

Theo báo chí Việt Nam gần đây, VTV được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khen ngợi đã ‘tự chủ về mặt tài chính, tiền lương’.

Vẫn theo bản tin VTV hôm 13/03/2015, “Đài Truyền hình Việt Nam đã không phải phụ thuộc vào ngân sách của Nhà nước khi có thể tự chủ về tài chính và tự đầu tư đổi mới thiết bị”.

Trong khi đó, một địa chỉ của trang báo Nhân Dân bản điện tử (www.nhandan.org.vn) hiện chỉ được xếp thứ 3899 trong số các trang mạng ở Việt Nam.

Một địa chỉ khác (www.nhandan.com.vn) thì đạt vị trí cao hơn, thứ 1142 nhưng vẫn còn rất xa sau trang VnExpress (7) và Dân Trí (15), theo thống kê của www.alexa.com về các trang web ở Việt Nam.

Tuyên truyền và lý luận

Còn về chi tiêu của Văn phòng Trung Ương Đảng, Tạp chí Cộng sản có ngân sách còn cao hơn báo Nhân Dân, ở mức 49 tỷ 850 triệu VND.

Trang báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam có dự toán ngân sách 32 tỷ 340 triệu VND và có tổng biên tập riêng, không phải tổng biên tập báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản.

Trực thuộc Văn phòng Trung ương Đảng còn một cơ quan không thuộc lĩnh vực làm báo hay sản xuất chương trình truyền thông là Hội đồng Lý luận Trung ương có ngân sách 38 tỷ 800 triệu VND năm qua.

Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Đinh Thế Huynh và lãnh đạo báo Nhân Dân, ông Thuận Hữu

Hội đồng này có 23 biên chế và sáu nhân viên hợp đồng, theo văn bản nói trên.

Theo một bài trên trang dangcongsan.org.vn hồi tháng 10/2011 thì Hội đồng trong nhiệm kỳ 2011-2015 có 39 thành viên, gồm 38 tiến sĩ, chỉ có một vị là thạc sĩ.

Chủ tịch Hội đồng là Tiến sĩ Đinh Thế Huynh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Cộng cả chi tiêu cho Nhà xuất bản thuộc Văn phòng TW Đảng (36 tỷ 280 triệu VND) thì các khoản cho lĩnh vực tuyên truyền, truyền thông và lý luận của Trung ương Đảng lên tới 195 tỷ 730 triệu VND.

Đây là con số không nhỏ, gần bằng một nửa chi ngân sách cùng năm 2014 cho Thông tấn xã Việt Nam (409 tỷ 842 triệu) vốn có hoạt động trên các tỉnh thành trong nước và văn phòng ở nhiều nước trên thế giới.

Trong năm 2014, Văn phòng Trung ương Đảng có dự toán 1973 tỷ VND, tương đương 98,6 triệu USD, gấp 10 lần VP Chủ tịch Nước (195.9 tỷ).

Văn phòng Chính phủ có dự toán chi tiêu 1290 tỷ VND.

————————

Lần đầu tiên Việt Nam đứng đầu thị trường gia công thế giới

Lần đầu tiên Việt Nam đứng đầu thị trường gia công thế giới

Lần đầu tiên Việt Nam vượt qua Trung Quốc và Ấn Độ để trở thành thị trường gia công đứng đầu của thế giới.

Báo cáo bảng xếp hạng các điểm đến có dịch vụ gia công đứng đầu thế giới thông qua đánh giá các chỉ tiêu về chi phí, rủi ro và điều kiện hoạt động do Công ty tư vấn bất động sản toàn cầu Cushman & Wakefield vừa công bố cho thấy, lần đầu tiên Việt Nam đã vươn lên trở thành thị trường gia công đứng đầu của thế giới do chi phí nhân công đang tăng lên tại Trung Quốc.

Cũng theo Cushman & Wakefield, Ấn Độ tiếp tục là thị trường dịch vụ thuê ngoài lớn nhất.

Theo nhận định của Công ty Cushman & Wakefield, thị trường Việt Nam đã trở nên đặc biệt hấp dẫn nhờ Chính phủ áp dụng nhiều biện pháp cải cách mới. Việc đầu tư mạnh vào giáo dục và đào tạo đã giúp nguồn lao động Việt Nam chuyển từ nghề nông, năng suất thấp sang những công việc văn phòng năng suất cao hơn.

Việt Nam cũng thu lợi từ nguồn nhân công khá ổn định. Độ tuổi trung bình của Việt Nam dưới 30 tuổi và mỗi năm lại có thêm từ 1-1,5 triệu người gia nhập thị trường lao động, tạo nguồn cung dồi dào.

