Hộ Khẩu: Một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc

 

Giới thiệu

Bài viết này được thực hiện với mục đích cho người Việt Nam thấy được sự vô lý, ngu ngốc và độc hại của chính sách hộ khẩu. Đây không phải là bài viết đầu tiên viết về Hộ Khẩu. Nhưng theo nhận xét của tôi, cách viết văn của người Việt quá rườm rà, dài dòng, lòng vòng, không đi thẳng vấn đề và khó hiểu. Bài viết này sẽ không đi lòng vòng mà sẽ vô thẳng vấn đề.

Nếu phải chọn một biểu tượng của sự đỉnh cao trí tuệ của các nước chủ nghĩa xã hội thì tôi xin chọn sổ Hộ Khẩu. Không có một thứ nào ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Việt Nam, nhất là những người sống xa quê, thường xuyên bằng sổ Hộ Khẩu.

Tôi biết vài bạn học trường Cảnh Sát Nhân Dân. Tôi hỏi các bạn ấy và vài người làm Công An sổ Hộ Khẩu là gì. Kết quả là không một ai có thể giải thích hay có câu trả lời ngắn ngọn. Những người được nhà nước giao trách nhiệm quản lý Hộ Khẩu còn không biết nó là gì nữa.

Không ai hiểu tại sao nó lại tồn tại, cũng không ai giải thích một cách logic nó tồn tại để làm gì. Nhưng nó vẫn tồn tại. Nó tồn tại để hành hạ người dân một cách vô lý và để làm công cụ kiếm ăn cho mấy anh chị Công An một cách phi lý. Mọi người không cần và không nên tin những gì tôi viết một cách tuyệt đối, các bạn có thể hỏi cha mẹ các bạn để biết thêm sự thật.


Hộ Khẩu là gì?

  1. Hộ Khẩu là một chính sách quản lý người dân theo địa phương được chính quyền trung ương phân chia.
  2. Ở Việt Nam, mỗi tỉnh và thành phố thuộc trung ương là một địa phương quản lý riêng.
  3. Mỗi tỉnh và thành phố trung ương có bộ hành chính riêng biệt để quản lý.
  4. Mỗi tỉnh và thành phố trung ương cấp và quản lý hộ khẩu riêng.
  5. Nói cho dễ hiểu. Việt Nam là một đất nước có 58 tỉnh và 5 thành phố thuộc trung ương. (5 thành phố đó là: Thành Phố Hồ Chí Minh/Sài Gòn, Cần Thơ, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng) Mỗi đơn vị là như một đất nước nhỏ với bộ hành chính riêng và trong trường hợp này, Hộ Khẩu riêng.
  6. Hộ Khẩu là một cái giấy (cuốn sổ) chứng minh người dân là người thường trú ở địa phương thuộc đơn vị hành chính đó.
  7. Hộ Khẩu được quản lý bởi Công An địa phương (phường, thị xã, thành phố, tỉnh).
  8. Nếu sổ hộ chiếu là vật chứng chứng minh 1 người dân là công dân Việt Nam. Sổ Hộ Khẩu cũng như là một vật chứng chứng minh 1 người dân ở địa phương có “địa phương tịch” ở địa phương đó.
  9. Nếu đi đâu, chuyển nơi cư trú hoặc tạm trú cũng phải tới đồn Công An để khai báo.
  10. Hiện tại nếu muốn có sổ Hộ Khẩu thì phải có nhà, không có thì xin nhập vô nhà nào đó.
  11. Muốn có giấy Chứng Minh Nhân Dân thì phải có Hộ Khẩu, không có Hộ Khẩu thì coi như không phải là một công dân Việt Nam theo pháp lý, nghĩa là một người vô quốc tịch.
  12. Mỗi nhà có 1 sổ Hộ Khẩu, người chủ nhà là người chủ Hộ Khẩu. Ai muốn nhập hay tách cũng phải có chữ ký của chủ hộ.

Có bao nhiêu nước trên thế giới quản lý người dân bằng Hộ Khẩu?

Hiện tại trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách Hộ Khẩu. 3 nước này cũng là 3 cường quốc về kinh tế và văn minh của nhân loại. 3 nước đó là: đại cường quốc Trung Quốc, tiểu cường quốc Việt Nam và siêu cường quốc Bắc Hàn.

Hộ Khẩu bắt đầu từ đâu?

  1. Dựa theo các chứng cứ lịch sử, Hộ Khẩu bắt đầu từ triều đình nhà Hạ bên Trung Quốc (2100 – 1600 Trước Công Nguyên).
  2. Khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc chiến thắng cuộc nội chiến Trung Quốc và thành lập chính phủ, chính sách Hộ Khẩu đã được tái sinh để quản lý nhân dân.
  3. Năm 1954 khi Đảng Cộng Sản Việt Nam dành chiến thắng Điện Biên Phủ và thành lập chính phủ ở miền Bắc sau Hiệp Định Geneva, họ đã áp dụng chính Hộ Khẩu trong việc cải cách ruộng đất và thực hiện kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.
  4. Sau 30/4/1975, Đảng Cộng Sản “giải phóng” miền Nam, chính sách Hộ Khẩu được áp dụng trên toàn quốc.

Vì sao Việt Nam lại dùng Hộ Khẩu?

  1. Việt Nam là một nước chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế chủ nghĩa xã hội.
  2. Hộ Khẩu dùng để phân chia lương thực trong thời bao cấp toàn quốc (1975-1986). Mỗi nhà được chia lương thực dựa theo chi tiết trong sổ Hộ Khẩu. Ví dụ: mỗi người được 100g gạo, nhà kia có 5 người, nhà đó được cấp/mua bằng tem phiếu 500g gạo. Tôi dùng gạo cho nó sang chứ thời đó dân Việt Nam ăn bo bo, khoai mì và bắp khô là chính.
  3. Đảng muốn hạn chế số người từ vùng nông thôn di dân ra thành thị nên đã áp dụng Hộ Khẩu để hạn chế sự đi lại và cũng để dễ kiểm soát hơn.
  4. Các thành viên của ban Tuyên Giáo Đảng Cộng Sản (Dư Luận Viên) luôn cho rằng sổ Hộ Khẩu là điều cần thiết để quản lý tội phạm, đây là một điều phi lý. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng Hộ Khẩu, còn những nước còn lại thì loạn hết?
  5. Hộ Khẩu được áp dụng để quản lý người dân theo cơ chế của một chế độ độc tài toàn trị.
  6. Nó khóa chân người dân vào mỗi địa phương, cho phép Công An theo dõi và quản lý từng bước một.
  7. Hiện tại, chính sách Hộ Khẩu là một công cụ kiếm ăn chính của Công An, nhất là ở các thành phố lớn, nơi thu hút lao động ngoại tỉnh tới làm việc. Cứ mỗi lần tới làm giấy tạm trú, KT3 là tốn vài chục vài trăm. Lấy vài chục vài trăm nhân lên cho vài ngàn trường hợp thì doanh thu của Công An từ việc chạy chọt giấy tờ này là bao nhiêu?

Vì sao Hộ Khẩu là một chính sách vô lý?

  1. Đã là người Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam thì tại sao phải phân chia ra từng địa phương làm gì?
  2. Đã là công dân Việt Nam, đi đâu làm gì là quyền tự do cơ bản của mỗi người. Tại sao phải khai báo với Công An?
  3. Mỗi lần chuyển địa phương sinh sống, thay đổi hộ khẩu là một hành trình vô cùng gian khổ. Mấy anh chị Công An hành tới hành lui, phải phong bì vài trăm và triệu mới xong chuyện. Còn nếu chuyển vô 1 trong 5 thành phố trung ương thì cả chục triệu trở lên.
  4. Tất cả các chế độ phúc lợi xã hội được quản lý phân chia theo từng địa phương. Ai ở đâu thì làm việc với địa phương đó. Một người Lạng Sơn chỉ được hưởng phúc lợi công ở Lạng Sơn, còn nếu chuyển qua địa phương khác thì không được gì, vì địa phương đó không chịu trách nhiệm.

Chính sách hộ khẩu tác động thế nào tới quyền con người và quyền công dân của bạn?

  1. Hạn chế quyền đi lại tự do.
  2. Vi phạm quyền không bị phân biệt đối xử.
  3. Vi phạm quyền an cư.
  4. Vi phạm quyền được hưởng anh sinh xã hội.

Tác động của chính sách hộ khẩu đối với nền kinh tế:

  1. Làm phát sinh các thủ tục, giấy tờ không cần thiết.
  2. Làm tốn tiền của, thời gian của người dân và doanh nghiệp.
  3. Dễ phát sinh tiêu cực, hối lộ.
  4. Làm giảm lòng tin của người dân và chính quyền.
  5. Người dân dễ bị nhà nước sách nhiễu.

Sổ Hộ Khẩu cần thiết khi làm việc gì?

Người dân Việt Nam muốn làm bất cứ một điều gì liên quan tới thủ tục hành chính cũng cần cái Hộ Khẩu (hoặc tạm trú dài hạn KT3). Sau đây chỉ là vài ví dụ:

  1. Cho con đi học trường công.
  2. Xin việc ở các cơ quan nhà nước địa phương.
  3. Làm giấy Chứng Minh Nhân Dân.
  4. Làm Hộ Chiếu.
  5. Đăng ký kết hôn.
  6. Làm giấy khai sinh cho con.
  7. Đăng ký mua xe. Campuchia nghèo xác sơ mà người dân mua xe bất cứ nơi đâu cũng đăng ký xe chính chủ. Không lẽ Việt Nam thua kém cả Campuchia?
  8. Đăng ký tham gia đầu tư cổ phiếu.
  9. Mua bảo hiểm ý tế công (và vài bảo hiểm tư nhân).
  10. Mua nhà. Tôi mua nhà ở đâu thì liên quan gì tới sổ Hộ Khẩu?
  11. Vay tiền ngân hàng.
  12. Làm sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sở hữu đất).
  13. Thi bằng lái xe. Tôi chưa biết nước nào cần sổ Hộ Khẩu cả.
  14. “Xin” giấy phép kinh doanh.
  15. Tham gia các giải thế thao (taekwondo, Vovinam, Karate, vân vân)

21 câu chuyện khôi hài và bi ai của người dân Việt Nam về Hộ Khẩu

Sống trong một đất nước có những chính sách phi lý, điển hình là chính sách Hộ Khẩu, người dân Việt Nam đã quá quen với sự phi lý này mà không thấy được sự phi lý của nó. Sổ Hộ Khẩu đã làm khổ mỗi con người Việt Nam trực tiếp và gián tiếp hàng ngày. Những chuyện sau đây là hoàn toàn có thật, mời các bạn đọc và mong các bạn nhìn thấy sự phi lý của sổ Hộ Khẩu.

1. Một cặp vợ chồng ngoài tỉnh đã vào Sài Gòn ăn học và có công ăn việc làm ổn định. Giờ có đủ khả năng mua nhà trả góp. Khổ nổi là khi tới ngân hàng thì họ đòi KT3 (hoặc Hộ Khẩu TP Hồ Chí Minh). Từ nhỏ tới lớn họ chưa bao giờ biết về mấy quy định này. Thế là họ hỏi bạn bè, cuối cùng tốn 3.5 triệu cho 1 anh Công An để anh ta làm giấy KT3 giả. 3.5 triệu là gần bằng một tháng lương công nhân, để đổi lấy một cái giấy mà họ không hiểu tại sao họ phải cần.

2. Một cặp vợ chồng công nhân vào Sài Gòn làm công. Có con, muốn con học trường công (vì tiền đâu mà học trường tư?). Không có cách nào khác, họ đành tới đồn Công An khu vực để chạy sổ KT3, tốn 4 triệu.

3. Một cô sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm ở Sài Gòn. Được sở phân đi dạy ở trường cao đẳng trong thành phố. Sau 3 tháng dạy, hiệu trưởng đòi cô ta trình hộ khẩu thành phố Hồ Chí Minh, nếu không có sẽ đuổi ra khỏi biên chế. Cô ta ráng chạy chọt, cò Hộ Khẩu ra giá 25 triệu. Nhưng tiếc là chạy không kịp nên cuối cùng bị đuổi việc vì không có Hộ Khẩu Thành Phố Hồ Chí Minh. Có cái nước nào như nước này không?

4. Một cặp vợ chồng cùng tốt nghiệp trường sư phạm ở Sài Gòn. Về quê đi dạy cũng phải tốn tiền chạy cả trăm triệu. Cuối cùng quyết định chạy Hộ Khẩu Thành Phố Hồ Chí Minh tốn 50 triệu để đủ giấy tờ đi dạy ở một trường Sài Gòn.

