Lượm lặt tin 22-5-15

Lượng kiều hối chuyển về Sài Gòn gia tăng

Lượng kiều hối chuyển về thành phố Sài Gòn chỉ trong 4 tháng đầu năm 2015 đã đạt $1.4 tỷ, tăng 19.6% so với cùng kỳ năm trước.

Ngày 20 tháng 5, Tuổi Trẻ dẫn tin từ ông Nguyễn Hoàng Minh, phó giám đốc Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh thành phố Sài Gòn, cho biết, lượng kiều hối chuyển về thành phố Sài Gòn 4 tháng đầu năm đạt $1.4 tỷ, tăng 19.6% so với cùng kỳ năm trước.


Lượng kiều hối gởi về Việt Nam tăng dần mỗi năm. (Hình: Tuổi Trẻ)

Lý do kiều hối tăng cao, theo ông Minh, là do năm nay Tết Nguyên Ðán rơi vào giữa tháng 2 nên cao điểm kiều hối rơi vào tam cá nguyệt 1, trong khi mọi năm thường rơi vào tam cá nguyệt 4 của năm trước đó.

Những năm gần đây, lượng kiều hối chuyển về thành phố Sài Gòn tăng bình quân 8 đến 10%/năm, ông Minh dự đoán với tình hình hiện nay lượng kiều hối chuyển về Sài Gòn trong năm 2015 sẽ khoảng $5.3 đến $5.5 tỷ. Ðó là chưa kể lượng tiền khá lớn được Việt kiều chuyển về cho người thân bằng các hình thức khác mà không thông qua hệ thống chính thức của nhà nước.

Tin cho biết, kết quả nghiên cứu về kiều hối tại Việt Nam của Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương cho thấy, trong 4 năm gần đây, lượng kiều hối về Việt Nam liên tục tăng: năm 2011 đạt $9 tỷ, năm 2012 là $10 tỷ, năm 2013 là $11 tỷ và năm 2014 đạt $12 tỷ.

Trong khi đó, mở phiên giao dịch sáng ngày 20 tháng 5, tỷ giá Mỹ kim tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam lại tiếp tục tăng. Cụ thể, ngân hàng Vietcombank niêm yết tỷ giá ở mức 21,770 – 21,830 đồng/$1 (mua-bán), tăng 10 đồng; Ngân hàng ACB, hiện niêm yết ở mức 21,760 – 21,840 đồng/$1, tăng 10 đồng và ngân hàng Eximbank cũng niêm yết giống Ngân hàng ACB, nhưng tăng 15 đồng so với cùng thời điểm sáng qua.

Riêng các tiệm mua bán vàng và đổi tiền “chợ đen,” giá đổi Mỹ kim luôn cao hơn ngân hàng từ 10-15 đồng/$1. Như vậy, hiện tỷ giá Mỹ kim chỉ còn cách mức trần quy định của Việt Nam (21,890 đồng/$1) khoảng 40- 50 đồng

————————————–

Xơ vữa động mạch: Nguyên nhân chính gây đột quỵ

Xơ vữa động mạch là bệnh do động mạch bị xơ cứng và nhỏ hẹp hơn bình thường. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ vùng nào trong cơ thể và là nguyên nhân chính gây đột quỵ.

Chuột rút có thể là báo hiệu của xơ vữa động mạch

Ở giai đoạn sớm của bệnh, không thấy có dấu hiệu bất thường nào. Dần dần về sau, các triệu chứng biểu hiện rõ ràng hơn. Nguyên nhân là do dòng máu cung cấp tới các tạng trong cơ thể bị giảm dần. Nếu động mạch vành cung cấp máu cho cơ tim bị tắc, nhẹ sẽ xuất hiện triệu chứng đau tức ngực; nặng thì xảy ra cơn đau tim đột ngột gây tử vong.

Nhiều cơn đột quỵ ở người cao tuổi thường do động mạch cung cấp máu cho não bị xơ cứng và bị hẹp. Trường hợp động mạch ở cẳng chân bị xơ vữa, thường có triệu chứng đầu tiên là cơn đau cơ kiểu “chuột rút”, do máu không được cung cấp đầy đủ ở cẳng chân.

ss
Ảnh minh họa

Các biến chứng nguy hiểm của xơ vữa động mạch

Nhồi máu cơ tim: Là hiện tượng xảy ra khi huyết khối xuất hiện ở động mạch vành (động mạch dẫn máu nuôi tim), dẫn đến chết mô tim, loạn nhịp tim, thậm chí làm tim ngừng đập.

Nhồi máu cơ tim thường xảy ra đột ngột, nhanh và rất nguy hiểm. Khoảng 1/4 đến 1/3 bệnh nhân chết trước khi kịp đến bệnh viện. Trong số những người nhập viện, có 5% đến 10% chết do các biến chứng như suy tim, rối loạn nhịp tim.

Đột quỵ (còn gọi là tai biến mạch máu não): Là căn bệnh nguy hiểm đứng thứ 2 sau tim mạch và ung thư. Đột quỵ dạng nhũn não xảy ra khi xuất hiện huyết khối ở động mạch dẫn máu lên não. Nếu nhẹ có thể bị tê, liệt nửa người, trường hợp nặng, bệnh nhân có thể ngưng thở và tử vong. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân phổ biến gây đột quỵ não.

ss
Một chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp tăng cường sức khỏe, tránh xơ vữa động mạch hiệu quả.
(Ảnh minh họa)

Thay đổi lối sống phòng đột quỵ

Để phòng ngừa đột quỵ não, người bị xơ vữa động mạch cần phải thay đổi lối sống sao cho khoa học hơn.

Chẳng hạn như việc thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, tích cực hoạt động thể lực, duy trì cân nặng ở mức cho phép, bỏ hút thuốc lá và giảm căng thẳng…

Bên cạnh đó, các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ cũng đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn để phòng ngừa, hỗ trợ điều trị xơ vữa động mạch, ngăn chặn nguy cơ dẫn tới đột quỵ. Điển hình trong số đó là thực phẩm chức năng Nattospes.

Sản phẩm đã được nghiên cứu tại nhiều bệnh viện lớn như bệnh viện Quân y 103, bệnh viện Trung ương Quân đội 108, bệnh viện Bạch Mai… Kết quả đều cho thấy, Nattospes giúp giảm đông máu, cải thiện sức cơ và di chứng tốt, dự phòng đột quỵ tương đương với aspirin, không gây tác dụng phụ.

Nattospes có thành phần chính là nattokinase – một loại enzym được chiết xuất từ đậu tương lên men theo phương pháp truyền thống của Nhật Bản, giúp ngăn chặn và phá được các cục máu đông – tác nhân cơ bản gây đột quỵ. Nattospes rất hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, ngăn chặn đột quỵ tái phát; phòng ngừa đột quỵ não ở bệnh nhân xơ vữa động mạch và các nguyên nhân khác như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch,…

Năm 2014, Nattospes vinh dự nhận giải thưởng “Top 100 sản phẩm tốt cho gia đình và trẻ em” do người tiêu dùng bình chọn và giải thưởng “Sản phẩm vàng vì sức khỏe cộng đồng” do Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam trao tặng.

Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc: Họ đã bộc lộ rõ ý định ‘thanh trừng’!

Vì sao từ bỏ ‘Hội Nhà Văn Việt Nam’? (Kỳ 2)

Liêu Thái/Thực hiện

Lời Tòa Soạn: Hôm 11 Tháng Năm vừa qua, 20 nhà văn, nhà thơ tại Việt Nam cùng tuyên bố từ bỏ Hội Nhà Văn Việt Nam, một cơ quan ngoại vi của đảng CSVN. Sự kiện này gây chấn động trong giới văn nghệ tại Việt Nam. Một trong những lý do đưa ra là “nhận thấy tình trạng suy thoái của hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi để thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản.”

Ðể tìm hiểu thêm, báo Người Việt lần lượt phỏng vấn các nhà văn, nhà thơ về hành động này. Loạt bài phỏng vấn do Liêu Thái thực hiện.


Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc. (Hình: Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc cung cấp)

Người Việt (NV): Thưa bà, bà vui lòng cho biết đã tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam năm nào? Và những hoạt động thường niên của hội này diễn ra như thế nào?

Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc (NTKC): Tôi vào Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1983, sau khi tốt nghiệp khóa I Trường Viết văn Nguyễn Du-Hà Nội 1982. Mối liên hệ giữa hội và tôi là tôi nhận được các loại báo biếu: Văn Nghệ, tạp chí Thơ, tạp chí Văn và tạp chí Văn học Nước ngoài theo định kỳ. Mỗi năm, tôi nhận thư hội yêu cầu đề xuất những tác phẩm (của tất cả hội viên) mà mình cho rằng có thể đưa vào xét giải thưởng. Các trại sáng tác tổ chức không định kỳ, hội viên có thể ghi tên tham dự. Có các khu nhà sáng tác (ở Hà Nội, Nha Trang, Ðà Lạt,…) để hội viên có thể đến đấy ngồi viết (nếu có kế hoạch) và sẽ được tài trợ một số tiền gọi là đầu tư sáng tác. Tôi chưa tham gia các hoạt động này bao giờ.