Mặt khác, mức lương vẫn còn thấp so với những nước láng giềng trong khu vực, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, ngành công nghiệp phần mềm đang phát triển mạnh mẽ với việc có hơn 1.000 công ty phần mềm hoạt động, sử dụng trên 80.000 nhân viên, trở thành một trong những nhà xuất khẩu phần mềm lớn nhất thế giới và là nước thứ hai gia công nhiều nhất cho Nhật Bản.

Ông Jonathan Tizzard, Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu & Định giá Cushman & Wakefield Việt Nam, cho biết bảng xếp hạng này đã cho thấy sự thành công của Chính phủ Việt Nam trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, cùng với những chính sách khuyến khích nâng cao chất lượng giáo dục và trình độ chuyên môn cho thế hệ trẻ.

Đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam đang tăng và sẽ tiếp tục tăng khi Hiệp định Tự do thương mại được ký kết vào năm 2015 hoặc năm sau.

Thêm vào đó, tháng 7/2015, hai bộ luật mới là Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản sẽ chính thức có hiệu lực, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam. Vì thế, cái tên Việt Nam trong thời gian tới sẽ còn được nhắc nhiều trong các tờ báo kinh tế và tài chính lớn trong và ngoài nước.

Theo ông Richard Middleton, Giám Đốc Bộ phận dịch vụ thuê của Cushman & Wakefield khu vực châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu, Trung Đông và châu Phi: dù không phải là thị trường dịch vụ gia công giá rẻ nhất, Việt Nam vẫn rất cạnh tranh so với thị trường các nước khác. Chi phí tiền lương đang tăng lên ở Ấn Độ và Trung Quốc đã giúp cho Việt Nam đứng đầu bảng xếp hạng năm 2015.

‘Cơ phó cố tình lao máy bay xuống núi’

Công tố viên tại Marseille là Brice Robin nói cơ phó đã cố tình hạ độ cao khi cơ trưởng bị khóa cửa ở bên ngoài không vào được.

Cơ phó trong vụ phi cơ Germanwings lao xuống rặng Alps ở Pháp vào hôm thứ Ba dường như “muốn phá hủy phi cơ”, giới chức Pháp cho biết.

Công tố viên tại Marseille là Brice Robin, dẫn chiếu tới thông tin từ thiết bị thu âm trong “hộp đen” nói phi công này chỉ có một mình trong khoang lái.

Phi công này đã cố tình hạ độ cao khi cơ trưởng bị khóa cửa ở bên ngoài không vào được.

Ông Robin nói “tuyệt nhiên trong buồng lái không có tiếng động” trong lúc cơ trưởng cố gắng phá cửa để vào lại khoang lái.

Đài không lưu đã liên tục cố gắng liên lạc với phi cơ này mà không đuợc, ông nói.

Thiết bị thu âm cũng cho thấy tiếng hành khách thét lên ngay trước khi phi cơ lao xuống núi.

Cơ phó trong khoang lái, 28 tuổi mang quốc tịch Đức, có tên là Andreas Lubitz, còn sống cho tới khi phi cơ lao xuống núi, công tố viên Robin cho hay.

Phi công Andreas Lubitz trong ảnh chụp một lần đi du lịch

Vào hôm qua, các nhà lãnh đạo Đức, Pháp và Tây Ban Nhà đã cùng tới thăm hiện trường nơi chiếc phi cơ Germanwings bị đâm ở vùng núi Alps của Pháp hôm thứ Ba, khiến 150 người bị thiệt mạng.

Bà Angela Merkel, ông Francois Hollande và Mariano Rajoy được báo cáo sơ bộ về việc tìm kiếm cứu trợ và họ đã cảm ơn các nhân viên tham gia công việc này. Một trong hai hộp đen đã được tìm thấy tại địa điểm gần Digne.

Chiếc Airbus A320 – chuyến bay 4U 9525 – từ Barcelona tới Duesseldorf đã bị đâm sau 8 phút mất độ cao rất nhanh.

Người đứng đầu hãng Germanwings, ông Thomas Winkelmann, nói 72 trong số 144 hành khách là công dân Đức và 35 người Tây Ban Nha, mặc dù danh sách này tiếp tục được cập nhật. Các nạn nhân người Đức bao gồm 16 học sinh đang trên đường về nước sau một chương trình trao đổi.

Ngoại trưởng Anh, ông Philip Hammond, khẳng định có ba người Anh trên chuyến bay đó. Những nạn nhân khác là từ Úc, Argentina, Iran, Venezuela, Hoa Kỳ, Hà Lanm Colombia, Mexico, Nhật Bản, Đan Mạch và Israel.