5. Một bạn trẻ tham gia môn taekwondo (và các môn khác như Vovinam, Karate) ở tỉnh ABC, ban tổ chức không cho phép với lý do “không có Hộ Khẩu ABC”. Thể thao Thái Lan đang phấn đấu để vượt lên cùng châu lục và tham vọng chinh phục thế giới. Trong khi đó, các nhà tổ chức thể thao ở Việt Nam còn hỏi “con có hộ khẩu không?”. Chưa thấy cái nước nào làm thể nào mà ngu đần như nước này. Tới bây giờ còn làm thể thao theo sổ Hộ Khẩu, hỏi sao thế thao nước này vẫn dậm chân tại chỗ. Nếu các bạn chưa biết, các giải thể thao phong trào và thành tích ở nước ngoài hầu hết là mở rộng, ai cũng có thể tham gia, chẳng ai hỏi Hộ Khẩu anh là gì.

6. Một bạn bất đồng chính kiến (đảng gọi là phản động) đi thăm một người bạn ở tỉnh khác. Nửa đêm công an gỏ cửa để “kiểm tra giấy tờ tạm trú tạm vắng”. Mấy trường hợp này thì những bạn nào hoạt động xã hội dân sự, chính trị ở Việt Nam đã bị quá nhiều lần. Công An không cần giấy phép của tòa án, muốn tới kiểm tra tạm trú tạm vắng là tới.

7. Một chủ đầu tư nhà nghỉ nói với ông bạn khi biết ông này muốn đầu tư mở nhà nghỉ: “Vậy để tui đưa ông số điện thoại của thằng công an này. Anh mở nhà nghỉ mà không lót tiền cho tụi nó, nó không duyệt giấy phép đâu. Hàng tháng mà không cà phê cà pháo thì nó hứng lên là nửa đêm gỏ cửa đòi kiểm tra tạm trú tạm vắng của khách là khách chạy đi hết.

8. Một anh thanh niên đi phượt, ngủ qua đêm ở một nhà nghỉ ở quốc lộ 1 A ở tỉnh Đồng Nai. Bất chợt có tiếng gỏi cửa “chị ơi cho kiểm tra tạm trú tạm vắng”. Ông chồng liền nói với bà vợ “em lấy 300k đưa cho nó đi, phiền quá”.

9. Một chú Việt Kiều Mỹ đã về hưu, nay về Việt Nam để dưỡng già. Ổng muốn mua căn nhà. Cái anh môi giới nói ổng cần hộ khẩu. Mà không có nhà thì phải nhập. Ổng đi tới luật sư trình bày vấn đề. Ngày hôm sau anh luật sư gọi điện nói: “Tụi công an muốn 20 triệu tiền cà phê, em thương lượng lắm rồi đó anh.” Về hưu mà còn bị hành đấy.

10. Một anh thanh niên quê ở tỉnh vô Sài Gòn lập nghiệp. Vì không có hộ khẩu Sài Gòn nên phải nhờ người khác đứng tên chiếc xe. Biết là phiền nhưng biết sao bây giờ. Quê thì xa, không có thời gian về. Không lẽ mua xe rồi xách xe về quê đăng ký?

11. Chị họ tôi sau khi đám cưới, đăng ký kết hôn thì 2 bên gia đình mua cho một căn nhà ở cùng thành phố, chỉ khác phường. Vậy mà khi tới Công An cắt Hộ Khẩu cũ và làm Hộ Khẩu mới cũng tốn 3 triệu. Nhắc lại, cùng thành phố, chỉ khác phường.

12. Thời hậu 1975, có vô số người di dân từ miền trung vô nam không mang theo gì cả. Nghĩa là họ không có giấy tờ để chứng minh họ là ai. Không có Hộ Khẩu đồng nghĩa với họ không phải là công dân Việt Nam. Tôi không biết có bao nhiêu người như vậy nhưng theo tôi thì quá nhiều, nhất là những lao động ở những xóm nghèo ở Sài Gòn.

13. Một cặp vợ chồng bức xúc vì không làm giấy khai sinh cho con được với lý do: “Cô vợ chưa nhập Hộ Khẩu vào nhà chồng.”

14. Một gia đình kia có mảnh đất trống sát bên nhà mình. Đám cưới con cái họ xây thêm 1 căn nhà nữa kế bên cho vợ chồng ở. Công An kêu phải làm sổ Hộ Khẩu vì địa chỉ nhà mới riêng biệt với nhà cũ. Vòng vo hơn 1 tháng, cuối cùng tốn 5 triệu tiền cà phê mới có sổ Hộ Khẩu cho nhà mới. Lúc đó mới được gắn điện và nước.

15. Một bà mẹ tới một trường công ở Hà Nội đăng ký cho con đi học, ông hiệu trưởng nói vì không có Hộ Khẩu khu vực nên cứ đưa 4 triệu là ổng cho qua. (4 triệu là một tháng lương của một lao động phổ thông, bạn tưởng tưởng đi làm 1 tháng trời để lót tiền cho con được đi học, cảm giác đó sẽ ra sao).

16. Chuyện của (nghệ sĩ) Thành Lộc. Thời bao cấp anh ta ở chung nhà với chủ hộ. Chủ hộ đi xuất cảnh đoàn tụ gia đình. Chính quyền địa phương nói chủ hộ đi đồng nghĩa với tất cả tài sản đều giao cho chính quyền giải quyết, căn nhà cũng vậy. Anh ta và người thân vẫn ở đó nhưng ở thuê trên chính căn nhà của mình.

17. Trong những năm 2000, giới sinh viên còn có “tệ nạn” lấy nhau vì cái hộ khẩu vì có nhiều công ty khi tuyển nhân viên họ lại yêu cầu có có hộ khẩu tại Sài Gòn. Lý do thì nhiều nhưng chính nhất là vì: làm bán hàng nên cầm tiền của công ty, nếu ở tỉnh thì khó xác minh và mất thời gian. Những trường hợp ôm tiền công ty rồi bỏ trốn cũng rất khó khăn để thu hồi. Công ty mình làm hồi 2005 có 1 bạn giao hàng do thiếu nợ bên ngoài nên ôm 1 cục gần 100 triệu bùng mất, công ty không cách nào.lấy lại được dù đã báo Công An.

18. Một anh du học sinh sau 4 năm học trở về nước và chuẩn bị hồ sơ tìm việc làm. Lúc đó gia đình mới nói là Công An đã cắt cắt Hộ Khẩu vì đã anh ta đã đi hơn 2 năm. Muốn nhập lại thì phải chứng minh anh ta là con của chủ hộ. Phiền quá nên tới Công An đưa anh Công An 2 triệu để giải quyết êm đẹp. Chính sách thu hút nhân tài về nước của Việt Nam đấy.

19. Một anh chủ đầu tư nhà trọ loại cao cấp than phiền: “Tao ghét nhận khách nước ngoài lắm. Mỗi lần tụi Công An biết có người nước ngoài tới thuê là tụi nó tới vòi tiền với lý do người nước ngoài không được ở lâu, phải khai tạm trú tạm vắng mỗi ngày. Tao không quan tâm, vì chi phí đó tụi nước ngoài trả gián tiếp qua tiền trọ, nhưng tao ghét tụi Công An hay tới chỗ trọ đòi tiền cà phê. Nhiều lúc tụi nó đi nhậu kêu tao ra nhậu chung, biết chuyện nên mỗi tháng tao tới nộp 2-3 triệu để tụi nó khỏi làm phiền tao nữa. Kinh doanh ở xứ này là phải chơi theo luật rừng nào cọp nấy mày ơi.”

20. Một cặp cha mẹ vì quá bất mãn với chất lượng giáo dục ở trường công trong khu vực, và cũng không đủ tiền để cho con học trường tư nên tìm cách cho con nhập Hộ Khẩu vào nhà người thân ở khu vực có trường tốt hơn. Tốn 20 triệu. Cha mẹ đã đi làm đóng thuê, muốn gửi con mình đi đâu thì đó là quyền của họ. Nhà trường cũng có quyền chấp nhập hay không. Chuyện học hành của người Việt Nam tới giờ này vẫn còn phụ thuộc vào sổ Hộ Khẩu thì làm sao khá nổi?

21. Một người bạn học cùng lớp cấp 3 với tôi, vì bố mẹ anh ta bán nhà đi ở trọ, cho nên không có hộ khẩu. Thế là học xong cấp 3 anh ta không thể thi vào trường đại học nào được, vì trong hồ sơ dự thi bắt buộc phải có giấy chứng minh nhân dân, mà muốn có giấy Chứng Minh Nhân Dân thì phải có hộ khẩu. Thế là anh ta buộc phải đi làm thuê suốt 3 năm, mặc dù học cũng thuộc diện khá. Trong suốt 3 năm đi làm thuê, gia đình anh ta phải chạy vạy khắp nơi để xin cho anh ta được nhập khẩu vào một nơi nào đó, nhưng do gia đình không có người thân thích, cho nên phải 3 năm anh ta mới nhờ được người cho ké vào sổ hộ khẩu. Cũng may sau đó anh ta thi đỗ đại học, và bây giờ trở thành giáo viên.

Và đó là những điều bạn cần biết về sổ Hộ Khẩu. Hy vọng càng ngày càng nhiều người sẽ nhận ra sự vô lý, ngu ngốc và khôi hài của nó. Chỉ khi người dân Việt Nam bước chân ra khỏi Việt Nam, họ mới biết được đất nước Việt Nam vô lý đến mức nào, điển hình là sổ Hộ Khẩu.

@ Thanientudo

Tác hại ghê gớm đối với đất nước trong quá trình cướp và giữ quyền lực của Đảng CSVN (3)

Trần Quí Cao

Pano đặt ở vĩ tuyến 17 phân chia hai miền Nam và Bắc. Ảnh: tạp chí Life.

Bài 3: Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

3A: Hai Miền Nam Bắc sau Hiệp Định Genève

Sau trận chiến Điện Biên Phủ, hiệp định Geneve được ký kết mang lại hòa bình cho Đông Dương. Kể từ đó:

1) Việt Nam tạm thời chia ra 2 nước

2) Phía Bắc sông Bến Hải là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tổ chức chính trị xã hội theo hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa (Cộng Sản) dưới quyền cai trị của ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam

3) Phía Nam sông Bến Hải là nước Việt Nam Cộng Hòa tổ chức xã hội theo hệ thống Tư Bản Chủ Nghĩa (Tự Do) với hệ thống tam quyền phân lập trong đó quyền lập pháp thuộc về Quốc Hội lưỡng viện do dân trực tiếp bầu ra.

4) Mỗi bên tự xây dựng đất nước của mình trong hòa bình, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất tổ quốc Việt Nam.

Mục tiêu của Hiệp Định là mang lại hòa bình cho Đông Dương, và cho người dân Việt có cơ hội tiếp xúc, thực thi việc xây dựng các kiểu chính thể và tìm hiểu kiểu chính thể nào hiệu quả hơn cho đất nước. Sau đó, chính người dân sẽ chọn lựa chính thể cho mình bằng một cuộc bỏ phiếu minh bạch.

Trước khi việc chia cắt được thực thi triệt để, có một khoảng thời gian giành cho người dân hai miền tự do di chuyển tìm đến nơi mình muốn sống. Chính quyền không được ngăn cản mà phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển này.

Miền Nam đã tuân thủ hiệp định. Các cán bộ theo Cộng Sản đang ở miền Nam có những điểm tập kết an toàn để được chuyển ra miền Bắc. Những cán bộ thời chiến tranh nay không muốn theo Cộng Sản nữa thì được ở lại miền Nam mà không chịu sự phân biệt, kì thị nào. Họ vẫn được làm việc sinh sống, con cái họ vẫn được đi học bình thường. Người dân miền Bắc không chấp nhận chế độ Cộng Sản di cư vào miền Nam được chính quyền tiếp nhận và tổ chức định cư chu đáo. Chính quyền bắt tay xây dựng các chương trình quốc kế dân sinh. Hệ thống giáo dục, chương trình giảng dạy từ tiểu học tới đại học… được nâng tầm với sự cố vấn của các nước tự do. Sự trao đổi văn hóa giáo dục khoa học với Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Úc… nở rộ. Dân chúng được hưởng nền giáo dục phổ cập tới lớp 9 (nghĩa là trẻ em đi học do chính phủ đài thọ, gia đình không phải trả bất kì chi phí giáo dục nào). Đây là một hệ thống giáo dục tiến bộ so với các nước châu Á thời đó. Hệ thống y tế liên hoàn và tương đối hoành chỉnh bao phủ các tỉnh và thành phố. Tại Sài Gòn những bệnh viện công và tư khang trang bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế đạt tiêu chuẩn cao so với châu Á. Các bệnh viện công, mà người dân gọi là nhà thương thí vì không phải trả tiền (như Chợ Rẫy, Bình Dân…) cũng sạch đẹp mà không có tình trạng một giường hai bệnh nhân… Những kế hoạch kinh tế như Khu Công Nghiệp tập trung Nhà Bè (mà nếu không có chiến tranh đã trở thành một kiểu như Khu Chế Xuất Tân Thuận sau này, nhưng được tiến hành trước đó vài chục năm, đoạt tiên cơ phát triển so với các nước trong vùng), các vùng nông nghiệp chuyên canh… Cho tới cuối những năm 1950, trước khi cuộc chiến xâm lăng của miền Bắc vào miền Nam bùng nổ lớn, miền Nam vẫn còn xuất khẩu lúa gạo, nông sản, GDP/đầu người bằng 220% của Thai Lan, bằng 149% của Hàn Quốc. Nền kinh tế Việt Nam đầy triển vọng với giá trị đồng tiền vững vàng… Các giá trị sống đạo đức được tôn trọng…

Một cuộc sống hậu chiến thanh bình đầy đủ điều kiện phát triển…

Miền Bắc thì không như vậy. Rất nhiều người dân người dân miền Bắc muốn vào Nam sinh sống, nhưng chính quyền Cộng Sản đã dùng nhiều biện pháp ngăn chặn. Do chính quyền Cộng Sản chưa nắm được toàn bộ miền Bắc, hơn nữa đang có sự hiện diện của các quốc gia kiểm soát đình chiến, nên hơn một triệu người đã thoát được vào Nam. Kẻ ở lại bị kì thị triệt để. Miền Bắc còn tổ chức cho các cán binh của họ tại miền Nam chôn vũ khí tại các nơi bí mật, ở lại miền Nam theo chính sách điều lắng, mai phục chờ ngày tiến công.