NV: Những hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam trong quá trình bà đang là hội viên tạo ra những tương tác nào trong sáng tác của bà?

NTKC: Với tôi, điều đó không nhiều. Từ khi vào hội đến nay, tôi chỉ ngồi ở nhà sáng tác Ðại Lải-Hà Nội một lần và một mình trong một tuần (không phải dự trại đông người, có tài trợ) vào năm 1983, để viết mấy truyện ngắn.

Làm việc ở các nhật báo chính trị xã hội (Tuổi Trẻ, Thanh Niên) rất bận rộn, tôi ít có thời gian để tham gia thường xuyên các hoạt động hội như những nhà văn ở các hội văn nghệ địa phương. Hầu hết sáng tác của tôi được viết một cách riêng rẽ, cá nhân. Do công việc ở báo (biên tập viên văn học), tôi luôn đọc nhiều (cả bản thảo và sách in) nên nắm rõ chuyện viết lách và tác phẩm của các nhà văn, thường xuyên có sự kết nối với từng người. Song việc này lại không liên quan đến hội.

NV: Hiện tại, vẫn có rất nhiều cây bút ở các chi hội văn học nghệ thuật tỉnh vẫn đang cố gắng in nhiều tác phẩm để đủ chuẩn thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam. Bà nghĩ gì về khuynh hướng nỗ lực tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam của số đông các cây bút này?

NTKC: Phải hiểu rằng Hội Nhà Văn Việt Nam là tổ chức duy nhất “cấp thẻ chuyên nghiệp” cho các nhà văn. Những cây bút ở các địa phương luôn “phấn đấu” để đạt tiêu chuẩn được xét kết nạp: có hai đầu sách in (trên lý thuyết là sách “đạt chất lượng”) và được 2 hội viên cũ giới thiệu. Danh hiệu hội viên Hội Nhà Văn VN như một sự “cầu chứng tại tòa” để người viết cảm thấy mình đã trở thành nhà văn chuyên nghiệp ở-cấp-quốc-gia. Từng có người sau khi vào Hội Nhà Văn VN đã nhanh chóng đề nghị những ai chưa phải hội viên thì không được dùng danh xưng “nhà văn” mà chỉ được phép xưng là “cây bút” (sic). Dẫu có vẻ khó khăn trầm trọng thế nhưng vẫn có những hội viên mà các đồng nghiệp không hề biết họ từ đâu mà xuất hiện.

NV: Theo bà, đâu là sức hút đích thực của một hội nhà văn đối với giới cầm bút?

NTKC: Tôi cho rằng một hội nhà văn đích thực phải là nơi khiến các nhà văn cảm thấy tin cậy và hứng khởi để có thể tháo tung năng lượng sáng tạo của mình mà không lo bị kiềm chế hay kiểm duyệt. Nó sẽ gồm những đồng nghiệp cầm bút biết chia sẻ khó khăn của nhau và biết tôn vinh những tài năng thực sự như lẽ công bằng phải vậy. Nó giúp cho nhà văn yên tâm viết lách nhờ những tương tác hoàn toàn vô vị lợi và thực sự có trách nhiệm.

NV: Với trải nghiệm lâu năm của một nhà văn là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, bà cảm thấy những hoạt động cũng như cơ chế của hội này có tạo ra được sinh quyển sáng tạo để từ đó nhà văn có thể tự do phóng bút theo dòng cảm xúc đương đại?

NTKC: Quá nhiều sự việc đã và đang xảy ra cho thấy không có điều đó. Lãnh đạo Hội Nhà Văn VN đương nhiệm đang muốn xác quyết chỉ mình là tổ chức duy nhất có quyền hoạt động nghề văn và không ai được “cạnh tranh” thế độc quyền này. Liệu có thể xem đây là cách làm đúng đắn của một hội nghề nghiệp, nơi tập hợp những người cầm bút?

NV: Khi quyết định từ bỏ một thực thể nào đó đã gắn kết lâu năm với mình, đương nhiên người từ bỏ sẽ có những đắn đo và suy tư nào đó, từ bỏ Hội Nhà Văn cũng vậy, bà có những đắn đo và suy tư gì?

NTKC: Ðã từ lâu, những hoạt động thường xuyên của hội cứ ngày một trở nên “có vấn đề” hơn. Không phải chỉ hội viên phản ứng mà báo chí (chính thống) cũng như các trang mạng đều đã nhiều lần đề cập. Hiện tượng Hoàng Quang Thuận, việc kết nạp hội viên mới, việc trao giải tùy tiện… khiến nhiều hội viên ngán ngẩm. Có người lên tiếng, cũng có người im lặng. Nhiều người đã lẳng lặng từ bỏ sinh hoạt hội mà không nói rõ lý do.

Khi xảy ra việc lãnh đạo Hội Nhà Văn VN công khai kêu gọi gạch tên những đồng nghiệp trong Ban Vận Ðộng Văn Ðoàn Ðộc Lập, họ đã bộc lộ rõ ý định “thanh trừng,” không cho phép các nhà văn này có mặt trong đại hội, để mình trở thành kẻ phát ngôn độc quyền, duy nhất về mọi chuyện. Với những đồng nghiệp như thế thì còn phải đắn đo, băn khoăn gì nữa…

NV: Cấu trúc và cơ chế hoạt động của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện tại, theo bà, có những điều bất ổn nào và tính hợp lý của nó nằm ở đâu?

NTKC: Xã hội đã có rất nhiều thay đổi. Công chúng giờ đây rất thông thái, am hiểu tỏ tường mọi chuyện đang xảy ra qua vô số thông tin hằng ngày trên mạng. Nhiều độc giả giỏi hơn các nhà văn, không dễ dàng bắt họ phải “thưởng thức” những thực đơn độc quyền mà Hội Nhà Văn VN dọn ra cho họ. Chẳng rõ lãnh đạo Hội Nhà Văn VN có biết điều này hay không…?

NV: Bà có tham gia Văn Ðoàn Ðộc Lập? Bà có nhận xét nào về Văn Ðoàn Ðộc Lập?

NTKC: Tôi tham gia Ban Vận Ðộng Văn Ðoàn Ðộc lập một cách bình thường, bởi tôi tán thành và chia sẻ các quan niệm về nghề văn với những người cùng đứng tên: Vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản.

Ðiều khác biệt đáng kể của Ban Vận Ðộng Văn Ðoàn Ðộc Lập so với Hội Nhà Văn VN là các thành viên phải tự bỏ tiền túi ra để hoạt động chứ không nhận tài trợ từ bất cứ đâu. Ðó là điều kiện tiên quyết/căn bản để không bị lệ thuộc.

NV: Với tư cách là một nhà văn thuộc lớp gạo cội trong giới cầm bút Việt Nam, bà có dự đoán nào về tương lai văn học Việt Nam (kể cả chính thống và phi chính thống) trong những năm tới?

NTKC: Tôi xin được từ chối danh từ “nhà văn gạo cội” trong câu hỏi. Theo hiểu biết của tôi, cho dù đang có vô vàn khó khăn, vẫn đang xuất hiện thêm những nhà văn mới và những tác phẩm mới giá trị. Những nhà văn này không tự cấm đoán mình dù trong nội dung hay hình thức tạo nên tác phẩm. Họ sẽ là lớp đầu tạo bước chuyển cho văn học Việt Nam tương lai.

NV: Xin cám ơn bà!

@NguoiViet

Trung Quốc cảnh cáo máy bay do thám Mỹ; Biển Đông căng thẳng

WASHINGTON, DC (NV) – Hải Quân Trung Quốc hôm Thứ Tư đưa ra cảnh cáo tám lần đối với một máy bay do thám của Mỹ, đang bay thấp xuống trên quần đảo Trường Sa, nơi mà Bắc Kinh đang gia tăng khu vực ảnh hưởng của mình bằng cách xây dựng và bồi đắp một số đảo, theo một bản tin của đài truyền hình CNN.

Sự thay đổi ở hai thời điểm 14 Tháng Hai, 2014 và 17 Tháng Tư, 2015 của bãi đá ngầm Đá Thập mà Trung Quốc chiếm của Việt Nam đang được bồi đắp thành đảo nhân tạo gồm cả phi trường và cảng biển. (Hình: Digital Globe)

Trong khi đó, trong một cuộc hội thảo ở thủ đô Jakarta của Indonesia, ông Antony Blinken, phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ, người vừa có chuyến viếng thăm Việt Nam, cảnh cáo rằng “hành động làm đảo nhân tạo ở Trường Sa của Trung Quốc đe dọa tự do hải hành và sự ổn định, có nguy cơ gây căng thẳng dẫn đến xung đột tại khu vực Biển Đông.”

Sự kiện Trung Quốc bồi đắp các đảo trên Biển Đông với mục đích quân sự gây lo ngại cho Ngũ Giác Đài, và Hoa Kỳ đã tiến hành các chuyến bay do thám để bảo đảm Washington không công nhận đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh trên Biển Đông.

Sự kiện “quân sự hóa” các đảo này của Trung Quốc cũng làm các đồng minh của Mỹ trong khu vực lo ngại.