Hộp ghi âm trong buồng lái được một toán sử dụng trực thăng tìm thấy hôm thứ Ba đã bị hư hại nhưng vẫn có thể cung cấp thông tin, Bộ trưởng Nội vụ Pháp Bernard Cazeneuve nói.

Các nhà điều tra tiếp tục tìm kiếm hộp đen thứ hai – hộp ghi lại các dữ liệu chuyến bay.

Một ngày để tang được tổ chức tại trường Joseph-Koenig-Gymnasium ở Haltern-am-See, miền tây bắc nước Đức, nơi có 16 học sinh Đức thiệt mạng.

Học sinh tại trường trung học Giola ở làng Llinars del Valles, miền đông bắc Tây Ban Nha, đã tiến hành một buổi lễ kín kéo dài 15 phút để tưởng niệm những học sinh đã tới trường họ theo chương trình trao đổi.

"Hộp đen" ghi âm trong buồng lái

“Hộp đen” ghi âm trong buồng lái đã bị hư hại nặng trong vụ rớt máy bay.

Sau khi tới nơi xảy ra vụ rớt máy bay, Tổng thống Pháp Hollande, Thủ tướng Đức Merkel và Thủ tướng Tây Ban Nha Rajoy đã cảm ơn nhân viên cứu trợ về các nỗ lực của họ trong hoàn cảnh khó khăn.

Anh Quốc và bài học cai trị của Singapore

Nước Cộng hòa Singapore hiện đại giành được độc lập từ thân phận là một vùng thuộc địa của thực dân Anh.

Người có công lớn trong việc đó là ông Lý Quang Diệu và mặc dù đối chọi với người Anh nhưng con người ông Diệu mang đậm nền giá trị văn hóa giáo dục Anh Quốc.

Sản phẩm của người Anh

Ngay từ khi còn bé văn hoá Anh đã ảnh hưởng đậm nét ở ông Lý Quang Diệu, một phần là do ông nội của ông đã cho các con trai của mình hấp thụ nền giáo dục của Anh.

Cũng chính ông nội đã cho cậu bé Lý tên Harry để thêm vào tên Quang Diệu mà người cha đặt cho con mình.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1946 ông Lý Quang Diệu đến Anh theo học luật tại Đại học Cambridge và Trường Kinh tế Luân Đôn. Năm 1949 ông trở về Singapore và hành nghề luật sư.

Chính những kiến thức giá trị của người Anh mà ông Lý hấp thụ đã giúp định hình nên niềm tin giá trị cho ông quản trị lãnh đạo đất nước.

Mặt khác vì là sản phẩm của văn hóa giáo dục Anh Quốc, một dạng con đẻ trong nhận thức và tinh thần, cho nên ông đã gặp ít hơn những lực cản từ chính quyền Anh ở quãng thời gian đòi giành độc lập.

Chúng ta hiểu rằng thời gian đó ông Lý Quang Diệu chưa phải là người có danh tiếng và uy tín như sau này và thực dân Anh không phải là dễ dàng khoanh tay đứng nhìn.

Ngược lại chính quyền Anh là lực lượng mạnh có thể cản trở hoặc dập tắt yêu cầu đòi độc lập của ông Lý Quang Diệu và các chính trị gia thuộc Liên bang Malaysia khi đó.

Song đứng trước xu thế của thời đại, nhận ra chủ nghĩa thực dân mất chỗ đứng, người Anh có nhãn quan nhìn xa nên đã tính cách trao trả độc lập hòng đảm bảo quyền lợi cho chính họ sau chuyển đổi.

Và một Lý Quang Diệu có nhiều điểm chung về nhận thức giá trị cho nên là một lựa chọn dễ chịu.

Trong việc trao nhận và nắm quyền cũng là mối quan hệ mất được khi đó, sự thù địch được giảm đi tối thiểu.

Đó là với Lý Quang Diệu và Singapore đất nước vài triệu dân.

Singapore thời kỳ hậu thuộc địa vẫn còn kém phát triển

Và đó cũng là điều đã xảy ra với Ấn Độ đất nước có vài trăm triệu người ở thời điểm giành độc lập từ thực dân Anh và hiện đã hơn một tỷ dân.

Người đã lãnh đạo nhân dân Ấn Độ giành được độc lập là ông Mahatma Gandhi (1869 -1948).

Ông sinh ra trong một gia đình khá giả có bố làm việc trong chính quyền thuộc địa Anh, ở tuổi 19 Gandhi du học luật tại trường Đại học London, sau sang Nam Phi hành nghề luật sư và rồi trở về Ấn Độ.