Khi “Bức Màn Tre” buông xuống trên miền Bắc, mọi khuynh hướng nghiêng về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tinh thần pháp trị… bị đàn áp triệt để. Chiến dịch “Trăm Hoa Đua Nở” bỏ tù và bức tử nghề nghiệp hàng loạt các nhà báo, nhà văn hóa có tư tưởng cách tân, có tinh thần tự do học thuật, tranh luận. Đây thực chất là một chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất” trong lãnh vực văn hóa, tư tưởng.

Từ đó về sau, miền Bắc chỉ có một đảng lãnh đạo: đảng Cộng Sản Việt Nam, một thần tượng: ông Hồ Chí Minh, một lập luận tuyên truyền: lập luận của ban Tuyên Huấn, một lẽ sống: chiến đấu dưới lá cờ đảng Cộng Sản Việt Nam, một lẽ phải: tất cả những ai không theo đường lối của đảng Cộng Sản Việt Nam đều là kẻ địch…

Tất cả đã được chuẩn bị cho một cuộc chiến lâu dài.

Nhiều người tiên đoán cuộc Tổng Tuyển Cử chưa chắc được tổ chức như qui định trong hiệp định Genève. Và trong thực tế, vì nhiều lý do, cuộc Tổng Tuyển Cử đã không được tiến hành.

Bộ máy tuyên truyền cho cuộc chiến của đảng Cộng Sản Việt Nam trên miền Bắc, vốn đã hoạt động âm thầm, nay mở hết công suất theo một cách thức toàn trị, nghĩa là tất cả báo chí, đài phát thanh cùng hệ thống tuyên truyền ngày đêm phát ra cùng một giọng điệu:

1) Chế độ miền Nam không tuân thủ hiệp định Genève, cản trở việc tổ chức Tổng Tuyển Cử

2) Mỹ là thực dân mới, thi hành chế độ thuộc địa mới tại miền Nam để khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân lực miền Nam

3) Chế độ miền Nam dâng miền Nam cho Mỹ

4) Chế độ miền Nam lê máy chém giết hại đồng bào yêu nước, bỏ thuốc độc giết tù chính trị…

5) Chế độ miền Nam thực chất là chính quyền Ngụy, là chế độ bán nước cho Mỹ, tiếp tay Mỹ đày đọa, bốc lột thậm tệ dân chúng miền Nam và biến họ thành nô lệ

6) vân vân…

Sau “Bức Màn Tre”, không một tin tức trung thực nào về đời sống ấm no và tiến bộ của miền Nam đến người dân miền Bắc. Chỉ có một chiều dối trá: dân chúng miền Nam đang sống đời nô lệ khổ đau, đang bị bốc lột cùng cực bởi chế độ Mỹ Ngụy, đang bị nô dịch bởi chế độ thực dân mới xấu xa nhất…

Do đó, miền Bắc cần Giải Phóng Miền Nam, giành độc lập cho miền Nam, cứu dân miền Nam khỏi kiếp nộ lệ đói nghèo…

Giải Phóng Miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước
Ôi xương tan máu rơi
Lòng hận thù ngất trời… (Lời ca khúc Giải Phóng Miền Nam)

Thế là miền Bắc, chưa kịp hưởng thanh bình mấy bữa, đã, với “lòng hận thù ngất trời”, dốc tất cả nhân lực và tài lực vào cuộc chiến xâm lăng miền Nam anh em hiền hòa. Trong thời đại phi cơ, hỏa tiễn, bom nguyên tử…, tuổi trẻ Việt Nam được đốc thúc “cầm gươm ôm súng xông tới”, đối đầu với các loại vũ khí tối tân của của đội quân hùng mạnh và văn minh nhất thế giới! Phải tiêu diệt kẻ thù miền Nam cho dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”!

Hàng triệu sinh mạng, trong đó đa số đang lứa tuổi thanh xuân, bị đốt cháy trong lò lửa chiến tranh. Hàng triệu con người “sinh Bắc tử Nam”, trở về quê trong quan tài hay bị mất tích trong chiến tranh, trở thành phế nhân trên quê hương tan nát, điêu tàn… để ngày 30/4/1975 những chiếc xe tăng T54 của quân miền Bắc húc đổ cổng sắt tiến vào dinh Độc Lập, tổng hành dinh của miền Nam. Các nhà lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam bước lên đài thống trị toàn bộ đất nước!

3B: Hậu Quả của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Dưới đây là các Hậu Quả dễ thấy của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước:

1) Đẩy dân tộc vào một cuộc chém giết khủng khiếp. Một phần rất lớn sinh lực của đất nước bị thiêu cháy trong lò lửa chiến tranh chống lại cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới. Các ước tính cho rằng khoảng 8-10 triệu sinh mạng bị cướp đi. Miền Bắc mất 5-6 triệu, miền Nam mất 3-4 triệu. Nếu so sánh với con số 58 ngàn lính Mỹ thiệt mạng trên chiến trường Việt Nam, chúng ta thấy hơn 99% số thương vong là của người Việt! Cuộc chiến này, dù được trang điểm dưới bất kỳ ngôn từ hoa mỹ nào, cũng không che đây được bản chất nội chiến.

2) Tàn phá toàn bộ nền kinh tế đất nước. Đẩy miền Nam Việt Nam từ phồn vinh xuống đói nghèo.

Đảng CSVN thường tuyên truyền rằng họ có công giải phóng dân chúng miền Nam khỏi đời nô lệ nghèo đói. Đây là một trong nhiều dối trá khủng khiếp của đảng CSVN mà người dân Việt Nam cần nói lên sự thật.

Tác giả xin trình bày các số liệu sau:

GDP/đầu người (USD)

1960 1965 1970 1975
Nam Việt Nam 223 123 130 44
Thái Lan 101 192 138 351
Nam Hàn (Hàn Quốc) 155 279 106 608

Nguồn: List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita, Wikipedia

Năm 1954, Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến với Hiệp Định Genève. Miền Nam Việt Nam bắt tay kiến thiết xã hội, phát triển kinh tế, và tới năm 1956 thì kinh tế Nam Việt Nam bắt đầu tăng trưởng dương. GDP/đầu người năm 1960 cho thấy kinh tế miền Nam Việt Nam phồn vinh hơn hẳn Thái Lan và Nam Hàn (223 USD so với 101 USD của Thái lan và 155 USD của Nam Hàn). Tại châu Á, nếu tính theo GDP/đầu người, miền Nam Việt Nam chỉ thua có Nhật (479 USD), và gần với Mã Lai (299 USD), hơn hẳn Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Hàn…

Khoảng năm 1957, miền Bắc phát động cuộc chiến xâm lấn miền Nam, bắt đầu với chiến tranh du kích. Năm 1960 Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam được thành lập, chiến tranh càng lan rộng. Từ năm 1964, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam bảo vệ Tự Do (1965), đảng Cộng Sản Việt Nam gia tăng cường độ chiến tranh và toàn bộ miền Nam trở thành bãi chiến trường.

Rất tương ứng với các biến chuyển của thời cuộc chiến tranh, GDP/đầu người các năm 1965, 1970 và 1975 cho thấy kinh tế miền Nam Việt Nam biến chuyển từ phồn vinh trở thành yếu kém rồi rất yếu kém so với Thái Lan và Nam Hàn. Từ gấp đôi Thái Lan năm 1960 thành một phần tám của Thái Lan năm 1975. Từ gấp rưỡi Nam Hàn năm 1960 thành ít hơn một phần mười ba của Nam Hàn năm 1975.

Cuộc chiến tranh Giải Phóng Miền Nam rõ ràng đã đẩy dân chúng miền Nam từ đời sống giàu có vào nghèo đói.

Thực ra, cuộc chiến đã tàn phá kinh tế toàn bộ đất nước. Nếu tính GDP/đầu người chung cho toàn bộ Việt Nam, gồm cả miền Nam và miền Bắc, thì năm 1960 con số ước tính là là 148 USD, năm 1970 là 120 USD và năm 1975 là 70 USD, chỉ bằng 50% so với năm 1960. Trong thời gian đó, Thái Lan phát triển 350%, Nam Hàn phát triển 400%!

3) Lòng chia rẽ đầy hận thù Quốc – Cộng được Cộng Sản Việt Nam đẩy lên tột đỉnh. Hai thành phần của một dân tộc biến thành Ta với Địch, thành kẻ thù hay thậm chí kẻ tử thù của nhau. Không ai có quyền theo lý tưởng Tự Do, bởi vì tất cả những người không đồng ý theo miền Bắc, theo ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa đều bị qui là thành phần bán nước cần phải tiêu diệt.

4) Cuộc chiến nhiều lần tàn phá các thành phố lớn, gieo rắc vào dân tộc tính độc ác man rợ. Cuộc tổng nổi dậy Mậu Thân thực chất là một cuộc vi phạm thỏa thuận ngừng bắn giữa hai phe tham chiến, trong đó phe Cộng Sản lật lọng và tiến công miền Nam giữa lúc thỏa thuận ngừng bắn để dân chúng đón Tết cổ truyền vẫn còn hiệu lực. Trận chiến Tết Mậu Thân là cuộc thảm sát giữa người Việt theo phe miền Bắc đối với người dân miền Nam. Riêng tại Huế, cả thành phố phải chít trắng khăn sô: những kẻ cầm súng theo Cộng Sản đã giết trên 5.000 thường dân không phương tiện tự vệ! Con số nạn nhân đã kinh hoàng, cách thức và tính dã man của việc giết người càng kinh hoàng hơn!

5) Việt Nam mất đi các đảo trong quần đảo Hoàng Sa về tay Trung Cộng. Khi cuộc chiến lên cao độ, khi toàn bộ sinh lực miền Nam phải dồn vào chống trả cuộc xâm lăng của miền Bắc, Trung Cộng, nước đồng minh viện trợ vũ khí, lương thực để miền Bắc tấn công miền Nam, tiến chiếm các đảo Hoàng Sa của miền Nam. Chính phủ miền Nam kiên quyết đánh trả. Do cùng lúc phải chống trả hai cuộc chiến, cuộc chiến trên đất liền do miền Bắc tiến công và cuộc chiến ngoài biển do Trung Cộng tấn công, miền Nam thất bại trước Trung Cộng. Đây là bước ngoặc bi thảm cho dân tộc vì tạo đà cho Trung Cộng lần lượt chiếm các đảo khác của Việt Nam, lấy mất một phần lớn tài nguyên biển của Việt Nam và tạo gọng kiềm quân sự uy hiếp toàn bộ lãnh thổ đất liền của chúng ta sau này.

Trước việc xâm chiếm này, chính quyền miền Nam yêu cầu miền Bắc hợp tác cùng lên tiếng phản đối Trung Cộng trên các diễn đàn quốc tế thì miền Bắc im lặng. Trong khi đó họ tuyên truyền trong giới chiến binh của họ rằng Trung Cộng là đồng minh chí cốt,Trung Cộng chiếm Hoàng Sa là chiếm cho miền Bắc, chờ khi miền Bắc thắng miền Nam thì Trung Cộng sẽ trả các đảo đó lại cho nước Việt Nam thống nhất!

6) Việt Nam đã chống lại Mỹ, một siêu cường không có tham vọng xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam, một việc mà nhà chính trị xuất sắc của thời đại, ông Lý Quang Diệu cho là ngu ngốc. Lịch sử thế giới thời đó và tới tận bây giờ cho thấy các nước đồng minh của siêu cường này đều phát triển kinh tế xã hội vượt bậc. Trong khi đó Việt Nam lại buộc mình vào vòng lệ thuộc Trung Cộng, một quốc gia có tham vọng truyền kiếp xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia Việt Nam đồng thời nô thuộc dân tộc Việt, quốc gia đó sẽ trở thành siêu cường quân sự vài chục năm sau, và hiện đã/đang tiến hành xâm chiếm lãnh thổ đất liền và biển đảo của quốc gia Việt Nam.