Ông Michael Morell, cựu phó giám đốc CIA, nói với phóng viên Erin Burnett của CNN hôm Thứ Tư rằng sự đối đầu này cho thấy “hoàn toàn” có thể có một cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong tương lai.

CNN cho biết, lần đầu tiên, Ngũ Giác Đài cho một số phóng viên của họ được đi trên các chuyến bay do thám này, để tạo sự chú ý của công luận về những thách thức trong khu vực và phản ứng ngày càng gia tăng của Hoa Kỳ.

Trên chiếc máy bay P8-A Poseidon, loại phi cơ do thám và săn tìm tàu ngầm tối tân nhất của Mỹ, các phóng viên của CNN nhanh chóng nhận ra sự không hài lòng của Trung Quốc.

“Đây là Hải Quân Trung Quốc… Đây là Hải Quân Trung Quốc…Làm ơn đi khỏi chỗ khác…để tránh hiểu lầm,” một giọng nói bằng tiếng Anh nghe lốp bốp qua radio trên chiếc máy bay do thám của Mỹ, theo tường thuật của CNN.

Đây là lần đầu tiên Ngũ Giác Đài công khai băng video cho thấy các hoạt động xây dựng của Trung Quốc và cho nghe những âm thanh thách thức máy bay Mỹ, theo CNN.

Lúc đó, theo CNN, chiếc P8-A Poseidon đang bay ở độ cao 15,000 foot, tức là thấp nhất. Tuy nhiên, quân đội Hoa Kỳ đang tính sẽ bay gần các hòn đảo hơn, cũng như sẽ cho tàu chiến đi sát khu vực các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền 12 hải lý, như là một hành động khẳng định sức mạnh của Hoa Kỳ trong khu vực.

Công việc do thám của Mỹ hôm Thứ Tư đặc biệt theo dõi các hoạt động của Trung Quốc trên ba hòn đảo mà cách đây vài tháng chỉ là những rặng san hô, không trồi lên khỏi mặt nước biển. Bây giờ, những đảo này đã được bồi đắp và đều có các công trình xây dựng mà Hoa Kỳ lo ngại sẽ được sử dụng như các vị trí quân sự sau này.

Ông Morell cảnh báo rằng, với những gì Trung Quốc đang làm, trong đó có hiện đại hóa và gia tăng hoạt động của quân đội, có thể “tạo một sự đối đầu thật sự, một sự kiện tệ hại xảy ra.”

“Họ không muốn chiến tranh, và chúng ta cũng không muốn,” ông Morell thừa nhận. “Nhưng rõ ràng, có một sự mạo hiểm ở đây.”

Trở lại cuộc hội thảo ở Jakarta, ông Blinken nói: “Khi Trung Quốc đang muốn xây dựng chủ quyền lãnh thổ từ các lâu đài cát và vẽ vạch lại hải phận, họ làm xói mòn lòng tin cậy lẫn nhau ở khu vực và tổn hại niềm tin của giới đầu tư.”

Cuối tuần qua, Ngoại Trưởng John Kerry của Mỹ tới Bắc Kinh khuyến cáo Trung Quốc nên hành động giảm bớt sự căng thẳng. Tuy nhiên, qua phản ứng của ông Vương Nghị, ngoại trưởng Trung quốc, Bắc Kinh nhất quyết bảo vệ chủ trương xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa và lợi ích của họ tại đó “cứng như đá.”

“Chúng ta cần quản lý các tranh chấp tuyên bố chủ quyền bằng phương thức ngoại giao. Chúng tôi (Hoa Kỳ) không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp nhưng chống đối mạnh mẽ các hành động nhắm lấn át các nước khác bằng võ lực hay đe dọa,” ông Blinken nói.

Ông cho hay tiếp rằng Hoa Kỳ khuyến cáo các bên tranh chấp giải quyết các bất đồng dựa trên các luật lệ quốc tế.

Một ngày trước cuộc hội thảo ở Jakarta, nữ Đô Đốc Michelle Howard của Hải Quân Hoa Kỳ tuyên bố với báo chí ở Singapore rằng nếu các nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) đoàn kết chống lại chủ trương bành trướng bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông thì Hoa Kỳ sẵn sàng hậu thuẫn. Bà cũng kêu gọi Trung Quốc công khai nói rõ ý định khi làm các đảo nhân tạo đó thì dùng vào việc gì.

Phụ Tá Ngoại Trưởng Antony Blinken gặp Bộ Trưởng Công An Việt Nam Trần Đại Quang tại Hà Nội. (Hình: U.S. Embassy)

Theo một bản thông báo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Antony Blinken đang du hành qua ba nước Việt Nam, Indonesia và Miến Điện từ ngày 16 đến ngày 23 Tháng Năm.

Khi đến Hà Nội, ông Blinken đã gặp một số giới chức cao cấp của Việt Nam, trong đó có Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh và Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang.

Theo một đoạn tin ngắn trên Facebook của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, ông Blinken còn gặp một số thành viên các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam. Các cuộc thảo luận của ông bao gồm từ TPP đến sự hợp tác khu vực hầu nâng cao mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ theo thỏa thuận đối tác toàn diện đã đạt được từ năm 2013.

Khi nói về chuyến thăm của ông Blinken, Thông Tấn Xã Việt Nam chỉ viết về cuộc tiếp xúc của ông với ông Phạm Bình Minh hôm 18 Tháng Năm và cho biết “ông Antony Blinken khẳng định lãnh đạo Hoa Kỳ rất coi trọng chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trong những ngày tới; Bộ Ngoại Giao và các cơ quan liên quan đang tích cực chuẩn bị để chuyến thăm thành công.”

Trong TPP có TPA

Trong TPA có TAA – và nhiều thứ lẩm cẩm khác

Hùng Tâm

Hoa Kỳ đang thương thuyết với 11 quốc gia Thái Bình Dương, Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là TPP); và với 28 nước của Liên Hiệp Âu Châu, Hiệp Ước Xuyên Ðại Tây Dương về Thương Mại và Ðầu Tư (gọi tắt là T-TIP).

Vì Liên Âu đã là một khối tự do mậu dịch và Hoa Kỳ đã có thỏa ước song phương với nhiều nước trong khối, việc đàm phán hiệp ước T-TIP không gặp nhiều trở ngại và ít được chú ý bằng hiệp ước TPP.

Về kinh tế thì hai hiệp ước có tầm quan trọng gần tương tự, với sản lượng tổng cộng của nhóm T-TIP là 40% sản lượng toàn cầu và của nhóm TPP là khoảng 37%. Về chính trị và an ninh, là hai yếu tố chiến lược khác ngoài kinh tế, hiệp ước TPP lại quan trọng hơn vì bao gồm Nhật Bản mà không có Trung Quốc. Một yếu tố cũng đáng kể là từ năm 2011, Trung Quốc đàm phán với 16 nước Á Châu hiệp ước Ðối tác Toàn diện Khu vực (RCEP) là 10 nước của Hiệp hội ASEAN và Nhật Bản, Ấn Ðộ, Nam Hàn, Úc và Tân Tây Lan (New Zealand), một khối kinh tế không có Hoa Kỳ.

Kỳ này, Hồ Sơ Người Việt sẽ tìm hiểu riêng về những ngoắt ngoéo bên trong Hiệp Ước TPP.

Bối cảnh toàn cầu

Hoa Kỳ đang đàm phán về TPP với 11 quốc gia trong vành cung Thái Bình Dương và Trung Quốc đang đàm phán về RCEP với 15 nước Châu Á. Các yếu tố kinh tế lẫn chiến lược cho thấy tầm quan trọng của cuộc đua. Ðã vậy, Trung Quốc lại đang chiêu dụ các nước với nhiều sáng kiến khác như 1) Tân Ngân hàng Phát triển của nhóm BRICS với 100 tỷ đô la, 2) Ngân hàng Ðầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB với sự tham gia của 57 nước (không có Hoa Kỳ và Nhật Bản) cũng với 100 tỷ và 3) Con đường tơ lụa mới, trên biển và trong đất liền, với rất nhiều quốc gia từ Á sang Âu và dự trù nhiều trăm tỷ đô la…

Ðấy là bối cảnh toàn cầu và toàn diện của các hiệp ước, sáng kiến hay dự án đang được đàm phán.

Trong khung cảnh đó, tầm quan trọng của hiệp ước TPP là hiển nhiên, và Hoa Kỳ ở vào chặng cuối để có thể hoàn thành hiệp ước sau 20 vòng đàm phán đa quốc và những cuộc đàm phán song phương với từng nước.

Vì sức nặng kinh tế của mình, nước Mỹ giữ vai chủ yếu trong việc đàm phán với các nước. Nhưng vì những lắt léo về luật lệ bên trong, nước Mỹ chỉ hoàn tất việc thương thuyết nếu Hành pháp được Quốc Hội trao quyền đàm phán nhanh (gọi là “fast track”) qua đạo luật Trade Promotion Authority, viết tắt là TPA. Trở ngại xảy ra khi đạo luật đó không được phe Dân Chủ trong Quốc Hội tái tục từ năm 2012. Trong Tháng Tư và mấy tháng tới, hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa tại lưỡng viện Quốc Hội phải khai thông trở ngại để biểu quyết dự luật TPA, hầu dự án TPP có thể thành hình năm nay, như Tổng Thống Barack Obama đã yêu cầu và thúc đẩy từ năm 2012.