Cũng là người tiếp thu văn hóa giáo dục Anh đó hẳn là một lợi thế to lớn giúp ông Gandhi đương đầu chống chịu được với chính quyền thực dân khi đòi giành độc lập.

Lợi thế ở đây không phải là giúp hiểu được điểm yếu của đối phương để đánh gục, mà thực chất là thấu hiểu vấn đề và suy nghĩ của nhau.

Trước sự thay đổi của thời cuộc người ta nhận ra giải pháp duy lý đúng đắn chỉ có một, cho nên không còn cách nào khác là buông bỏ và trao nhận để có được kết cục tốt nhất cho tất cả.

Đó cũng là cách của những cuộc chuyển giao êm thấm trong trật tự, không xáo trộn đổ máu.

Trí tuệ của người Anh

Một điểm chung giữa Singapore và Ấn Độ đó đều là thuộc địa của Anh.

Và trong sự thành công sau này của hai nước, không phải chỉ nhờ mỗi cá nhân hai ông Lý Quang Diệu và Gandhi mà còn do dân chúng hai nước sau hàng trăm năm sống dưới sự cai trị của người Anh đã phần nào tiếp thu được những nguyên lý tổ chức và hoạt động của chính quyền dân sự.

Ở đây cần nói đến một vấn đề rộng lớn hơn đó là ở châu Âu sau hàng nghìn năm sống dưới triều đại vua chúa nghiệt ngã, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội đã có những bước phát triển lớn.

Theo thời gian những bộ óc lớn của châu Âu đã suy tư tìm hiểu về vai trò và mục đích chân chính của một chính quyền cũng như mối tương quan giữa chính quyền và người dân.

Đặc biệt ở Anh từ năm 1689 có một người là ông John Locke đã viết hai cuốn sách khảo luận về chính quyền, trong đó cuốn thứ hai khảo luận về chính quyền dân sự mới được dịch xuất bản ở Việt Nam.

Ông Lý Quang Diệu (giữa) trong một lần trả lời truyền hình BBC

Theo đó ông John Locke chỉ ra rằng một chính quyền chân chính là phải chính quyền dân sự có nghĩa vụ chăm lo cho dân và nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.

Quan điểm này khi đó hoàn toàn khác với nhận thức chung thời bấy giờ cho rằng chính quyền thuộc về ông vua, dân là công cụ để ông ta sai khiến và chống lại vua là điều sai trái.

Đến năm 1861 một người Anh khác là ông John Stuart Mills đã nghiên cứu viết ra cuốn khảo luận về Chính thể đại diện hiện nay cũng mới được xuất bản ở Việt Nam.

Theo ông John Stuart Mills thì chính quyền đúng là thuộc về nhân dân, nhưng cách tổ chức chính quyền ra sao cho khả thi cái việc dân được quyền làm chủ thì phải thông qua hệ thống đại diện, tức là cái tổ chức bây giờ được gọi là Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Những điều trên đây nhằm ý nói rằng ở Châu Âu từ lâu người ta đã suy tư về các quyền của người dân trong tương quan với chính quyền nên đã hình thành lên học thuyết giúp hiểu về mô thức thành lập các chính quyền chính đáng để quyền con người, quyền công dân được bảo vệ.

Chủ nghĩa thực dân

Trong khoảng 400, 500 năm các nước Châu Âu đi xâm chiếm các vùng thuộc địa trên khắp thế giới, trong đó thực dân Anh đã chiếm được một hệ thống thuộc địa rộng khắp. Chẳng thế mà có câu nói ‘Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh’.

Nhưng không phải toàn bộ quá trình xâm chiếm chỉ là hành động bạo ngược vô nghĩa mà các nước thực dân cũng đã kịp hình thành lên những luận thuyết chứng minh cho tính chính đáng cho hành động xâm lược và cai trị của mình.

Đi xâm chiếm và cai trị nước khác liệu thì có chỗ nào là chính đáng?

Có thể hình dung là khi người Anh đem quân xâm lược Ấn Độ khoảng những năm 1850 họ đã chứng kiến đời sống nghèo khó cơ cực của người dân Ấn và sự tàn bạo của vương triều Ấn Độ.

Điều đó hoàn toàn khác biệt với nước Anh nơi mà vương triều bị hạn chế vương quyền và dân Anh có một mức độ quyền tự do lớn nhất thế giới lúc bấy giờ.

Cho nên lúc đó hẳn là có một sự thôi thúc về luân lý đạo đức trước tình cảnh của dân Ấn và người Anh biết nguồn cơn từ đâu.