6) Toàn bộ Việt Nam bị đặt dưới chính thể Độc Đảng và Toàn Trị, mở ra một thời kì nhiều bi thảm và bế tắc cho dân tộc. Chúng ta sẽ xem xét việc này trong bài 4 tiếp theo (Bài 4: Sự Lãnh Đạo Toàn Diện của Đảng Cộng Sản Việt Nam).

Tiếp theo cuộc Kháng Chiến 9 Năm Chống Pháp, Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước mang lại những tai họa khủng khiếp và lâu dài cho dân tộc như đã trình bày ở trên, và chắc hẳn rằng đa số người Việt Nam đã cùng nhìn thấy.

Nếu như Sự Cần Thiết của Cuộc Kháng Chiến 9 Năm Chống Pháp là đề tài còn được tranh cãi, thì Tính Phi Lý của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước đã được đa số đồng ý. Tác giả tin chắc rằng, nếu tiến hành một điều tra xã hội học một cách thực sự khoa học và độc lập, đại đa số ý kiến người dân cho rằng Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước vô nghĩa và tai hại. Tất nhiên, đảng Cộng Sản đương quyền không bao giờ dám tiến hành một công việc như vậy, và cũng không bao giờ cho phép các thành phần độc lập trong xã hội làm điều đó.

Trong lúc cuộc chiến nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn đang được đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân danh Chống Mỹ Cứu Nước, quyết tâm tiến hành, nhà lãnh đạo miền Nam, ông Ngô Đình Nhu, đưa ra nhận định:

Thực ra thì dù chính sách của Pháp có thiển cận, chúng ta cũng có thể đòi lại độc lập với ít tổn thất sinh lực hơn. Chính lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Sô và Trung Cộng đã khiến cho phe Cộng Sản Việt Nam chọn chiến tranh thay vì đấu tranh chính trị. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rõ ý đồ của Nga và Trung Cộng, thì có thể họ đã từ chối làm đồng minh với Cộng Sản như Ấn Độ.

Dù không đồng ý, chúng ta cũng thông cảm việc các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đồng minh với Nga Xô để giành độc lập. Nhưng sau đó, để lãnh đạo công cuộc phát triển đất nước, họ phải thoát khỏi vòng ảnh hưởng của hai khối Tự Do và Cộng Sản, nếu họ nhận thức rõ:

1) Thâm ý chiến lược của Nga và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản thực ra chỉ là một phương tiện tranh đấu của những Nga trước đây, và của Trung Cộng hiện nay.

2) Cần chấm dứt đồng minh với Cộng Sản khi không còn ích lợi cho dân tộc.

3) Đối với Việt Nam, Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cũng như Trung Hoa của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp.

Tai họa thay, các nhà lãnh đạo Bắc Việt đã không thoát ra khỏi ảnh hưởng đó, và Việt Nam biến thành chiến trường của tranh chấp Tự Do – Cộng Sản. Mâu thuẫn giữa hai khối, lẽ ra là cơ hội, biến thành tai họa tàn phá khủng khiếp sinh lực của đất nước! (Chính Đề Việt Nam. Ngô Đình Nhu. Phần III, Điều Kiện Nội Bộ).

Ông Ngô Đình Nhu tiên đoán:

Việt Nam đã ra ngoài vòng chi phối của Trung Hoa gần một thế kỉ. Nay, khi tự đặt mình dưới sự chi phối của Trung Hoa, các nhà lãnh đạo miền Bắc đã đặt dân tộc trước viễn cảnh khủng khiếp là lệ thuộc Trung Hoa, mà kinh nghiệm ngàn năm qua cho thấy thực là tàn khốc.

Hiện nay miền Bắc đang tiến hành xâm chiếm miền Nam. Sự tồn tại của miền Nam, dưới ảnh hưởng của khối Tự Do, có vai trò cực kì quan trọng: nó chưa cho phép Trung Cộng thống trị Việt Nam. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian. Vậy chúng ta bảo vệ miền Nam không chỉ cho miền Nam, mà còn giữ một lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần nữa (Chính Đề Việt Nam. Ngô Đình Nhu. Phần III, Điều Kiện Nội Bộ).

Từ đó ông Ngô Đình Nhu đề nghị:

Và vì vậy cho nên, chúng ta thành khẩn mong mỏi các nhà lãnh đạo miền Bắc, kịp thời nhận định đã đến lúc, vì sự tiến hóa của dân tộc, không còn nên tiếp tục sự trụ đóng vào phương tiện Cộng Sản nữa (Chính Đề Việt Nam. Ngô Đình Nhu. Kết Luận).

Đến nay đã hơn 55 năm kể từ ngày mất của hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, đã 40 năm sau ngày miền Bắc chiến thắng miền Nam. Khi đối chiếu những gì ông Nhu viết với các thực tế đã xảy ra từ đó tới nay, chúng ta ngạc nhiên vì mức độ chính xác của những lời tiên đoán. Với quan điểm không hề tôn sùng bất kì cá nhân nào, lãnh tụ nào, mỗi khi đọc lại tác phẩm Chính Đề Việt Nam của ông Ngô Đình Nhu, tác giả thấy rõ rệt, trên từng dòng chữ, kiến thức và tầm nhìn của một nhà chính trị có viễn kiến cùng tấm lòng thiết tha với vận mệnh lâu dài của đất nước.

Các nhà lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đưa dân tộc vào Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước vô nghĩa và thảm khốc, có tấm lòng này không? Có kiến thức và tầm nhìn này không?

Nếu nhìn lại tiến trình lịch sử, cùng các hậu quả của nó, Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước do đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo mang lại Hạnh Phúc hay Tai Họa cho đất nước?

Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước đưa Việt Nam tiến bước lên hàng ngũ các nước độc lập, giàu mạnh, văn minh hay đẩy Việt Nam vào vòng lệ thuộc, chậm tiến, suy thoái?

BỐN MƯƠI NĂM SAU CUỘC CHIẾN VIỆT NAM BÀI HỌC ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

 Trần Thạnh, PhD

Thấm thoát đã 40 năm kể từ ngày cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Khoảng thời gian dài đó dường như không đủ để hàn gắn lòng người ly tán. Tệ hại hơn, khoảng thời gian đủ dài cho bất cứ một đất nước bình thường nào cũng có thể vươn lên, lại phải chứng kiến một nước Việt Nam vẫn chìm đắm trong lạc hậu.

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (The World Bank)[1] thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) của Việt Nam vào năm 2013 là 1910 Mỹ kim, xếp Việt Nam vào hạng thứ 123 trong số 169 nước trên thế giới có số liệu thu thập. Trong khi đó thu nhập trung bình của các quốc gia được liệt vào hạng trung bình thấp (lower middle income) của thế giới là 2043 Mỹ kim, và thu nhập trung bình của tất cả các quốc gia trên thế giới là 10610 Mỹ kim .

Đại Hàn Dân Quốc (Daehan Minguk, 大韓民國, Republic of Korea, trong bài này sẽ gọi tắt là Hàn Quốc) là một đất nước trong khu vực, có lịch sử và văn hoá gần giống với Việt Nam. Về phương diện địa chính trị, Hàn Quốc nằm ở một vị thế không khác Việt Nam, nếu không nói là có phần bất lợi hơn: phía bắc và tây của bán đảo Triều Tiên là Trung Quốc, phía đông là Nhật Bản. Trong lịch sử, cả hai nước này đã từng nhiều lần xâm chiếm bán đảo Triều Tiên.

Sau cuộc chiến tàn phá đất nước từ năm 1950 đến 1953, Hàn Quốc trải qua một thời kỳ nghèo khó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Nhưng hiện nay đất nước này đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới. “Kỳ tích Hán giang” (Miracle of the Han River) là điều khiến cả thế giới ngạc nhiên và khâm phục. Vào thời điểm 40 năm sau khi cuộc chiến Hàn Quốc kết thúc, nghĩa là vào năm 1993, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 8869 Mỹ kim theo giá trị tiền tệ thời bấy giờ. Thu nhập trung bình của tất cả các nước vào lúc đó là 4653 Mỹ kim, trong khi trung bình của khối các nước có thu nhập cao nhưng không thuộc các nước phát triển (high income non-OECD countries) là 5477 Mỹ kim.[2]

Những con số trích dẫn bên trên là bằng chứng rõ ràng về sự thất bại của nhà cầm quyền Việt Nam trong 40 năm xây dựng đất nước trong thời bình (ngoại trừ một số năm chiến tranh cục bộ ở biên giới phía bắc và tây nam). Đã có những bài viết so sánh sự phát triển của Hàn Quốc và Việt Nam sau chiến tranh.[3] Bài viết này nhằm tìm hiểu sơ lược lịch sử đất nước Hàn Quốc, thu thập các dữ kiện góp phần trả lời hai câu hỏi:

1. Vì sao Hàn Quốc phát triển nhanh như vậy?

1-Các nước đang phát triển có thể học được bài học gì từ Hàn Quốc

Sơ lược lịch sử Hàn Quốc đến năm 1953

Hàn Quốc, Đại Hàn, Cao Ly, Triều Tiên là các tên gọi khác nhau của đất nước nằm trên một bán đảo nơi miền viễn đông của Á châu. Vương triều đầu tiên trên bán đảo này là Cổ Triều Tiên (Gojoseon, 古朝鮮) được thành lập từ hơn 2000 năm trước Công Nguyên. Trải qua một thời gian dài phân chia và chiến tranh, vương triều Cao Ly (Goryeo, 高麗) được thành lập năm 918. Goryeo hay Cao Ly là nguồn gốc của tên tiếng Anh “Korea” dành cho bán đảo Triều Tiên.[4] Tên của vương triều cũng được dùng làm tên của vương quốc.

Năm 1392, tướng Lý Thành Quế (Yi Seong-gye[5], 李成桂) lật đổ triều đại Cao Ly để thành lập vương triều Triều Tiên (Joseon, 朝鮮) hầu gợi lại triều đại cũ Cổ Triều Tiên. Đây là triều đại lâu dài và thịnh vượng nhất của đất nước này với sự phát triển đáng kể về văn học, nghệ thuật, kiến trúc, khoa học, giáo dục.[6] Trong triều đại này, Khổng giáo được coi là hệ tư tưởng chính thay thế cho ảnh hưởng thống trị của Phật giáo được phát triển mạnh dưới triều đại Cao Ly. Năm 1897 Triều Tiên được đổi thành Đại Hàn Đế Quốc (Daehan Jeguk,大韓帝國, Korean Empire), từ đó có tên Đại Hàn hay Hàn Quốc.

Từ năm 1910 đến năm 1945, Hàn Quốc là thuộc địa của Nhật Bản. Ngày 1 tháng 3 năm 1919, cuộc biểu tình ôn hoà khắp bán đảo Triều Tiên đòi độc lập bị Nhật Bản đàn áp dã man. Sau biến cố này, Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Triều Tiên được thành lập tại Thượng Hải, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại sự cai trị của Nhật.

clip_image004 Khánh Hội Lâu (Gyeonghoeru Pavilion, Royal Banquet Hall) trong Phúc Cảnh cung (Gyeongbok Palace). Ảnh do tác giả chụp ngày 21.08.2014.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh, bán đảo Triều Tiên bị chia đôi, phía bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô quản lý, và phía nam do Hoa Kỳ kiểm soát. Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) ra quyết nghị tổ chức tổng tuyển cử tại Hàn Quốc, dưới sự giám sát của LHQ. Vì Liên Xô từ chối sự giám sát này trên vùng đất phía bắc vĩ tuyến 38, việc bầu cử chỉ được tổ chức ở phía nam vào ngày 10 tháng 5 năm 1948. Đại Hàn Dân Quốc được thành lập với Tổng thống dân cử đầu tiên Lý Thừa Vãn (Rhee Syngman[7]). Một chế độ cộng sản do Liên Xô ủng hộ được thiết lập ở phía bắc, đó là nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Democratic People’s Republic of Korea), dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành (Kim Il-sung).[8]

Ngày 25 tháng 6 năm 1950 quân đội bắc Triều Tiên bất ngờ tấn công Hàn Quốc. Cuộc chiến kéo theo sự tham gia của lực lượng LHQ (do Hoa Kỳ lãnh đạo) để bảo vệ Hàn Quốc. Quân đội Trung Cộng chiến đấu trực tiếp bên cạnh quân đội bắc Triều Tiên, với sự ủng hộ của Liên Xô. Sau 3 năm 1 tháng, cuộc chiến kết thúc ngày 27 tháng 7 năm 1953. Hai bên trở lại với vĩ tuyến 38 chia đôi đất nước. Các bên tham chiến đưa ra con số tử vong khác nhau, nhưng điều không thể chối cãi là hằng triệu binh lính và thường dân cả hai bên thiệt mạng. Đất nước bị tàn phá thảm khốc.

clip_image006

Hình 3: Nạn nhân của chiến tranh. Nguồn www.archives.gov (US National Archives).