Những ngón võ nghị trường

Chuyện rắc rối là các dân biểu nghị sĩ lại gài vào dự luật TPA nhiều điều kiện khác để thỏa mãn những đòi hỏi trái ngược khiến cho nếu được thông qua, đạo luật TPA lại gây ra trở ngại khác vì có thể xóa bỏ những cam kết của nước Mỹ với các nước qua nhiều vòng đàm phán trước đây.

Các dân biểu nghị sĩ đều phải thỏa mãn đòi hỏi của cử tri để có thể tái đắc cử nên mới cài đặt các điều kiện trong từng bước làm luật. Ðây là những ngón võ nghị trường rất lắt léo khó hiểu.

Về thủ tục làm luật bên Lập pháp, xin được trình bày ngắn gọn rằng một sáng kiến được đề nghị để biểu quyết thì nên gọi là đề luật (proposition). Qua được chặng đó rồi thì người ta mới có một dự luật (truyền thông hay viết là Bill), rồi nếu dự luật được đa số thông qua thì mới thành một đạo luật (Act) – có giá trị cưỡng hành hay không và có được tổng thống ban hành hay không thì còn tùy.

Dự luật TPA đã trải qua tiến trình đàm phán hay mặc cả tại Thượng Viện qua nhiều đề luật và dự luật rắc rối đi kèm dự luật TPA. Trong tuần này, người ta hy vọng là Thượng Viện sẽ thông qua dự luật với đa số là 51 phiếu của 100 nghị sĩ rồi mới đến lượt Hạ Viện. Tại viện dưới có 435 dân biểu, người ta sẽ còn nhiều chặng đàm phán hay trả giá khác để thống nhất dự luật của hai viện và đưa ra biểu quyết với đa số là 218 phiếu. Trận đánh sắp tới tại Hạ Viện sẽ còn khó khăn hơn trận đánh vừa qua tại Thượng Viện.

Nhưng tổng thống vẫn có quyền phủ quyết nếu đạo luật thành hình lại có những khoản mà ông cho là không chấp nhận được. Gặp trường hợp đó, Quốc Hội phải biểu quyết lại và hội đủ hai phần ba số phiếu thì mới vượt qua rào cản của Hành pháp và Ðạo Luật TPA mới có giá trị. Khi ấy, nó là cơ sở cho Hành pháp xúc tiến việc thương thuyết với các nước đối tác, nhiều khi là thương thuyết lại những gì đã được đồng ý qua các vòng đàm phán trước.

Sau khi đạt được sự thống nhất quan điểm và cam kết của ngần ấy quốc qua, Hiệp Ước TPP mới thành hình và đưa qua Quốc Hội biểu quyết. Nếu được sự phê chuẩn của đa số trên 50% thì văn kiện này mới được tổng thống chính thức ban hành. Từ nay đến đó, ngón võ nghị trường vẫn tiếp tục. Song song, 11 quốc gia còn lại trong nhóm TPP cũng phải được Quốc Hội của mình phê chuẩn thì thế giới mới có khối TPP với những quy định chi tiết về việc giao dịch trong tương lai.

Sau phần bối cảnh đó, Hồ Sơ Người Việt xin nói riêng về một điều kiện mới được cài trong dự luật TPA để tiến tới TPP. Trong một kỳ sau, ta sẽ xét đến một vụ cài đặt khác, là đạo luật trợ cấp cho các công nhân Mỹ bị thiệt hại khi cạnh tranh trong một hiệp ước tự do thương mại. Luật TAA hay Trade Adjustment Assistance cũng là một điều kiện chính trị mị dân, mà vô hiệu, nhưng vẫn được đưa vào dự luật TPA.

Lũng đoạn hối đoái

Tuần qua, tại Thượng Viện, Nghị Sĩ Dân Chủ Charles Shummer của New York đã đưa ra đề luật về lũng đoạn hối đoái (currency manipulation) được thông qua với tỷ số 78-20. Tổng Thống Obama nói trước rằng nếu đề luật này được cài vào dự luật TPA thì ông sẽ phủ quyết.

Chuyện này là gì?

Từ đã lâu, đa số dân cử bên Dân Chủ và vài người bên Cộng Hòa vẫn kết án Bắc Kinh lũng đoạn hối đoái để xuất cảng cho rẻ bằng cách ấn định hối suất đồng bạc quá thấp so với Mỹ kim. Ðồng bạc Trung Quốc, là đồng Nguyên, Yuan (cũng gọi là Nhân dân tệ Renminbi với ký hiệu RMB) được Bắc Kinh giàng giá vào Mỹ kim theo tỷ giá thời ấy là tám đồng mới ăn một đô la, và cho giao dịch buôn bán trong biên độ 1% cao hay thấp hơn giá chính thức mà họ ấn định.

Vì vậy Quốc Hội Mỹ mới ra luật lệ về nạn lũng đoạn đối đoái theo đó nếu có doanh nghiệp Mỹ bị thiệt hại vì hàng Trung Quốc (hay bất kỳ xứ nào khác) nhập vào quá rẻ thì có quyền khiếu nại lên Bộ Thương Mại để điều tra xem quốc gia đó có hay không can thiệp vào hối đoái nhằm nâng đỡ hàng xuất cảng của mình và gây thiệt hại cho doanh nghiệp Mỹ. Nếu việc điều tra xác nhận là có thì Mỹ sẽ có biện pháp trừng phạt, như tăng hối suất nhập nội đánh trên các món hàng đó.

Sự thật kinh tế bên dưới chuyện này là những gì?

Hoa Kỳ có nền kinh tế mạnh, với thị trường tiêu thụ lớn, trong đó chỉ có 13% hàng tiêu thụ là nhập cảng mà có khi là nhập cảng hàng hóa do các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào xứ khác mà bán ngược về Mỹ. Tác động của việc trợ giá xuất cảng hàng nhập vào Mỹ chỉ giới hạn trong tỷ lệ 13% này, và thực tế còn thấp hơn.

Những người chủ trương việc trừng phạt tội lũng đoạn cho rằng hàng Trung Quốc làm nước Mỹ mất hai triệu việc làm kể từ năm 2000. Số dân lao động tại Hoa Kỳ là 150 triệu người, nếu quả thật là vì hàng Trung Quốc mà mất hai triệu việc làm, chủ yếu là trong khu vực chế biến, thì tỷ lệ thiệt hại ấy là 1.3% trong 10 năm. Trong khi đó, nhờ tự do thương mại và sức cạnh tranh của nước ngoài, nhiều doanh nghiệp Mỹ đã tạo thêm nhiều việc làm khác trong khu vực siêu kỹ thuật và dịch vụ. Tỷ lệ “thêm” và “bớt” này không được các chính trị gia để ý tới mà chỉ tung ra lập luận là vì Trung Quốc mà ta mất hai triệu việc làm.

Ðấy là điều cần cứu xét lại!

Thứ hai, trong bảy năm liền, Hoa Kỳ ồ ạt bơm tiền vào kinh tế qua biện pháp quantitative easing khiến tiền nhiều và rẻ đã đánh sụt hối suất Mỹ kim cho tới năm ngoái. Khi đó, nhiều quốc gia kết án Hoa Kỳ là cố tính phá giá và mở ra cuộc chiến về ngoại tệ, tức là cũng bơm tiền để đồng bạc của mình giảm giá. Nghĩa là nhìn từ quan điểm của nhiều xứ khác, Mỹ cũng gián tiếp lũng đoạn hối đoái!

Nhưng từ năm ngoái, Mỹ kim lại lên giá vì kinh tế Hoa Kỳ vẫn có triển vọng cao nhất trong khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật. Khi đó chẳng còn ai than là Mỹ lũng đoạn hối đoái nữa.

Chuyện thứ ba, từ năm năm nay, Bắc Kinh đã thay đổi chính sách hối đoái và lặng lẽ nâng tỷ giá đồng Nguyên từ tám đồng lên sáu đồng một Mỹ kim – chỉ cần sáu đồng là đổi được một đô la. Nếu đồng nguyên lên giá gần một phần ba như vậy thì ta khó nói đến nạn lũng đoạn. Huống chi là tuần qua, đúng ngày Nghị Sĩ Schummer cài thêm dự luật trừng phạt tội lũng đoạn ngoại tệ, Bắc Kinh lại còn nâng hối suất đồng bạc và mở rộng biên độ giao dịch từ 1% lên 2%.

Nói các khác, gán cho Bắc Kinh tội lũng đoạn hối đoái là chuyện lỗi thời!

Trong khi ấy, Nhật Bản mới đang ráo riết bơm tiền theo phương pháp quantitative easing để kích thích kinh tế nên đồng Yen tuột giá mạnh và có thể bị Quốc Hội Hoa Kỳ kết tội là lũng đoạn hối đoái, trong khi Mỹ với Nhật mới là hai trụ cột của TPP đối diện với Trung Quốc!

Kết luận ở đây là gì?

Chính trường Mỹ có dấu hiệu bảo thủ và lỗi thời khi tạo khó khăn cho Hiệp Ước TPP.