Mối quan hệ bất cân xứng giữa chính quyền và người dân cái mà bên Anh họ đã hiểu ra và thay đổi từ lâu là nguyên nhân khiến người dân cơ cực.

Nó giống như chính quyền Taliban hay IS hiện nay và cách mà họ cai trị xã hội.

Ở bối cảnh như vậy việc xâm chiếm và đô hộ lại có được lý do chính đáng.

Khi người Anh thay thế vương triều Ấn Độ cai trị dân Ấn thì người Anh đã sao chép các thiết chế cai quản bên chính quốc ở một mức độ nguyên bản nào đấy cho phù hợp với tình trạng của dân bản địa.

Điều này vừa giúp người Anh cai trị, vừa giúp dân Ấn được khai sáng. Việc làm của người Anh chính là nhen nhóm và lên men cho những suy tư mới trong dân chúng về tính cách chính đáng của chính quyền trong tương quan với dân chúng.

Và khi họ ra đi thì giá trị của những thiết chế vẫn còn, nó đã thấm vào suy nghĩ của người dân và từ đó họ biết đòi hỏi về cách hành xử dân chủ của chính quyền mới.

Ở đây cũng phải hiểu một điều là việc người Anh cai trị các thuộc địa như thế nào đều được luận bàn mổ xẻ trách nhiệm ở Nghị Viện bên Anh Quốc.

Và ngay cả vấn đề giao trả độc lập cho các thuộc địa cũng là cái đã được bàn đến cả trăm năm trước khi điều đó xảy ra, trong sự luận bàn tính toán đó có cả tính thiện lương và khoa học.

Ông John Stuart Mills trong cuốn Chính thể đại diện viết năm 1861 đã phân tích nêu ra những nước mà Anh Quốc cần trả độc lập tự do vì tình trạng dân chúng nơi đó đã chín muồi cho việc thiết lập chính thể đại diện, đó là thuộc địa tại châu Mỹ và châu Úc.

Ông cũng phê phán những suy nghĩ cai trị thiếu trách nhiệm hay thói quen thích áp chế người khác. Ông viết:

“Nước Anh giống như một người anh lớn tuổi hơn mà kém giáo dục, cứ ngoan cố áp chế những người em ít tuổi hơn chỉ đơn thuần theo thói quen, cho đến lúc một trong những người em ấy, bằng một cuộc kháng cự đầy anh dũng, dù với sức mạnh kém hơn, đã khiến cho người anh nhận ra phải chừa đi.”

Về việc trả tự do cho thuộc địa ông viết:

“Nước Anh không có các thuộc địa vẫn hoàn toàn có thể tự vận hành được. Và tuy dựa trên mọi nguyên tắc của đạo lý và công bằng thì nước Anh nên tán thành tách ra khỏi các thuộc địa, thời điểm đó có lúc rồi sẽ phải đến.”

“Sau khi đã thử đầy đủ hình thức liên minh tốt đẹp nhất và các nước thuộc địa đã cân nhắc kỹ lưỡng việc mong muốn được chia cắt – thì vẫn có những lý do mạnh mẽ để duy trì mối liên kết mong manh trong chừng mực nó còn chưa gây khó chịu cho cảm nhận của bất cứ bên nào.”

“Đó là bước đi hướng đến hòa bình thế giới và hợp tác hữu nghị chung giữa các quốc gia.”

Bài học từ người Anh

Nhiều người đã chỉ ra rồi rằng người Pháp ngoan cố giữ quyền cai trị thuộc địa nên đã gây chiến tranh ở Việt Nam, điều này cho thấy người Pháp thiếu tầm nhìn so với người Anh.

Cho nên số phận Việt Nam đã rất khác so với Singapore và Ấn Độ.

Nhưng chuyện cũ không thay đổi gì được, song liệu chuyện cũ có giúp ích gì được bài học cho hiện tại không?

Hiện có ý kiến nói đa đảng là xu thế tất yếu và điều này sớm muộn cũng xảy ra.

Không biết chính quyền có thừa nhận điều đó không, hay là bác bỏ?

Người Pháp đã để lại bài học về sự ngoan cố không chịu thừa nhận cái tất yếu.

Trong khi người Anh cho bài học về tầm nhìn xa, thay vì chống lại cái không cưỡng được thì có lộ trình phương án B cho việc chuyển giao hòng đảm bảo quyền lợi về sau.

Tùy vào cách hành xử của chính quyền sẽ cho thấy bài học nào từ quá khứ được lặp lại.

Bài viết thể hiện quan điểm của luật sư Ngô Ngọc Trai, từ văn phòng luật Công Chính, Đống Đa, Hà Nội.