Những năm sau chiến tranh

Trong thời gian bị Nhật đô hộ (từ 1910 đến 1945), nền kinh tế của cả bán đảo Triều Tiên lệ thuộc hoàn toàn vào Nhật Bản, từ vốn liếng đến kỹ thuật và quản lý. Việc chia đôi đất nước mang lại hậu quả tai hại cho miền nam (Hàn Quốc). Trong khi dân số của Nam Hàn là 15,6 triệu người và của Bắc Hàn là 7,9 triệu (theo thống kê năm 1940) thì 92% nguồn sản xuất điện là từ các nhà máy ở miền bắc (do Nhật xây dựng trong thời gian chiếm đóng). Đa số các nguồn tài nguyên, các nhà máy kỹ nghệ nặng và hoá chất cũng nằm ở phía bắc.[9] Làn sóng di cư từ bắc vào nam[10] và việc hồi hương của những kiều dân Triều Tiên sống trên đất Nhật là nguyên nhân của nạn khan hiếm thực phẩm trầm trọng.

Thiệt hại gây ra bởi chiến tranh (nhà cửa, cơ sở vật chất, sản xuất, vân vân) lên đến 3 tỉ Mỹ kim, tương đương với GNP của cả hai năm 1952 và 1953. Hàn Quốc lúc đó là một trong những nước nghèo nhất thế giới, với thu nhập bình quân đầu người (GNP per capita) vào năm 1953 là 67 Mỹ kim.[11]

Thiệt hại về tinh thần trầm trọng không kém thiệt hại vật chất. Ước tính có khoảng gần 6 triệu người (khoảng 20% dân số vào thời điểm đó) thất lạc thân nhân. Vài thập niên sau, có vẻ như “Kỳ tích Hán giang” chữa lành bề mặt vết thương của cuộc chiến, nhưng vết thương trong tâm hồn vẫn dai dẳng, cho đến ngày hôm nay. Ngày 30 tháng 6 năm 1983 hầu như cả nước Đại Hàn rơi lệ khi Đài KBS phát sóng trực tiếp chương trình đoàn tụ với thân nhân bị thất lạc trong chiến tranh. Vượt ngoài dự kiến của Đài KBS, chương trình ban đầu được dự định phát hình 1 buổi phải kéo dài 138 buổi, với hơn 100.000 người ghi tên xin tìm kiếm thân nhân. Trong số đó, chỉ hơn 10.000 người tìm lại được người thân, vì nhiều lý do trong đó có lý do là sự cứng rắn vô lý của chính phủ Bắc Triều Tiên.[12]

Người dân Hàn Quốc phải tạm quên nỗi đau tinh thần để lo phát triển đất nước. Vì mối đe doạ của Bắc Triều Tiên, Chính phủ Lý Thừa Vãn tập trung phát triển quân đội hơn là phát triển kinh tế. Tham nhũng khiến chính quyền gặp sự phản kháng mạnh mẽ từ người dân, nhất là từ giới sinh viên. Ngày 25 tháng 4 năm 1960, trước áp lực của dân chúng, Tổng thống Lý Thừa Vãn rời chức vụ và sống lưu vong. Chính phủ dân chủ do Tổng thống Doãn Phổ Thiện (Yun Bo-seon) và Thủ tướng Trương Mẫn (Chang Myon) không ổn định được tình hình. Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Thiếu tướng Phác Chánh Hi (Park Chung-hee, 1917 – 1979) cầm đầu cuộc đảo chánh quân sự lật đổ chính phủ Doãn Phổ Thiện.

Phác Chánh Hi nắm quyền lãnh đạo Hàn Quốc trong suốt 18 năm, từ 1961 đến khi Ông bị giám đốc Cục Tình Báo Trung Ương Hàn Quốc Kim Tái Khuê (Kim Jae-gyu) ám sát chết ngày 26 tháng 10 năm 1979. Trong lịch sử Hàn Quốc có lẽ thời gian cầm quyền của Phác Chánh Hi là đề tài gây tranh cãi nhiều nhất đối với công luận Hàn Quốc, với các chính trị gia, và các nhà nghiên cứu trong lẫn ngoài nước. Tuy cứng rắn và được xem như một nhà lãnh đạo độc tài, Ông đã giúp thay đổi Hàn Quốc, đưa đất nước này từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc công nghiệp.

Sáng kiến và cải cách

Sự thành công về kinh tế của Hàn Quốc gắn liền với vai trò của Tổng Thống Phác Chánh Hi. Khác với Lý Thừa Vãn, Phác Chánh Hi chủ trương xây dựng một nền kinh tế vững mạnh để làm cơ sở cho việc phát triển quân đội, kiến tạo một đất nước hùng cường, có thể đối đầu với phe cộng sản Bắc Triều Tiên. Cần nhắc lại, vào đầu thập niên 1960 Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hơn hẳn Đại Hàn Dân Quốc về sản xuất công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, và ổn định chính trị. Quyết định kiến tạo kinh tế vững mạnh để củng cố quốc phòng có lẽ là bài học mà Phác Chánh Hi học được từ Nhật Bản trong thời gian ông phục vụ trong quân đội Nhật ở Mãn Châu.

Việc xác định một thể chế đúng đắn với đường lối công nghiệp hoá hợp lý là tiền đề cho sự thành công của Hàn Quốc. Thêm vào đó là vai trò của giáo dục để tạo ra một đội ngũ lao động thích hợp cho sự phát triển kinh tế. Hơn nữa trách nhiệm xã hội của công dân được hình thành qua giáo dục. Chính phủ đóng vai trò điều tiết một nền kinh tế vĩ mô ổn định, tỉ lệ lạm phát thấp, chi tiêu công hợp lý, đầu tư vào phát triển nhân lực.[13]

Để tạo nguồn vốn ban đầu quan trọng cho sự phát triển kinh tế, Phác Chánh Hi đã đưa ra hai quyết định quan trọng, bất chấp sự mạo hiểm về chính trị. Đó là quyết định bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản và gửi quân đội tham chiến bên cạnh quân đội Đồng minh tại Nam Việt Nam.[14] Theo Donald Gregg, Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc từ năm 1989 đến năm 1993, việc bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản vào năm 1965 mang đến cho Hàn Quốc 800 triệu Mỹ kim tiền viện trợ kinh tế, và việc gửi quân tham chiến tại Nam Việt Nam mang lại cho Hàn Quốc nguồn ngoại tệ lớn nhất lúc đó. Nguồn vốn ban đầu này giúp thay đổi tình hình kinh tế của đất nước; trong khoảng thời gian cầm quyền của Phác Chánh Hi thu nhập bình quân đầu người tăng lên gấp hơn 10 lần.[15]

Một quyết định quan trọng khác của Phác Chánh Hi là việc thúc đẩy công nghiệp hoá đất nước theo hướng xuất khẩu (export-oriented industrialisation, EOI). Theo kế hoạch này Hàn Quốc chấp nhận nhập khẩu những mặt hàng mà họ không thể sản xuất với giá thành rẻ hơn giá nhập khẩu. Thay vào đó họ tập trung phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh (comparative advantage) để xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước.

Trái ngược với đường hướng phát triển kinh tế này, nhiều nước đang phát triển áp dụng chính sách công nghiệp hoá để thay thế nhập khẩu (import substitution industrialisation, ISI). Việt Nam trong nhiều năm sau năm 1975 áp dụng chính sách ISI, với những kế hoạch 5 năm công nghiệp hoá đất nước, với chủ trương tự lập, tự cung, tự cấp, bên cạnh những sai lầm khác, khiến nền kinh tế cả nước kiệt quệ.

Thật ra Phác Chánh Hi không loại trừ hẳn chính sách ISI mà Ông xem EOI và ISI là hai chính sách bổ sung nhau. Những dự án ISI nhằm hướng tới xuất khẩu cũng được khuyến khích.[16] Việc khuyến khích thành lập các tập đoàn (âm tiếng Hàn: chaebol, chữ Hán: 財閥, Hán Việt: tài phiệt) như tập đoàn LG, Hyundai, Samsung, Lotte, vân vân, cũng nằm trong sự bảo trợ của nhà nước theo hướng phát triển xuất khẩu.

Về phương diện xã hội để đối phó với sự lạc hậu của vùng thôn quê và giúp nâng cao cuộc sống người nông dân, Phác Chánh Hi phát động phong trào Saemaul Undong (Tân Hương Vận động, 新運 動, hay phong trào Nông thôn mới, New Village Movement). Cần nhắc lại là cho đến năm 1970, vẫn còn 80% người dân nông thôn phải sống trong nhà mái lá, không có điện thắp sáng mà phải dùng đèn dầu.

Mục tiêu của phong trào Saemaul Undong là khuyến khích người nông dân tự giúp mình, hợp tác giúp đỡ nhau để phát triển nông thôn, với sự tài trợ của nhà nước. Về tinh thần, phong trào cổ động việc phát huy mối quan hệ thân thiện với láng giềng, phát huy truyền thống của dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng. Phong trào đề cao ba phẩm chất chính, đó là sự cần cù, tự lựchợp tác.

Sự thành công của phong trào Saemaul Undong nhanh hơn sự mong đợi. Đến năm 1974, thu nhập ở nông thôn đã cao hơn ở thành thị; đến năm 1977, 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế.[17]

Phát triển kinh tế song song với phát triển giáo dục

Các nhà lãnh đạo Hàn Quốc nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong việc phát triển đất nước. Trong bài diễn văn tại Đại hội Toán thế giới 2014 (International Congress of Mathematicians ICM 2014) tổ chức tại Seoul vào tháng 8 năm 2014, Tiến sĩ Chung KunMo (cựu Bộ trưởng Khoa học và Kỹ thuật Hàn Quốc) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, khoa học và kỹ thuật cùng với vai trò trụ cột của toán học trong việc phát triển kinh tế.[18]

Theo Tiến sĩ Chung KunMo, trong nhiều thập niên, Chính phủ đã nỗ lực trong việc gửi sinh viên sang học tập ở các nước tiên tiến (chủ yếu là Hoa Kỳ), đồng thời đẩy mạnh việc chiêu gọi các nhà khoa học, các giáo sư đại học gốc Hàn trở về giúp xây dựng đất nước. Điển hình là vào năm 1971, đích thân ông đã mời 50 trong số 260 giáo sư gốc Hàn tại Hoa Kỳ trở về giảng dạy tại viện KAIST (Korean Advanced Institute of Science and Technology) khi viện này được thành lập.

Sự đầu tư đúng mức này đã đưa KAIST lên vị trí một trong những trường đại học hàng đầu của thế giới. Theo bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của Times Higher Education, năm 2014 KAIST đứng ở hạng 52 (http://www.timeshighereducation.co.uk).

Sự phát triển của nền toán học Hàn Quốc cũng là điều đáng nhắc đến ở đây. Hàn Quốc chính thức gia nhập Hiệp hội Toán học Quốc tế (International Mathematical Union, IMU) vào năm 1981, ban đầu thuộc nhóm 1. Đến năm 1993 được nâng lên nhóm 2, và đến năm 2007 được đặc cách lên nhóm 4, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử của IMU.[19], [20]

Theo Giáo sư Martin Groetschel (Thư ký Ban chấp hành IMU nhiệm kỳ 2011 – 2014), vào năm 1981 các nhà toán học Hàn Quốc chỉ có 3 công trình toán học đăng trên các tạp chí toán quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay Hàn Quốc xếp hàng thứ 12 trên thế giới về tổng số công trình đóng góp.[21]

Một sự phát triển ngoạn mục khác cần nói đến là trong hai thập niên 1970 và 1980 nhiều nhà toán học Hàn Quốc phải nhờ vào sự giúp đỡ của thế giới để tham dự Đại hội Toán thế giới ICM (được tổ chức 4 năm một lần), nhưng đến năm 2014 Hàn Quốc đã tổ chức thành công ICM tại thủ đô Seoul với 5193 người tham dự, đến từ 122 nước. Người khai mạc ICM 2014 là Tổng thống Phác Cận Huệ (Park Geun-hye), ái nữ của cố Tổng thống Phác Chánh Hi.

Đáng nói thêm là với lòng biết ơn sự giúp đỡ của thế giới trước đây đối với nền toán học Hàn Quốc, quốc gia này đã tài trợ cho 1000 nhà toán học ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) đến tham dự ICM 2014. Họ hãnh diện đặt tên cho chương trình này là NANUM, tiếng Hàn có nghĩa là “sự chia sẻ tử tế và vô điều kiện”. [22]

Việc giáo dục không những chú trọng kiến thức khoa học, kỹ thuật, mà cả giáo dục tinh thần, truyền thống hiếu thảo, tinh thần yêu nước.[23] Việc tìm hiểu lịch sử đất nước được chú trọng ngay từ bậc tiểu học. Vào ngày cuối tuần tại các bảo tàng viện, hình ảnh các nhóm học sinh tiểu học thăm viếng và thảo luận gây sự chú ý cho du khách (xem Hình 4).

clip_image008 clip_image010

Hình 4: Các em học sinh viếng Viện Bảo tàng Quốc gia, Seoul. Ảnh do tác giả chụp ngày 10.8.2014.