Mà dân Mỹ không biết

Kinh tế Trung Quốc và tầm nhìn 10 năm

Kinh te Trung Quoc va tam nhin 10 nam

Ảnh minh họa (nguồn: China Economy

Nếu hỏi bất cứ một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào vào thời điểm nước này mở cửa vào năm 1978, rằng họ có dự đoán được rằng Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế số hai thế giới chỉ sau hơn ba mươi năm không, thì có lẽ phần lớn sẽ trả lời là “không”

Tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc trong ba thập kỷ vừa qua gần như đã vượt ra khỏi khả năng dự đoán của tất cả thế giới. Không chỉ vì tiềm lực khổng lồ của Trung Quốc, mà còn bởi quốc gia này thậm chí đã làm mọi cách để đẩy tốc độ này lên nhanh nhất có thể, bất kể cái giá phải trả lớn ra sao. Chính vì tốc độ phát triển của Trung Quốc quá lớn, nên việc vạch ra một kế hoạch và tầm nhìn dài hạn là điều không khả thi. Nếu như trong quá khứ và ở hiện tại, Trung Quốc nổi tiếng với những kế hoạch 5 năm theo kiểu xã hội chủ nghĩa. Thì giờ đây một tầm nhìn 10 năm có vẻ như là phù hợp với quốc gia này.

Trên thực tế, tầm nhìn và kế hoạch là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Trong những năm thập niên 90 của thế kỷ 20, nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhắc tới những điều như tầm nhìn 50 năm, và vạch ra những kế hoạch để hiện thực hóa tầm nhìn này. Những kế hoạch 5 năm chỉ là những bước cụ thể trong một chiến lược dài hạn mà thôi. Những kế hoạch 5 năm trong khoảng ba thập kỷ gần đây ở Trung Quốc được xem là thành công, là vì mô hình phát triển kinh tế ở quốc gia này đã được vạch sẵn kể từ khi mở cửa vào năm 1978. Nhưng giờ đây, khi mô hình ấy đã đến điểm cực hạn, thì vấn đề của người Trung Quốc là phải tìm ra một mô hình phát triển mới. Nói cách khác, Trung Quốc cần một tầm nhìn mới. Và tầm nhìn được chính phủ nước này công bố gần nhất, chỉ là 10 năm.

Theo đó, thủ tướng Lý Khắc Cường vừa công bố kế hoạch về một tầm nhìn có thời hạn 10 năm, từ nay đến năm 2025, theo đó mục tiêu chủ đạo là đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc sản xuất hàng đầu trên thế giới. Thoạt nghe điều này có vẻ nghịch lý khi mà Trung Quốc vốn đã được mệnh danh là công xưởng của thế giới trong nhiều năm gần đây, một phần lớn hàng hóa được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới có xuất xứ từ Trung Quốc. Hầu như mọi tiềm lực về con người và tài nguyên ở Trung Quốc đã được huy động vào quá trình sản xuất trong hơn ba mươi năm qua, và giờ đây Bắc Kinh lại muốn đẩy cao hơn nữa khả năng sản xuất của mình. Trên thực tế, ý định chủ yếu của Bắc Kinh là muốn di chuyển vị trí của Trung Quốc trên chuỗi cung ứng toàn cầu. Thay vì chỉ sản xuất ra những hàng hóa gia công giá trị thấp và ít lợi nhuận, Trung Quốc muốn trở thành một cường quốc sản xuất ra những hàng hóa công nghệ cao có giá trị lớn. Đây được xem là con đường mà những cường quốc công nghiệp như Nhật Bản và Đức đã từng đi, và giờ đây Trung Quốc cũng đang dò dẫm muốn bước theo con đường này.

Để thực hiện tầm nhìn này, Bắc Kinh đã đề ra một kế hoạch đầy tham vọng, đó là thúc đẩy sự phát triển của 10 lĩnh vực công nghệ chủ chốt và đặt mục tiêu để 10 lĩnh vực này đạt tầm thế giới chỉ trong vòng 10 năm. Từ công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ vũ trụ cho tới tàu cao tốc, hàng hải, y tế và tiết kiệm năng lượng. Mục tiêu đặt ra là trong 10 năm tới, cả 10 lĩnh vực này sẽ đủ sức cạnh tranh với những quốc gia hiện đang dẫn đầu thế giới về những lĩnh vực đó.
Kế hoạch này vì thế đang gợi cho thế giới nhớ lại kế hoạch Đại Nhảy Vọt thời Mao Trạch Đông, khi mục tiêu đặt ra khi đó là biến một nước Trung Quốc nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc công nghiệp nặng. Kế hoạch đầy tham vọng của Mao Trạch Đông cuối cùng đã sụp đổ và để lại cho Trung Quốc những hậu quả khủng khiếp. Xuất phát điểm của Trung Quốc ở thời điểm hiện tại đã khác xa so với một Trung Quốc lạc hậu về mọi mặt khi mới mở cửa cách đây hơn ba thập kỷ, nhưng khoảng cách giữa Trung Quốc với thế giới vẫn còn rất xa, và nó không thể san bằng chỉ trong 10 năm ngắn ngủi.
Kế hoạch về tầm nhìn 2025 của chính phủ Trung Quốc vì thế đang nhận được sự hoài nghi từ phía các nhà phân tích và nghiên cứu. Trước hết, tiềm lực của Trung Quốc ở thời điểm hiện tại không đủ để thực hiện kế hoạch tham vọng này. Ngay cả Mỹ vốn là cường quốc số một về kinh tế và công nghệ ở thời điểm hiện tại, cũng chỉ dẫn đầu thế giới ở một vài lĩnh vực trong số 10 lĩnh vực mà Bắc Kinh liệt kê.
Những lĩnh vực mà Mỹ dẫn đầu thế giới như công nghệ thông tin, y tế hay công nghệ vũ trụ đều là thành quả của những cuộc cách mạng lớn trong các lĩnh vực này trong nhiều năm trước. Công nghệ thông tin là một ví dụ, cuộc cách mạng công nghệ thông tin ở Mỹ trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 bắt nguồn từ việc Mỹ đầu tư lớn cho lĩnh vực công nghệ dân sự kể từ những năm cuối thập niên 1970. Với cuộc cách mạng công nghệ thông tin, Mỹ đã trở thành nước dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này, và liên tục đầu tư để duy trì vị thế đó trong suốt thời gian qua.

Nói cách khác, để đạt được vị trí số một thế giới trong lĩnh vực nhất định ở thời điểm hiện tại, điều kiện tiên quyết là phải tạo ra được một cuộc cách mạng trong lĩnh vực đó và đầu tư để duy trì vị thế dẫn đầu này. Những cường quốc kinh tế và công nghệ lớn như Nhật và Đức trên thực tế cũng chỉ đủ sức tạo được thành công trong một số ít lĩnh vực, với Nhật là công nghệ điện tử và tự động hóa, còn với Đức là cơ khí và năng lượng. Hơn nữa, đó còn phải là kết quả của một quá trình kéo dài và không thể dự đoán trước, thường là hàng chục năm. Vì thế, việc đặt ra kế hoạch đưa 10 lĩnh vực lên vị trí hàng đầu thế giới chỉ trong 10 năm của Trung Quốc được xem là điều không tưởng.

Các nhà phân tích cho rằng, nếu bỏ qua những mục tiêu mang tính khoa trương, thì cái đích chủ yếu mà Bắc Kinh nhắm tới trong kế hoạch về tầm nhìn 10 năm này chủ yếu là ở điểm, đó là tập trung vào việc đầu tư ra nước ngoài hơn là tập trung vào nền kinh tế quốc nội như trước. Trên thực tế, phần lớn những thành tựu kinh tế của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua là tìm cách khai thác những lợi thế kinh tế trong nước. Những tập đoàn và thương hiệu lớn của Trung Quốc hầu hết đều thành công và phát triển là nhờ khai thác thị trường nội địa khổng lồ dưới sự bảo hộ của chính phủ. Ngay cả những tập đoàn có tiếng nhất trên thế giới của Trung Quốc như Alibaba cũng chỉ có 5% thu nhập đến từ thị trường ngoài Trung Quốc. Và khi mà nền kinh tế quốc nội phát triển chậm lại và tổng cầu đã chạm ngưỡng, thì vấn đề sống còn của Trung Quốc là phải tìm cách đầu tư ra nước ngoài.

Lời tuyên bố của bộ trưởng công nghiệp và công nghệ thông tin Trung Quốc là Miao Wei về kế hoạch tầm nhìn 10 năm này của Bắc Kinh được xem như lời kết xác thực nhất: “Mục tiêu lớn nhất của kế hoạch này về cơ bản chỉ là nhằm đạt được khả năng sản xuất của Đức và Nhật trong giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa mà thôi”.

Nhàn Đàm (theo The Diplomat)

Trong cuộc chơi lớn: Nhận diện “đòn bẩy cơ sở hạ tầng” từ các kết nối với Trung Quốc

Đòn bẩy cơ sở hạ tầng tác động tích tực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào cách xử lí của quốc gia trong phạm vi đòn bẩy. Đối với Việt Nam hiện nay, nếu chưa tận dụng được lợi thế từ đòn bẩy này, thì ít nhất đừng để trở thành mục tiêu của nó.

Châu Á đang lên cơn sốt bởi “chính sách đối ngoại cơ sở hạ tầng” của Trung Quốc. Với “Một vành đai, Một con đường”, hướng đến kết nối một vùng không gian địa lý xuyên qua Âu-Á được đồng hành bởi các công cụ tài chính hỗ trợ như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) có số vốn khoảng 100 tỷ USD và Quỹ Con đường tơ lụa có vốn 40 tỷ USD, việc thiết lập một tuyến đường hai trục “nối đất” xuyên qua Trung Á, và “lấp biển” bắt đầu từ các hải cảng tại các nước Đông Nam Á có thể được xem như một “đại chiến lược” hiện thực hóa “giấc mơ Trung Hoa” dưới thời của thế hệ lãnh đạo thứ năm.

Chắc chắn đây không phải lần đầu tiên cơ sở hạ tầng (CSHT) được chú ý như một yếu tố quan trọng trong bối cảnh trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc toàn cầu. Nhưng dưới thời của Tập Cận Bình, đây trở thành “trọng tâm của các trọng tâm”. Bước ngoặt trên không chỉ xuất phát từ các phát biểu chính thức và thay đổi ưu tiên trong chính sách, mà còn việc thay đổi bản chất phát triển của nước này, cả về kinh tế, lẫn lựa chọn chính sách đối ngoại. Về kinh tế, từ một quốc gia nhập khẩu vốn, Trung Quốc đã dần chuyển sang quốc gia xuất khẩu vốn. Về chính sách đối ngoại, cuộc tranh luận của các học giả nước này cho thấy xu hướng chuyển dịch từ “ẩn mình chờ thời” (韬光养晦) sang “phấn đấu để thành công” (奋发有为), nhấn mạnh một Trung Quốc chưa tranh giành vị trí dẫn đầu, nhưng sẽ phất cờ.

Ứng xử với một Trung Quốc hung hăng, vũ lực và đơn phương trong hành động là khó, vì nó buộc các nước láng giếng lớn bé đều phải xây dựng những phương án phòng ngừa. Nhưng một Trung Quốc hợp tác và đứng ra chủ động tạo những gắn kết khu vực sẽ đưa các quốc gia láng giềng vào một lựa chọn khó xử hơn. Nguyên nhân của các khó xử này là sự đa diện trong sự trỗi dậy luôn được gắn với tên gọi “hòa bình”, khi một bên là các dự án hợp tác kinh tế mang tính đầu tư chào gọi, một bên là sự tăng tốc về hiện đại hóa quốc phòng, cùng với tranh chấp lãnh hải, lãnh thổ chưa được giải quyết. Hệ quả của của sự đa diện đó là sự không rõ ràng về “ý định chiến lược” của một cường quốc trỗi dậy, khiến cho các nghi ngại về lồng ghép giữa an ninh và kinh tế đằng sau các đại công trình-dự án được Trung Quốc đề xuất ngày một càng tăng.

Chia sẻ những quan ngại đó, nhưng ở một lăng kính khác, chúng tôi quan điểm rằng chỉ có thể hiểu được “đại chiến lược” của Trung Quốc thông qua việc bóc tách được bản chất của các dự án bằng các phương pháp liên ngành. Trả lời cho lập luận giữa cung và cầu về cơ sở hạ tầng, bài viết quay lại phân tích những số liệu đưa ra về nhu cầu của cơ sở hạ tầng Châu Á, mà đặc biệt xoay quanh con số 8000 tỷ USD mà Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đưa ra (phần đầu tiên). Các phân tích này chỉ ra, tuy nhu cầu cơ sở hạ tầng là lớn, nhưng khác biệt, và tập trung theo những phân khúc và những khu vực khác nhau. Từ những khác biệt đó, trong phần hai của bài viết chúng tôi thảo luận tiếp về những thách thức, cũng như cơ hội mà các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam phải đối mặt trong “cuộc chơi lớn” của Trung Quốc.

Nhu cầu cơ sở hạ tầng của Châu Á: Lớn nhưng khác biệt

Đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Ở cấp độ khu vực, việc đầu tư CSHT còn có tác động quan trọng trong việc làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia và qua đó làm gia tăng sự thịnh vượng. Tác động lớn nhất của các kết nối CSHT trong khu vực hoặc liên khu vực là trực tiếp giảm chi phí thương mại (trade costs) thông qua việc giảm mức chi tiêu trực tiếp cho thương mại, giảm thời gian vận chuyển hàng hóa hoặc làm gia tăng chi phí cơ hội với các nước không tham gia liên kết. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào CSHT mềm (nhất là thể chế và các hoạt động chuyên chở, lưu giữ, hậu cần (logistics) có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa công nghệ – điều đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với các nước đang phát triển.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm do tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 và nợ công Châu Âu năm 2010, đầu tư CSHT dần trở thành mối quan tâm của các quốc gia nhằm giữ nhịp tăng trưởng. Các nghiên cứu ước lượng về nhu cầu CSHT của các nước Châu Á cho thấy trong giai đoạn 2010 – 2020, khu vực này cần một số vốn khổng lồ để hoàn thành được mức đầu tư CSHT cần thiết của mình. Theo tính toán của PricewaterhouseCoopers (PwC) năm 2014, các dự án liên quan đến vốn và cơ sở hạ tầng toàn cầu dự tính sẽ đạt mức 9.000 tỷ USD mỗi năm vào năm 2025 (năm 2014 là 4.000 tỷ). Các quốc gia Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc có triển vọng dẫn đầu trong việc đầu tư và hấp thụ nguồn vốn này. Tổ chức OECD trong nghiên cứu công bố 2014 ước tính khoảng trống đầu tư CSHT toàn cầu hiện nay là 70.000 tỷ USD đến năm 2030. Nghiên cứu của ADB năm 2009 ước tính cần đến 8.000 tỷ USD để đầu tư cho cơ sở hạ tầng ở Châu Á trong vòng hơn 10 năm.

Tuy nhiên, con số 8.000 tỷ USD này là nhu cầu đầu tư CSHT trong nước của các quốc gia chứ không phải nhu cầu cho các dự án CSHT khu vực. Đối với việc đánh giá tác động của CSHT đến giảm chi phí thương mại và lan tỏa kĩ thuật của Việt Nam thì việc xem xét các liên kết khu vực có sự tham gia của Việt Nam quan trọng hơn rất nhiều so với ước lượng nhu cầu đầu tư CSHT trong nước.

Đối với Châu Á, các dự án CSHT mang tính khu vực, nhằm tăng cường khả năng kết nối giữa các quốc gia mới là đối tượng thực sự mà các ngân hàng phát triển song/đa phương hướng tới. Nếu ước tính số vốn cần cho CSHT khu vực Đông Nam Á (gồm cả các liên kết nội bộ ASEAN cũng như ASEAN – Nam Á, ASEAN – Châu Âu) thì con số này chỉ xấp xỉ 29 tỷ USD/năm (thấp hơn nhiều so với nhu cầu CSHT trong nước vào khoảng 60-70 tỷ USD/năm của tất cả các nước ASEAN).

Hơn nữa, trong số 8.000 tỷ USD nhu cầu về vốn này thì Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm tới 79,5%, 9 quốc gia có nhu cầu vốn CSHT lớn nhất chiếm khoảng 18%, các nước Châu Á còn lại chỉ chiếm chưa đầy 3% nhu cầu vốn – hay chưa đầy 240 tỷ USD cho 10 năm. Do đó, cũng có thể nói nhu cầu 8.000 tỷ USD là nhu cầu của Trung Quốc (chiếm tới hơn 50%) hơn là nhu cầu của Châu Á rộng lớn.

Việt Nam kết nối CSHT với các dự án của Trung Quốc: “Đòn bẩy cơ sở hạ tầng” và những lý do quan ngại

Xuất phát từ nhu cầu về vốn CSHT và việc triển khai tiếp các dự án (vốn được thúc đẩy bởi ADB trong hơn 10 năm qua) như đã nêu trên, Trung Quốc đã nêu lên sáng kiến về AIIB và nhận được sự ủng hộ của 57 quốc gia. Trong các phân tích của mình , chúng tôi cho rằng AIIB có vai trò tích cực trong việc giải quyết “cơn khát CSHT” của khu vực khi ADB và Ngân hàng Thế giới (WB) đều chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu khổng lồ này. Tuy nhiên, khi tham gia vào các dự án CSHT khu vực do Trung Quốc dẫn dắt hoặc cấp vốn, Việt Nam cần tính tới các hệ quả đa chiều.