Phát huy dân chủ

Phác Chánh Hi cai trị Hàn Quốc bằng một chính sách độc tài, dẹp bỏ đối lập để có sự ổn định cho phát triển kinh tế. Có rất nhiều ý kiến chỉ trích đường lối cai trị độc tài đó, nhưng cũng có ý kiến đồng tình. Tiến sĩ William Overholt, chuyên gia về quan hệ Á Châu của Hoa Kỳ, người từng là trưởng nhóm đặc nhiệm về chính sách Á Châu của chính phủ Jimmy Carter năm 1976, có nhận định như sau. Sự thành công về kinh tế và thể chế của Phác Chánh Hi đã cứu Hàn Quốc khỏi sự xâm lăng của Bắc Triều Tiên. Nếu Hàn Quốc vẫn duy trì một chế độ dân chủ kém khả năng, như dưới thời chính phủ Doãn Phổ Thiện, thì Hàn Quốc đã là mục tiêu hấp dẫn cho Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.[24]

Khi nỗi sợ hãi về chiến tranh và nghèo đói không còn nữa, khi tầng lớp trung lưu có học thức đã trở thành nền tảng cho một nền dân chủ ổn định, thì những giá trị dân chủ và nhân quyền trở nên yếu tố quyết định về phương diện chính trị. Thể chế đã được thiết lập trong hai thập niên 1960 và 1970 xem ra không còn hợp thời. Sau cái chết của Phác Chánh Hi, Hàn Quốc đã dần dần chuyển biến lên một mức độ cao hơn về quản lý kinh tế và chính trị.

Theo tường trình của tổ chức The Economist Intelligence Unit, vào năm 2012 chỉ số dân chủ (democracy index) của Hàn Quốc là 8,13 điểm, xếp Hàn Quốc ở vị trí thứ 20 trong số 167 nước. Na Uy dẫn đầu với chỉ số 9,93, Việt Nam ở hàng thứ 144 với chỉ số 2,89, và Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở cuối bảng với chỉ số 1,08.[25]

Kết luận

Hàn Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có hoàn cảnh khá tương đồng. Sự phát triển của Hàn Quốc và sự lạc hậu của Việt Nam rõ ràng là hệ quả tất yếu của việc chọn lựa đường hướng xây dựng đất nước sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, và sự khôn ngoan của các lãnh đạo Hàn Quốc.

Không thể tách rời sự thành công của Hàn Quốc với vai trò và đóng góp của Tổng thống Phác Chánh Hi. Ngay cả những người chống đối Ông cũng không thể phủ nhận những đóng góp đó. Điều quan trọng là, tuy là một nhà lãnh đạo độc tài, Ông đã đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết. Việc chọn lựa thể chế và đường lối đúng đắn (với chính sách EOI), khơi dậy ý thức trách nhiệm với cộng đồng và xã hội (qua phong trào Saemaul Undong) cùng với giáo dục truyền thống đã giúp đưa Hàn Quốc từ một quốc gia nghèo đói nhất thế giới trở nên một cường quốc công nghiệp trong thời gian kỷ lục.

Thành công của Hàn Quốc là “ước mơ và hy vọng cho các quốc gia khởi hành muộn”, đó là lời kết luận trong ngày bế mạc ICM 2014.

@ Bauxit vn

Địa vị độc tôn của Hoa Kỳ bị đe dọa?

usGần đây, Quỹ Tiền tệ thế giới (FMI) có công bố một Bản tường trình về Tổng sản lượng các quốc gia trên thế giới, nếu tính theo sức mua bán (PPP = Purchasing Power Parity), thì Trung cộng đứng hàng đầu với 17  632 tỷ $, vượt Hoa 17  416 tỷ $, sau đó là Ấn độ 7  277 tỷ, Nhật 4  788 tỷ, Đức 3  321 tỷ, Nga 3  559 tỷ, Ba tây 3  073 tỷ  và Pháp 2  587 tỷ.

Thêm vào đó mới đây, Anh tuyên bố sẽ gia nhập Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á (AIIB), được lập ra bởi Trung cộng, rồi liên tiếp mới ngày thứ Ba này 17/3/2015, các nước Đức, Pháp và Ý, ngay cả những nước Nhật, Nam Hàn, Úc, Nam Dương, Ấn Độ … cũng tuyên bố tham gia ngân hàng này.

Từ đó có người cho rằng địa vị độc tôn của Hoa kỳ sẽ bị đe dọa trong tương lai.

Địa vị độc tôn tương đối của Hoa kỳ đến từ bao giờ?

Có người cho rằng địa vị độc tôn của Hoa kỳ bắt đầu từ đầu thê kỷ 20 (1900), khi tổng sản lượng quốc gia của nước này đẩy nước Anh xuống hàng thứ nhì: Hoa kỳ chiếm 23,6% tổng sản lượng thế giới, Anh chỉ còn 18,5 %  ; 70 năm trước, Anh dẫn đầu với 19,9%, sau đó là Tàu với 19,7%. Trước đó nước Tàu đã dẫn đầu thế giới từ năm 1750, với 32,8%, Hoa kỳ chỉ có 0,1%, Anh là 1,9%. Tàu còn dẫn đầu tới năm 1830, với 29,8%, nhưng đến năm 1900, chỉ còn 6,2% (Paul Kennedy – Naissance et déclin des grandes puissances – trang 185 – Edition Payot – 1989, 1991).

Người khác thì cho rằng Hoa kỳ lên địa vị độc tôn vào sau Thế Chiến thứ Nhất (1914-1918), khi hai nước Anh, Pháp đợi sự giúp đỡ, can thiệp của Hoa kỳ «  như con đợi mẹ về chợ «, đó là lời tuyên bố của ông Georges Clémenceau, đương kim Thủ tướng Pháp, vào lúc bấy giờ, người được coi là một trong những tác nhân chính của chiến thắng.

Tuy nhiên có người phản bác 2 cái nhìn trên và cho rằng Hoa kỳ chỉ lên ngôi vị độc tôn, sau Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Sau Đệ Nhất Thế Chiến, Hoa kỳ đã muốn lên ngôi vị này. Trong bài diễn văn 14 điểm gửi Quốc hội và Quốc dân, Tổng thống Hoa kỳ Wilson đã nói đến môt trật tự thế giới, đồng thời đề nghị lập ra Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc ngày hôm nay. Tuy nhiên Quốc Hội Hoa kỳ ( cả Hạ Viện và Thượng viện ) nhận thấy 2 đế quốc Anh và Pháp còn quá mạnh, không thể thực hiện trật tự thế giới mới theo Hoa kỳ, nên đã không phê chuẩn Hiệp ước thành lập ra Hội Quốc Liên, làm cho tổ chức này trở nên què quặt ngay mới khi được thành lập, vì Hoa Kỳ, một trong những sáng lập viên không tham gia.

Điều này chứng tỏ chính sách ngoại giao của Hoa kỳ không phải chỉ một mình tổng thống quyết định, mà quốc hội cũng giữ một vai trò quan trọng.

Quả như sự tiên đoán của một số chính trị gia, nhà nghiên cứu chính trị thế giới, Âu châu lại lâm vào tình trạng các cường quốc chống đối lẫn nhau, nhất là từ lúc Hitler lên nắm chính quyền năm 1933, rồi đưa đến Đệ Nhị Thế Chiến.
Địa vị độc tôn của Hoa kỳ thực sự đến từ sau Thế Chiến Thứ hai. Hai đế quốc Anh, Pháp đã suy yếu, và ngay cả những nước bại trận khác như Đức, Nhật,Ý, nếu không có sự giúp đỡ của Hoa kỳ, nhất là Âu châu, qua Kế Hoạch Marshall, thì không thể gượng dậy.

Ở điểm này, giới chính khách, những nhà chiến lược, phân tích Hoa kỳ đã có một cái nhìn đúng, cho rằng Anh, Pháp nguy hiểm hơn cả Liên xô, Hoa kỳ chỉ thực sự đặt được trật tự thế giới mới khi hai nước này không còn sức hoành hành. Còn Liên sx, dầu sao cũng là « Kẻ mới mạnh «, còn nhiều khuyết điểm, thiếu kinh nghiệm. Hơn thế nữa, có khi Hoa kỳ còn mượn tay Liên xô để làm yếu Anh, Pháp. Bằng chứng đó là, vào năm 1956, Nasser đảo chính ở Ai cập, quốc hữu hóa các hãng xưởng ngoại quốc, mà trong đó có kinh đào Suez. Anh, Pháp đã đổ bộ quân, định lật chế độ Nasser, nhưng gặp phản ứng mạnh mẽ của Liên xô lúc bấy giờ, đang dưới quyền của ông Khrouschev. Ông này đã không ngần ngại, tại Hội đồng Liên hiệp quốc, lên chỉ bản đồ Pháp, khoanh tròn thành phố Paris và nói rằng chỉ cần một trái bom nguyên tử ở trung tâm là không còn nước Pháp, trước sự yên lặng, nếu không nói là đồng tình của Hoa kỳ.

Sau đó, Hoa kỳ và Liên xô, thay thế Anh, Pháp, chia ảnh hưởng ở vùng này.

Ở Á châu, nhất là ở Đông dương, Hoa kỳ tìm cách hất cẳng người Pháp, để thay thế vào.  Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến khi đế quốc Liên xô sụp đổ, bắt đầu bằng sự sụp đổ Bức tường Bá linh cuối năm 1989, ông Paul Nitzé, tác giả của Chính Sách Be bờ và cũng là tác giả của của Chỉ thị số 68 Hội đồng An ninh quốc gia, đã tuyên bố: «Chúng ta đã chiến thắng Chiến tranh Lạnh. »

Quả đây là một chiến thắng lớn trong lịch sử tranh hùng thế giới.

Đây là một chiến thắng của người giỏi trong những người giỏi.

Nói theo Tôn tử, một lý thuyết gia chiến tranh nổi tiếng thế giới:

« Không đánh mà làm khuất phục được quân người, ấy là người giỏi trong những người giỏi«  ( Tôn Ngô binh pháp – Ngô văn Triện dịch – trang 51).

Người giỏi trong những người giỏi, đó là khuất phục quân địch mà không làm tan quân địch, chiếm được thành địch mà không làm vỡ thành, lấy được nước mà không làm tan nước.

Không như Cộng sản Việt Nam, lúc nào cũng huênh hoang chiến thắng, nhưng kết cuộc làm suy yếu, phân hóa dân tộc mình, không những làm vỡ thành mà còn làm tan nát đất nước.

Chính vì vậy mà Phạm văn Đồng, Thủ tướng cộng sản, tuyên bố vào năm 1986: « Chúng tôi đã chiến thắng chiến tranh, nhưng đang chiến bại hòa bình .» Chiến bại hòa bình còn đang tiếp diễn cho tới ngày hôm nay.

Trở về với Hoa kỳ, địa vị độc tôn của nước này không phải là không bị đe dọa dưới thời Chiến tranh Lạnh.

Sự đe dọa này bắt đầu, chỉ 4 năm sau Đệ Nhị Thế Chiến, tức năm 1949, khi mà quân đội của Mao, đuổi quân đội của Tưởng, ra khỏi lục địa, rồi lên nắm chính quyền, đưa gần nửa tỷ người của địa cầu đi theo chế độ cộng sản. Sự đe dọa này đã lên cao điểm trong cuộc chạy đua không gian, khi Liên xô phóng phi thuyền đầu tiên ra ngoài không gian, vào năm 1956. Sự đe dọa này còn được tăng cường khi phong trào đòi độc lập ở mức độ cao nhất của nó, để đẻ ra Phong trào Không Liên kết các quốc gia, mà những người lãnh đạo là Nérhu của Ấn Độ, Nasser của Ai cập, Khrumah của Phi châu. Cộng thêm với sự trở lại nắm chính quyền của Charles de Gaulle ở Pháp, đưa ra «  Đường lối thứ Ba «, không theo Nga và cũng không theo Mỹ, nhưng trên thực tế, thì ngả về Nga hơn, cũng như những nước mới giành được độc lập, đều là những người lãnh đạo ít nhiều bị ảnh hưởng chủ thuyết Mác – Lê.

Nước thứ nhì đe dọa quyền độc tôn của Hoa kỳ, nhưng chỉ trên phương diện kinh tế là nước Nhật vào thập niên 80. Vào lúc đó, nước Nhật tăng trưởng mạnh, tỷ số tăng trưởng đứng đầu thế giới. Người thợ Nhật làm việc chăm chỉ, có khi ở lại hãng, không về nhà. Thêm vào đó tinh thần quốc gia trổi dậy, có một nhà văn Nhật đã viết một quyển sách đại ý nói rằng : Chúng ta không cần ai bảo chúng ta gọi dạ, bảo vâng. Quyển sách đã bán rất chạy ở Nhật. Tuy nhiên kinh tế Nhật đã bị cuộc khủng hoảng kinh tế Thái lan vào thập niên 90, và nước Nhật khó khăn gượng lại cho tới ngày hôm nay.

Ngày nay nhiều người cho rằng quốc gia có thể đương đầu và tranh giành độc tôn với Hoa kỳ là Trung cộng. Tuy nhiên, mặc dầu tổng sản lượng tính theo khả năng mua bán thì đã vượt Hoa kỳ. Nhưng Trung cộng còn thiếu rất nhiều yếu tố để tranh giành địa vị độc tôn.

Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ xin lược sơ những nguyên do khiến Trung cộng không thể có ngôi vị độc tôn, mà hơn thế nữa còn có thể bị sụp đổ, nếu quí vị nào muốn biết thêm chi tiết xin xem thêm những bài tôi viết về Trung cộng trước đây, như bài bài «  Những nguyên nhân đưa đến Trung cộng sụp đổ ? «  (1)

Đó là:

1) Trung cộng dựa trên một nền tảng triết lý chính trị, đạo đức sai lầm và đầy mâu thuẫn.
2) Trung cộng có một thể chế chính trị lỗi thời
3) Dân tộc Trung cộng trở nên già nua, vì chính sách một con. Không cần lý luận dài dòng, chỉ cần lấy thí dụ một đại gia đình rồi suy ra một quốc gia, thành phần gia đình đó phần lớn là ông già bà lão, ít trai tráng, thì tương lai làm sao có thể tươi sáng ?

4) Tham nhũng hối lộ như một căn bệnh ung thư ác tính đang ngấm ngầm tàn phá đất nước Trung cộng
5) Những dân tộc thiểu số bắt đầu nổi lên, cùng lúc với đa số người dân bất mãn về đời sống khó khăn, khoảng cách giầu nghèo v..v.., và những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Năm 2014 vừa qua có hơn 200  000 cuộc biểu tình chống đối chính phủ

6) Về quân đội, mặc dầu Trung cộng tăng ngân sách quốc phòng, với 143 tỷ $, nhưng còn thua xa Hoa kỳ với 577 tỷ. Hải quân Trung cộng mặc dầu số tàu đông, nhưng chỉ là những tàu hoạt động ở ven biển và tầm trung, chưa có tàu hoạt động tầm xa. Chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, mua của Ukhraine, cho tới nay vẫn chưa có thể hoạt động, chưa có thể đáp máy bay xuống.

Âu châu:

Hiện nay, ngoài Trung cộng, có người cho rằng Khối Âu châu có thể đe dọa ngôi vị độc tôn của Hoa kỳ. Điều này không phải là không có lý, vì dựa trên lãnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa, chính trị, Hoa kỳ, có thể nói, là con đẻ của Âu châu. Những người lập quốc Hoa kỳ như Washington, Jefferson, Franklin v.v…, đều là những người bị ảnh hưởng sâu đậm bởi văn hóa Pháp, như Jefferson, văn hóa Anh, Đức như Franklin. Ngay đứng về phương diện khoa học, không đi vào chi tiết, chỉ xin nêu ra một ngành khoa học tân tiến hiện nay là ngành hàng không. Hãng Boeing trước đây vào những năm 80, 90 đã chiếm 80% thị trường quốc tế, nay chỉ còn 50%.

Tuy nhiên Âu châu còn chưa hoàn toàn thống nhất, mới thống nhất về tiền tệ, kinh tế, còn chưa thống nhất về chính trị và quân sự. Âu châu chỉ có thể đe dọa ngôi vị độc tôn của Hoa kỳ, khi trở thành một khối, thống nhất thêm về 2 phương diện trên.

Địa vị độc tôn tương đối của Hoa kỳ còn có thể kéo dài ít nhất trong trung hạn

Địa vị này có thể nói còn kéo dài là do những nguyên nhân trái với những nguyên nhân không đưa nước Trung cộng lên địa vị độc tôn, và còn có thể đưa nước này đến chỗ sụp đổ. Hoa kỳ có địa vị ngày hôm nay, nói một cách tương đối, là nhờ có một nền tảng triết lý, đạo đức tốt đẹp, có một giai tầng lãnh đạo và trí thức có khả năng, hi sinh, không tham quyền cố vị, là một nơi đất lành chim đậu, một nền kinh tế, mặc dầu có những khó khăn, nhưng vẫn là nền kinh tế vững mạnh, năng động nhất thế giới, có một quân đội hùng mạnh sở hữu những vũ khí tối tân nhất. Tuy có một sức mạnh như vậy, nhưng Hoa kỳ vẫn ý thức được giới hạn của mình, thử hỏi những nước như Nga, Trung cộng, Anh và Pháp, nếu họ có sức mạnh như vậy, thì họ sẽ hành xử thế nào, và thế giới sẽ đi về đâu ?

Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào từng lãnh vực:

Hoa ky dựa trên một nền tảng triết lý, đạo đức rất tốt.

Nếu chúng ta đi thật sâu, thì nền tảng triết lý đạo đức Hoa kỳ bắt nguồn từ cuộc hành trình của 102 người di dân, thuộc 42 gia đình mục sư, chủ gia đình, của ngành Thanh giáo (Les Puritains), trên con tàu Mayflower. Đây là một ngành về tôn giáo và chính trị của đạo Tin lành (Protestantisme), bị cư xử bạc đãi. Họ đã cùng nhau lên chiếc thuyền trên và từ giã nước Anh vào ngày 16/09/1620, đi về hướng Mỹ, với ý nguyện là đi tìm một Nước Anh Mới ( Nouvelle Angleterre), một Thế giới Mới ( Nouveau Monde).

Trên con đường hành trình này, với biết bao gian khổ, người chết vì đói khát, người chết vì bệnh tật, 42 vi mục sư, chủ gia đình, đã đồng thuận làm ra một Khế Ước được mang tên là Mayflower Compact, trong tinh thần Thanh giáo, theo đó họ nguyện sẽ xây dựng một xã hội mới, với những nguyên tắc chính sau đây: a) Không có việc phân biệt tôn giáo và cấm đoán tôn giáo. b) Quyền tự do tôn giáo được tuyệt đối tôn trọng. c) Không những về tôn giáo mà tất cả những quyền tự do căn bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do chính trị, kinh tế v.v…, đều được tuyệt đối tôn trọng. d) Chính quyền là do dân bầu ra, với mục đích là để mang lại và bảo đảm quyền hạnh phúc, an ninh cho dân. Một khi chính quyền không làm tròn nhiệm vụ này, thì dân có quyền lật đổ chính quyền để tạo nên một chính quyền mới. e) Những người trong Xã hội Mới đó phải có tinh thần trọng đạo đức, tương thân, tương trợ, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.

Chiếc thuyền Mayflower này đã cập bến tới Hoa kỳ vào ngày 26/12/1620 tại vùng Newplymouth, sau 3 tháng lênh trên biển.

Để ghi nhớ tinh thần Mayflower, những chính quyền Mỹ nối tiếp đã ra đạo luật thiết lập Ngày Tạ Ơn Thượng Đế vào ngày thứ năm, tuần thứ 4, tháng 11.

Chính nhờ tinh thần này mà người ta nói Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Bản Hiến pháp và ngay cuộc sống hàng ngày của dân tộc Hoa kỳ đều bị ảnh hưởng sâu đậm. Như bản Tuyên Ngôn Độc lập, viết bởi Thomas Jefferson, trong đó có câu: «  Chính quyền là do dân bầu ra, có nhiệm vụ lo an ninh và hạnh phúc cho dân… Một khi chính quyền không làm tròn nhiệm vụ này, thì dân có quyền lật đổ chính quyền.»

Ngay cả cuộc sống hàng ngày của dân Hoa kỳ cho tới ngày hôm nay vẫn còn bị ảnh hưởng.

Một quan niệm sai lầm của một số trí thức Tàu và Việt Nam vào giữa thế kỷ 19 và cho tới ngày hôm nay cho rằng Đông phương thua Tây phương là chỉ trong lãnh vực khoa học kỹ thuật. Thêm vào đó lại cho rằng Đông phương theo «  Đức trị «, còn Tây phương theo «  Pháp trị «  , cho rằng Tây phương không có đạo đức. Lại thêm tuyên truyền cộng sản, từ Marx, hết lời chỉ trích, lên án chủ nghĩa tư bản, cùng với Lénine cho rằng «  Tụi tư bản nó vừa tham lại vừa ngu. Ngu va tham đến mức độ nó biết rằng người ta mua dây xích để xiết cổ chúng, nhưng chúng vẫn sản xuất và bán cho người ta.  »

Đây là những quan niệm sai lầm về Tây phương và tư bản.

Lấy nước Hoa kỳ làm tiêu biểu :

Hiện nay ở Hoa kỳ, 56% theo Đạo Tin Lành (Protestantisme), 28% theo đạo Thiên Chúa giáo (Catholicisme), số người đi Nhà Thờ vẫn là cao nhất thế giới. Ở điểm này, người ta mới thấy Marx và những người chủ trương «  Vô gia đình, Vô tổ quốc và Vô tôn giáo  » là sai. Cứ nhìn vào 2 xã hội cộng sản hiện nay là Trung cộng và Cộng sản Việt nam, thì thấy rõ rằng đạo đức băng hoại, con người trở nên vô cảm, giáo dục xuống cấp. Ngược lại Hoa kỳ là nước không chủ trương Vô Tôn giáo, Vô Gia đình, nhưng trình độ đạo đức của họ rất cao. Không cần đi vào chi tiết, chúng ta chỉ lấy con số thống kê là dân tộc Hoa kỳ là dân tộc tự nguyện làm công việc giúp đỡ người khác tại những nhà thờ, những cơ quan từ thiện rất cao. Bằng chứng nữa là ông bà Bill Gates, người giầu nhất thế giới, cũng là người giúp đỡ người khác nhất thế giới. Thử hỏi ngay tại 2 nước cộng sản còn lại, số tỷ phú cũng rất nhiều, nhưng có một ai như ông bà Bill Gates không?

Ngoài việc có một nền tảng triết lý đạo đức tốt, Hoa kỳ còn có một chế độ tốt.

Hoa kỳ là chế độ dân chủ đầu tiên có một bản hiến pháp thành văn. Những người soạn thảo ra bản Hiến Pháp này gồm có 13 Đại diện của 13 tiểu bang lúc đó, trong đó có Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, là 2 người chính, đã rút tỉa kinh nghiệm từ những chế độ trước đó ở Âu châu, cũng mơ ước xây dựng một Xã Hội Dân chủ Mới, theo tinh thần Dân chủ của nhà triết học Anh Lock hay của những nhà tư tưởng Pháp J.J. Rousseau, Montesquieu, theo đó những quyền căn bản của con người, sự phân quyền giữa 3 quyền, lập pháp, tư pháp và hành pháp, phải được tôn trọng tối đa.

Trong khuôn khổ bài này, chúng ta không thể đi vào chi tiết, nhưng nếu nghiên cứu rõ Hiến pháp Hoa kỳ, chúng ta sẽ thấy qua hiến pháp này, có đến 50 điều khoản kiểm soát và cân bằng (contre balances) giữa các quyền, giữa quyền trung ương và địa phương, giữa hành pháp, tư pháp và lập pháp, chẳng hạn như trong ngành ngoại giao, nhiều người cho rằng đây là một đặc quyền của Hành Pháp, của Tổng thống và Ngoại trưởng. Nhưng thực tế, quyền này bị «  cân bằng «  ( contre balance) bởi Thượng nghị viện, qua việc viện này quyết định ngân sách ngoại giao. Tất nhiên còn rất nhiều những sự quân bằng khác giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đấy là chưa nói đến hiện nay còn một quyền thứ tư rất mạnh, đó là quyền báo chí.

Về kinh tế, nói một cách tổng quát, Hoa kỳ theo Trường phái Kinh tế Tự do ( Ecole Libérale ) của Adam Smith và Tân Tự do ( Ecole Néo – Libérale) của J. M. Keynes, theo đó kinh tế đi theo một luật lệ cung cầu tự nhiên, đó là một trật tự tự nhiên, chính phủ không nên can thiệp vào kinh tế ( Theo Adam Smith ), tuy nhiên có những trường hợp, chính quyền cũng có thể can thiệp, nhưng là một cách can thiệp giới hạn ( Theo Keynes).

Người ta có thể nói Hoa kỳ là nước rất thành công trong việc theo 2 trường phái trên, trái với những nước chủ trương kinh tế nhà nước, trái với tự do. Tuy nhiên Hoa kỳ cũng thành công trong việc theo Trường phái Tân Tự do, qua 2 vị Tổng Thống Roosevelt và Obama hiện nay.

Thực vậy, sau cuộc Khủng Hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1930, Tổng thống Hoa kỳ đã áp dụng lý thuyết Tân tự do của Keynes để vực dậy kinh tế Hoa kỳ. Gần đây, năm 2008, thế giới cũng lâm vào hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế, nhưng Obama cũng áp dụng chinh sách kinh tế của Keynes để vực dậy kinh tế và đã thành công. Trong khi đó kinh tế thế giới, nhất là Âu châu vẫn vực dậy kinh tế một cách khó khăn.(1) Kinh tế Hoa kỳ hiện nay vẫn có thể nói là kinh tế vững mạnh nhất. Một thí dụ nhỏ, trong 500 công ty lớn nhất và năng động nhất thế giới, phân nửa là do Hoa kỳ làm chủ. Trong số 25 thương hiệu uy tín nhất thế giới, có đến 19 thương hiệu là Hoa kỳ.