Thứ nhất, AIIB là công cụ đầu tiên để Trung Quốc hiện thực hóa chiến lược “Một vành đai, một con đường”, Việt Nam sẽ cân bằng thế nào giữa lợi ích của mình với mục đích của Trung Quốc. Trong một phát biểu gần đây , bà Federica Mogherini – Cao ủy Chính sách An ninh và Đối ngoại EU – cho biết nhiều nước Châu Âu bày tỏ sự ủng hộ với kế hoạch này của Trung Quốc bằng việc gia nhập AIIB vào tháng 3 năm nay. Malaysia đã công khai ý định vay vốn của Trung Quốc để đầu tư vào ba cảng biển nằm trong kế hoạch Một vành đai, một con đường. Điều này có thể đưa ra một gợi ý về những dự án CSHT mà AIIB sẽ ưu tiên. Sẽ không ngạc nhiên nếu các CSHT khu vực như kênh Kra (Thái Lan) hay cảng mới Colombo (Sri Lanka)[1] sẽ nhận được vốn vay từ AIIB hay các định chế tương tự.

Thứ hai, những khác biệt trong ưu tiên đầu tư CSHT trong nước và kết nối với CSHT khu vực đòi hỏi Việt Nam có những ưu tiên phân bổ vốn hợp lí. Số liệu cho thấy, đối với từng nước ASEAN nhu cầu vốn cho năng lượng gấp 1,3 lần so với hạ tầng giao thông. Trong khi đó, nhu cầu về CSHT giao thông dành cho kết nối ASEAN lớn gấp 2,5 lần nhu cầu về hạ tầng năng lượng.

Thứ ba, trong cơ cấu vốn đầu tư CSHT, Việt Nam chỉ cần 53% vốn để xây mới, trong khi đó cần tới 47% để duy trì, bảo dưỡng và vận hành các CSHT hiện có. Điều này cho thấy, Việt Nam đứng trước áp lực của việc cân đối tài chính cho các dự án xây mới và các dự án hiện có. Nếu quá chú trọng thuyết minh cho các dự án mới, Việt Nam không chỉ đối diện với sự lãng phí vốn đầu tư mà còn có thể làm trầm trọng thêm sự yếu kém về quản trị và gia tăng mức độ tham nhũng. Trong bối cảnh vốn vay nước ngoài tiếp cận ngày càng khó, áp lực trả nợ trong tương lai sẽ tạo ra thách thức cho hệ thống tài chính của Việt Nam.

Cuối cùng, sự hình thành của các đòn bẩy CSHT và những tác động tích cực, cũng như tiêu cực của nó. Câu hỏi đặt ra là tích cực cho ai, và các hệ quả tiêu cực sẽ đẩy về hướng nào, ai sẽ phải là người gánh chịu? Việc hình thành mạng lưới cơ sở hạ tầng Đông Nam Á kết nối với Nam Á và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc chẳng hạn có thể thúc đẩy sự phát triển của Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia nhưng làm suy giảm lợi thế của Việt Nam do hệ thống CSHT tại khu vực này có thể làm gia tăng quy mô thương mại, đầu tư, do đó đem lại ích lợi cho các quốc gia này.

Khi đòn bẩy cơ sở hạ tầng hình thành, liệu phân bố địa lý của mạng sản xuất Đông Nam Á có dịch chuyển theo hướng bất lợi cho Việt Nam hay không? Ở một mức độ nhất định, khi CSHT cứng định hình và Việt Nam không kết nối được với hệ thống CSHT của khu vực (tức là các kết nối theo hướng Đông – Tây) thì lợi thế của toàn bộ mạng lưới CSHT cứng trong nước của Việt Nam sẽ suy giảm. Các trục CSHT đang được đầu tư với số vốn lớn như cao tốc Bắc – Nam, hệ thống cảng biển nằm dọc hầu như tất cả các tỉnh sẽ chủ yếu phục vụ nhu cầu nội địa. Các cảng biển Việt Nam có ưu thế lớn trong đó có cảng Sài Gòn nằm trong hải trình quốc tế, nhưng hiệu quả quản lí kém, chi phí đắt đỏ, hệ thống chuyên chở, lưu giữ và hậu cần thiếu hụt khiến các cảng này không thu hút được hàng hóa từ vùng “hậu cần” là Đông Nam Á lục địa rộng lớn.

Hàng hóa từ Lào, Campuchia đang xuất khẩu thông qua các cảng của Thái Lan. Trong tương lai, khi các cảng khác của Thái Lan được quy hoạch và hoàn thành, khi hệ thống CSHT cứng nối liền từ Côn Minh chạy xuyên qua Lào đến Bangkok, khi thị trường Đông Nam Á nối liền với Nam Á qua trạm kết nối Myanmar thì các cảng của Thái Lan sẽ có ưu thế rất lớn. Điều này đặt Việt Nam vào một tình thế quyết đoán trong việc lựa chọn các điểm tiếp nối CSHT khu vực sao cho không bị đầu tư dàn trải, lãng phí. Để làm được điều này, lợi ích của địa phương là một lực cản cần tính tới khi quy hoạch.

Cuối cùng, tầm quan trọng của CSHT không phải là để có một con đường chạy qua hay có nhiều hơn các nhà máy điện, tầm quan trọng của các dự án CSHT là phải tạo ra tác động lan tỏa về kinh tế và phúc lợi cho các khu vực nằm dọc theo các dự án CSHT ấy. Một hệ thống CSHT hiệu quả cuối cùng không chỉ là kết nối hữu cơ các vùng địa lý mà phải thực sự là mạng lưới sản xuất, khoa học-kỹ thuật và kiến thức.

Hành xử: Tìm “phân khúc” trong “toàn diện”

Những quan ngại về “đòn bẩy cơ sở hạ tầng” từ các dự án Trung Quốc đặt các nước đón nhận đầu tư, đặc biệt là Việt Nam cần tư duy lại cách tiếp cận với nó một cách vừa toàn diện và vừa phân khúc. Nhu cầu dự án CSHT của Châu Á và của Việt Nam là có thật, và các định chế tài chính hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng hoàn toàn được nhu cầu này. Vì thế tận dụng được các dự án trong các đề xuất CSHT của Trung Quốc thông qua “Một vành đai, Một con đường” là một bổ sung quan trọng và cần thiết. Điều này không những có ý nghĩa về phát triển kinh tế với một số địa phương của Việt Nam, mà còn với liên kết vùng, tiểu vùng, và rộng lớn hơn là cả mạng lưới sản xuất-thương mại-đầu tư của khu vực.

Tuy vậy, một góc nhìn chỉ quá tập trung vào “phân khúc” theo nghĩa không có một kế hoạch phát triển tổng thể phát triển CSHT của Việt Nam sẽ là rất nguy hiểm vì nó có thể phá vỡ tổng thế quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng hiện có của Việt Nam. Từ đặc thù phát triển (cả các yếu tố nội sinh, lẫn ngoại sinh trong mối quan hệ Việt-Trung), những yếu tố vừa kể ở phần trên sẽ làm tăng khả năng Việt Nam có thể là chịu tác động tiêu cực trong đòn bẩy CSHT đang dần định hình. Không có một “đại chiến lược” với những tính toán từ tất cả các chiều hướng, lợi ích ngắn hạn có thể nhiều, nhưng dài hạn thì ít. Lợi ích của địa phương tăng lên, nhưng sẽ tỷ lệ thuận với chi phí ngân sách từ Trung ương dùng để sửa sai các “kết nối lệch” hay giải quyết các “vấn đề phát triển cục bộ”.

Quan trọng hơn, ngoài yếu tố lợi ích được-mất trong ngắn hạn, nó còn “cố định hóa”[2] mối quan hệ Việt- Trung từ góc nhìn của việc thiết kế các kết nối về hạ tầng. Và chưa chắc cố định này mang lại lợi ích nhiều nhất cho Việt Nam. Một đại công trình – khác với những hợp đồng thương mại hay đầu tư – thường có tuổi thọ hàng nửa thế kỷ. Nó không những điều chỉnh hành vi, ứng xử, và cả cách thức tổ chức của một cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định, mà còn tạo ra những yếu tố “ngoại sinh”. Các yếu tố này sẽ thúc đẩy các cá nhân, hay các nhóm tác nhân khác nhau hoạt động nương theo cách thức tổ chức đó. Nhưng ngược lại nó sẽ tạo ra những lực “từ trường nghịch” trong việc sửa sai hay những cố gắng trong việc tìm kiếm một giải pháp thay đổi.

Đòn bẩy CSHT tác động tích tực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào cách xử lí của quốc gia trong phạm vi đòn bẩy. Đối với Việt Nam hiện nay, nếu chưa tận dụng được lợi thế từ đòn bẩy này, thì ít nhất đừng để trở thành mục tiêu của nó.

[1] Kế hoạch “thành phố cảng” mới ở Colombo trị giá 1,5 tỷ USD đang bị chính phủ Sri Lanka xét duyệt lại vì e ngại nhà thầu Trung Quốc không đáp ứng được tiêu chuẩn về môi trường.

[2] Từ dùng của GS Trần Văn Thọ.

TS. Trương Minh Huy Vũ là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM.

TS. Phạm Sỹ Thành là Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES), Đại học Kinh tế, ĐHQGHN.

Lượm lặt tin 21-5-15

Sân bay Long Thành đặt lên bàn Quốc hội

Dự án sân bay Long Thành sẽ là một trong những chủ đề chính được các đại biểu Quốc hội khóa XIII xem xét cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 vừa khai mạc vào sáng thứ Tư ngày 20/5.

Kỳ họp dự kiến sẽ kéo dài đến hết ngày 26/6.

Đảng đã thông qua?

Dự án sân bay Long Thành được đưa ra Quốc hội sau khi đã được Hội nghị trung ương 11 của Đảng xem xét hồi đầu tháng Năm.

Tại hội nghị này, Trung ương Đảng đã ‘khẳng định sự cần thiết, đúng đắn’ của chủ trương xây dựng sân bay Long Thành và coi đó là ‘dự án đặc biệt quan trọng cấp quốc gia’, diễn văn bế mạc Hội nghị trung ương 11 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết.

Kết luận của Trung ương Đảng cũng yêu cầu ‘xác định các tiêu chí, tiền đề’ để trở thành một sân bay trung chuyển quốc tế trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trong khu vực và ‘tính toán kỹ hiệu quả đầu tư, phân kỳ đầu tư sao cho khả thi, phù hợp’.

Ngoài dự án sân bay Long Thành, theo chương trình kỳ họp lần này, Quốc hội dự kiến sẽ thông qua 11 dự luật và cho ý kiến đối với 16 dự luật khác, trong đó có những luật quan trọng như Luật Tổ chức Chính phủ và Bộ Luật Hình sự.

Ngoài ra, Quốc hội sẽ xem xét kết quả giám sát về ‘Tình hình oan sai trong việc áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo quy định của pháp luật’.

Trong phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng mô tả tình hình kinh tế xã hội đất nước trong đầu năm 2015 là ‘có nhiều chuyển biến tích cực’ với ‘tăng trưởng phục hồi rõ rệt’.

Còn trong Báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội đất nước của Chính phủ trước Quốc hội, phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết trong thời gian tới ‘sẽ đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng’ và ‘đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm’.

Trước khi khai mạc kỳ họp, các đại biểu Quốc hội đã dành một phúc mặc niệm ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương và đại biểu Quốc hội Đà Nẵng, người vừa qua đời hồi đầu năm.

Sân bay Long Thành dự kiến sẽ trở thành trung tâm trung chuyển trong khu vực

Trao đổi với BBC, ông Trần Quốc Thuận, nguyên phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, bình luận rằng về dự án sân bay Long Thành thì ‘Quốc hội sẽ thông qua thôi vì Ban Chấp hành Trung ương đã quyết rồi’.

“Quan trọng là (Quốc hội sẽ quyết định) bước đi, tiến trình xây dựng như thế nào,” ông Thuận nói.

Theo ông Thuận thì ở Việt Nam thì những gì mà Bộ Chính trị của Đảng đã thông qua, chẳng hạn như Hiến pháp năm 2013, thì việc đưa ra Quốc hội chỉ là ‘hợp thức hóa mà thôi’.

Dự án sân bay Long Thành, với tổng vốn đầu tư khoảng 18 tỷ đôla, đang gây nhiều tranh cãi trong nước trong bối cảnh nợ công của Việt Nam đang chạm ngưỡng an toàn.

Giai đoạn một của dự án có tổng chi phí được truyền thông trong nước nói 50% vốn ODA và trái phiếu chính phủ, 50% còn lại là các nguồn vốn khác.

Các ý kiến phản biện cho rằng thay vì xây dựng một sân bay mới chính quyền nên mở rộng và cải tại sân bay Tân Sơn Nhất hiện có.

—————————————–

Trứng nhiễm độc gây ung thư bị Singapore trả lại, đưa về bán cho dân Việt

Trung nhiem sudan

Trứng gia cầm nhiễm sudan không thể nhận biết bằng mắt thường

Tại hội nghị tháo gỡ cho các doanh nghiệp ngành chăn nuôi vừa diễn ra tuần qua, một thông tin khiến Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát bất ngờ: Bị Singapore từ chối cho thông quan những lô hàng trứng vịt muối do nhiễm chất sudan, Công ty tư nhân Vĩnh Nghiệp (Vĩnh Long) đã đem số trứng này về Việt Nam tiêu thụ.

Singapore cấm sử dụng sudan (giúp tạo màu lòng đỏ trứng) trong chăn nuôi. Từ năm 2008, Singapore đã phát hiện những lô trứng từ Việt Nam nhiễm sudan và từ chối thông quan. Nhiều doanh nghiệp (DN) xuất khẩu cho biết, khi bị trả hàng về như vậy sẽ bị thiệt hại rất lớn. Tuy nhiên điều bất ngờ, khi về đến Việt Nam, những lô trứng này lại được bán cho các cơ sở chế biến thực phẩm.

Ông Trương Hữu Nghị, đại diện DN tư nhân Vĩnh Nghiệp thừa nhận, trứng vịt muối của Vĩnh Nghiệp từng bị phát hiện tồn dư chất sudan IV. DN của ông đã đưa những lô trứng này về Việt Nam, sau đó bóc vỏ, loại bỏ lòng trắng, lấy lòng đỏ bán cho các cơ sở chế biến nhân bánh (?!). “Sudan là chất cấm, người ta đã phát hiện và cấm cho nhập, tại sao lại đưa về bán cho người dân trong nước sử dụng?”, bất ngờ trước cách làm này của DN, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát chất vấn.

Singapore đòi hỏi nhu cầu chất lượng trứng rất cao, tuyệt đối không có chất sudan.

Theo một công trình nghiên cứu về chất sudan của Khoa Công nghệ thực phẩm, Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm TP.HCM: Sudan IV còn có tên là dung môi đỏ 24. Sudan thường được dùng để nhuộm da giày, vải vóc, các đồ dùng, đồ chơi bằng plastic, pha màu dầu nhớt kỹ nghệ,… Sudan có trong trứng gà đã được Việt Nam phát hiện từ ngày 23/11/2006, tại Hà Nội. Bột sudan bày bán ngoài thị trường dưới thương hiệu SRIV nhập từ Trung Quốc. Trứng gia cầm có tồn dư chất này không thể nhận biết được bằng mắt thường.
Chất sudan được thế giới xếp vào nhóm chất nhuộm màu gây độc vì chúng có khả năng gây ung thư do làm tổn thương ADN của tế bào. Theo các tài liệu khoa học, sudan (từ I đến IV) đều là những chất gây ung thư. Sudan vào cơ thể sẽ tạo ra những chất gây đột biến gen, gây sự tăng sinh không kiểm soát của tế bào ung thư. Các nhà khoa học cho rằng không có giới hạn an toàn cho sudan và ước lượng nguy cơ nên một số nước đã cấm dùng hẳn chất này trong thực phẩm.
———————————————

Samsung rót hơn 30.000 tỷ đồng phát triển công nghệ cao tại TP. HCM

Ngày 19/5, Công ty điện tử Samsung đã khởi công Khu phức hợp điện tử gia dụng (SEHC) tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 30.000 tỷ đồng.

Đây cũng là một trong những nhà máy sản xuất sản phẩm điện tử gia dụng công nghệ cao lớn nhất thế giới của tập đoàn này.

Việc Samsung chủ trương xây dựng nhà máy cùng với trung tâm nghiên cứu tại Việt Nam sẽ thúc đẩy việc chuyển từ lắp ráp, đóng gói sang nghiên cứu, phát triển, sản xuất các sản phẩm điện tử công nghệ cao.

Đồng thời dự án cũng góp phần giúp Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, sản xuất sản phẩm công nghệ tiên tiến, hiện đại trong lĩnh vực điện tử, gia dụng.

Thông tin từ Samsung cho biết, SEHC chính là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng ti vi toàn cầu của Samsung, góp phần củng cố vị trí nhà sản xuất ti vi số một thế giới mà Samsung đã nắm giữ 9 năm liên tiếp từ 2006 đến nay.

Tổng số lao động của Công ty Điện tử Samsung tại Việt Nam đầu tư ở Bắc Ninh tính tới thời điểm năm 2014 đã đạt 39.000 người (Nguồn: bizlive)

Theo số liệu của Cục Thống kê, trong năm 2014, hai khu tổ hợp Samsung Việt Nam tại Bắc Ninh và Thái Nguyên đã xuất khẩu hơn 26 tỷ USD, tạo việc làm cho hơn 100.000 lao động.

Theo ông Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến trong giai đoạn một của dự án, Khu phức hợp tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tạo ra việc làm cho 5.000 lao động chuyên môn cao và hàng ngàn lao động khác.

Bên cạnh đó, dự án này được kỳ vọng sẽ giúp thành phố gia tăng giá trị xuất khẩu, gia tăng giá trị sản xuất nội địa trong cơ cấu sản phẩm công nghệ cao, đồng thời nâng cao trình độ tay nghề của đội ngũ nhân lực chuyên môn cao trong thời gian tới.

Hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Ninh vươn lên top 10 tỉnh, thành phố xuất khẩu lớn nhất năm 2014 (Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Theo ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết hiện Hàn Quốc là quốc gia có nhiều dự án FDI nhất tại Việt Nam; riêng Samsung đã đầu tư khoảng 13 tỷ USD.

Trong giai đoạn đầu, dự kiến SEHC sẽ đi vào hoạt động quý 2/2016, Khu phức hợp sẽ tập trung nghiên cứu, phát triển và sản xuất các sản phẩm tivi cao cấp như SUHD TV, Smart TV, LED TV…