Về quân sự, hiện nay Hoa kỳ vẫn dẫn đầu thế giới. Chỉ cần lấy một vài thí dụ điển hình: Riêng về ngân sách quốc phòng, Hoa kỳ vẫn dẫn đầu với con số 577 tỷ $, sau đó là Trung cộng với 142 tỷ $.Tổng cộng 8 ngân sách quốc phòng lớn nhất thế giới cộng lại cũng không bằng ngân sách Hoa Kỳ.

Một thí dụ khác nói lên sự độc tôn của Hoa kỳ vẫn còn có thể kéo dài, đó là vào năm 1996, vào thời nhiệm kỳ 2 của Bill Clinton.

Sau khi đế quốc Liên xô sụp đổ, thì một số sắc tộc, như trường hợp ở nước Nam Tư cũ, nổi lên đánh nhau, giữa Croatie, Serbie và một số chủng tộc, tôn giáo khác. Không may, lúc đó Bill Clinton đang mắc vào vụ lăng nhăng tình cảm với một cô thơ ký tập nghiệp, không thể can thiệp. Các chính quyền Khối Âu châu bắt buộc phải can thiệp quân sự vào Nam Tư. Từ đó người ta mới phát hiện sự yêu kém của quân sự Âu châu. Ngay cả một nước dẫn đầu về kinh tế như Đức, vì lâu ngày vẫn dựa vào Hoa kỳ, nên Đức đã gặp khó khăn trong việc vận chuyển quân qua Nam tư.

Từ đó các Bộ quốc phòng Âu châu họp để tính việc hiện đại hóa quốc phòng, đều đồng ý trên nguyên tắc. Nhưng trước khi lấy quyết định chính trị, thì cần phải một số chuyên gia làm bản tường trình về kỹ thuật. Bản tường trình nói gì  ? Theo đó thì về quân sự và quốc phòng, Âu châu thua kém Hoa kỳ từ 20 đến 30 năm, có những ngành hơn thế nữa. Tuy nhiên bản tường trình còn nói thêm là vì Hoa kỳ đã đầu tư lâu năm vào ngành quân sự, nên 1$ của Hoa Kỳ vào ngành này mang lại kết quả gấp 3 lần 1$ đầu tư của Âu châu.

Chính vì vậy mà kế hoach hiện đại hóa quân sự của Âu châu, không dám nói ra là bỏ xuống sông xuống biển, nhưng cũng được ít nước đề cập tới, hay chỉ đề cập đến những vấn đề không hao tốn, dễ sản xuất v…v…

Những người thiên về kinh tế, khi nhìn thấy tổng sản lượng của Hoa Kỳ đi từ ½ tổng sản lượng thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến xuống còn 1/3 và ngày hôm nay còn ¼, thì cho rằng địa vị độc tôn của Hoa kỳ đang bị lung lay.

Điều này không phải là không có lý, vì nhìn vào tổng sản lượng của nước Anh, bắt đầu tăng trưởng từ thế kỷ thứ 19, rồi đứng đầu thế giới vào giữa thế kỷ, đã làm cho nước Anh trở thành một đế quốc lớn mạnh, mà «  mặt trời không bao giờ lặn ở đế quốc này «. Ngay với Hoa kỳ, tổng sản lượng của nước này đứng đầu trên thế giới, đẩy nước Anh xuống hàng thứ nhì vào năm 1900 và từ đó đến nay, Hoa kỳ đã giữ vai trò độc tôn.

Tuy nhiên chúng ta không thể hoàn toàn duy về kinh tế. Cũng tính theo tổng sản lượng, thì nước Tàu đứng đầu và chiếm 29,8% tổng sản lượng thế giới vào năm 1830 (Theo Paul Kennedy – Sách đã dẫn). Tuy nhiên cũng vào năm này thì nổ ra Chiến tranh Nha phiến, rồi nội loạn với loạn Thái bình Thiên quốc, ngoại ưu với việc Liệt cường xâu xé nước Tàu từ năm 1840.

Vì vậy chỉ dùng kinh tế, tổng sản lượng quốc gia, để cắt nghĩa sự hưng vong của một cường quốc, thì không đủ. Ngoài ra còn rất nhiều nguyên do khác: chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học và kỹ thuật.

Trong những lãnh vực trên Hoa kỳ vẫn còn rất nhiều ưu điểm.

Địa vị độc tôn của Hoa kỳ có thể bị lung lay trong dài hạn, chứ trong ngắn hạn và trung hạn, ít nhất là 50 năm trở lại, địa vị này còn tồn tại. Tuy nhiên Hoa kỳ chỉ có thể là cường quốc hàng đầu trong những cường quốc hàng đầu khác, chứ không thể độc tôn, một mình như sau Thế Chiến thứ Hai.(1)

Paris ngày 13/04/2015

Chu chi NamVũ văn Lâm

———————————————

(1) Xin xem thêm những bài về kinh tế, Hoa kỳ và Trung cộng, trên

@ Danchimviet

Người biểu tình đụng độ công an ở Bình Thuận

Người biểu tình được nhìn thấy đã ném gạch đá và bom xăng về phía công an

Nhiều người bị thương sau khi cuộc biểu tình phản đối một nhà máy nhiệt điện do Trung Quốc xây dựng gây ô nhiễm môi trường leo thang thành bạo lực tại miền Trung Việt Nam.

Người dân xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, Bình Thuận cáo buộc Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xả bụi xỉ than gây ô nhiễm môi trường.

Giới chuyên gia cảnh báo việc rò rỉ bụi xỉ than có thể gây tác hại đến phổi, đường hô hấp và nguồn nước, đồng thời cho rằng vụ việc thuộc trách nhiệm của cả doanh nghiệp điều hành nhà máy lẫn chính quyền địa phương.

Các cuộc biểu tình bắt đầu hôm 14/4 khá ôn hòa, với sự tham gia của hàng trăm người, nhưng sau đó đã leo thang thành bạo lực trong chiều tối 15/4.

Vụ việc đã gây tắc nghẽn 50km trên đường Quốc lộ 1A.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, 22:30 tối 15/4, lực lượng cảnh sát cơ động Bình Thuận đã phải rút lui khỏi hiện trường sau khi bị người dân “dùng gạch, đá và bom xăng tự chế ném vào”.

Báo này cũng cho biết rất nhiều người bị thương trong lúc đụng độ.

Một số video đăng tải trên mạng cho thấy lực lượng an ninh cũng đáp lại bằng lựu đạn khói, hơi cay.

Đến 23:00 giờ, sau khi lực lượng cảnh sát rút lui, người dân tại đây cũng giải tán.

Tuy nhiên trong bài ngày 16/4, báo điện tử Chính phủ dẫn lời lãnh đạo địa phương cho biết người dân đã giải tán sau khi được cơ quan chức năng “thuyết phục”.

Báo này cũng dẫn lời Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận Lê Tiến Phương nói “không có chuyện người dân đốt xe, đập phá khách sạn” như một số báo điện tử đã đưa.

Tuy nhiên một số báo điện tử đã đăng tải hình ảnh cho thấy một nhiều ô tô bị đập phá làm biến dạng và vỡ cửa kính.

Báo Thanh Niên cho biết nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 từng bị Tổng cục Môi trường xử phạt 1,4 tỷ đồng vì để khói bụi.

Lãnh đạo Bình Thuận cùng EVN đang chỉ đạo nhanh chóng khắc phục sự cố bụi xỉ từ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Pháp Luật TP.HCM cho biết thêm.

Trong Thông cáo báo chí chiều 15/4, EVN cho biết các đơn vị liên quan đang làm sạch, gia cố đường dân sinh trong thời gian hoàn thiện đường vận hành chính thức, đồng thời giám sát không cho phép các xe chở xỉ che chắn không kỹ lưỡng tham gia vận chuyển.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận bác bỏ tin nhiều xe bị đập phá
‘Trách nhiệm của doanh nghiệp và chính quyền’

Trả lời BBC ngày 16/4, Phó giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Đình Tuấn, giảng viên khoa môi trường, Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, giải thích về tác hại của bụi xỉ than đối với con người và môi trường xung quanh:

“Bụi xỉ than thì dễ dẫn đến các bệnh phổi và đường hô hấp”, ông nói.

“Bụi kích thước càng nhỏ thì tác động hô hấp càng cao, bụi lớn cũng gây phiền toái cho người dân vì làm dơ bề mặt nước và đường xá”.

“Trong trường hợp [nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2] thì bụi có hai nguồn, một là từ lò đốt thải qua ống khói thì theo như họ nói đã có hệ thống lọc bụi tĩnh điện, lẽ ra có thể xử l‎y’ đạt tiêu chuẩn nhưng không biết họ vận hành như thế nào.”

“Nguồn thứ hai là từ xe vận chuyển thì phải có các biện pháp quản l‎ý như tuyến đường vận chuyển ,xe vận chuyển, vải che chắn”.

Tiến sỹ Tuấn cho biết nguyên liệu than vẫn được sử dụng rộng rãi tại các nhà máy nhiệt điện trên thế giới.

“Nguyên liệu than thì các nhà máy nhiệt điện trên thế giới vẫn dùng rất nhiều và chỉ cần có biện pháp xử lý đúng”, ông cho biết.

“Hệ thống lọc tĩnh điện vẫn là hệ thống lọc hiện đại nhất, có thể xử lý‎ 99,9%. Tôi thấy họ có nhưng không biết là vận hành thế nào.”

“Sau vụ việc này, tôi nghĩ trách nhiệm đầu tiên là trách nhiệm của doanh nghiệp, khi lắp đặt phải đảm bảo tiêu chuẩn, nhưng chính quyền địa phương, với vai trò là cơ quan quản lý, phải đảm bảo các doanh nghiệp này thực hiện đúng trách nhiệm”.

Cả hai công trình nhiệt điện Vĩnh Tân 1 và 2 ở Bình Thuận đều do Tập đoàn Điện khí Thượng Hải (Trung Quốc) làm tổng thầu EPC.

@bbc

Đại lễ ăn mừng chiến thắng đã bắt đầu…

s16-28-2Tại Việt Nam: Đảng Cộng sản đã bắt đầu khởi động những lễ hội hoành tráng và vô cùng tốn kém trên toàn quốc để kỷ niệm 40 năm ngày mà họ gọi là “Giải phóng miền Nam”, nhưng thực chất là một cuộc cưỡng chiếm Sài Gòn bằng vũ lực từ tay Việt Nam Cộng Hòa – một nền cộng hòa còn rất non trẻ nhưng hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân miền Nam, và tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Geneve 1954, và Hiệp định Paris 1973.

Từ Hà Nội đến Sài Gòn, Từ Bộ Quốc phòng đến từng quân khu, từ Ban Khoa giáo Trung ương đến ban tuyên huấn địa phương, từ tây nguyên đến đồng bằng đang thi nhau tổ chức những hội thảo tiếp theo những hội thảo với chủ đề đầy tính ngạo mạn, kiêu căng, phách lối, tiểu bá, xuyên tạc lịch sử, và hạ nhục đối thủ như: “Viết tiếp bản hùng ca toàn thắng”; “Đất nước trọn niềm vui”, “Đại thắng mùa xuân 1975 – Sức mạnh của ý chí .. và khát vọng hòa bình.”v.v

Tiệc tùng lu bù. Đến đâu cũng thấy cụng ly trăm phần trăm. Cờ hoa lòe loẹt. Kèn trống, loa đài thi nhau nổ đến đinh tai nhức óc. Toàn quốc được nghỉ đại lễ đến một tuần, tha hồ ăn chơi nhảy múa, đánh lộn, và tại nạn giao thông. Tại Hà Nội sẽ bắn pháo hoa tầm cao ở năm điểm vào đêm 30 tháng Tư.

Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh có duyệt binh và diễu hành huy động tới 6000 người, mô phỏng lại toàn cảnh của 20 sư đoàn chia thành năm cánh quân vây hãm Sài Gòn 40 năm trước.

Về đêm có đại nhạc hội trên nhiều ngả đường với chủ đề “Như có Bác trong ngày vui đại thắng.” Có tám điểm bắn pháo hoa tầm cao để những em bé lượm ve chai ở xa ngoại thành vẫn có thể nhìn thấy. Theo ông Phan Đăng Long – Phó trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội thì “Người nghèo họ cũng khao khát được xem bắn pháo hoa, những lúc thưởng thức bắn pháo hoa giúp họ quên đi cái nghèo, cái khó, những cái vất vả luôn đeo bám cuộc sống của họ bấy lâu nay”.

Có khoảng 600 phóng viên của 88 cơ quan truyền thông trực tiếp đưa tin. Cũng có khoảng 20 phóng viên nước ngoài đăng ký tác nghiệp.

Kinh phí giành cho đại lễ này vẫn được giữ bí mật. Ở Việt Nam chi phí cho lễ hội cũng là bí mật quốc gia, không ai đươc phép biết.

Biên tập viên Đàn Chim Việt

© Đàn Chim Việt