Một ngày với tác giả: “Em ơi ! Hà Nội phố”

Tiểu Vũ
Mot ngay voi tac gia: “Em oi ! Ha Noi pho”
 Phan Vũ, một cái tên quá đỗi quen thuộc trong làng nghệ thuật Việt Nam. Tên tuổi của ông gắn liền với ca khúc nổi tiếng “Em ơi ! Hà Nội phố” cùng những bộ phim, vở kịch, tác phẩm hội họa vang bóng một thời. Sau những vinh quang và cay đắng trong cuộc đời, bước sang tuổi 90 người nghệ sĩ lãng tử ấy vẫn không thôi dâng cho đời những bông hoa đẹp nhất từ tâm hồn của mình bằng những sáng tạo không ngừng nghỉ. Được nguyên một ngày gặp gỡ, hầu chuyện với ông quả là một điều may mắn.

Thời buổi công nghệ thông tin, chẳng khó khăn gì nếu như chúng ta lên Google gõ hai chữ “Phan Vũ”, trong vòng vài giây, hàng loạt kết quả, với hàng trăm bài báo khai thác mọi góc cạnh về cuộc đời, về những sáng tạo nghệ thuật của ông.

Đọc đi đọc lại tất cả những bài viết về ông vẫn còn có cái gì chưa giải tỏa hết sự tò mò về ông. Cái ước ao lớn nhất của tôi vẫn là được trực tiếp gặp ông để nghe chính ông kể về cuộc đời mình, được nghe ông đọc “Hà Nội phố” được thấy ông cầm cọ tô những mảng màu sáng tối lên những bức tranh mang đậm dấu ấn Phan Vũ…
Với tôi, mỗi khi nhắc đến tên ông cũng đồng nghĩa là lúc những vần thơ trong trường ca  Hà Nội phố tuyệt đẹp của ông lại vọng về:
Ta còn em đường lượn mái cong
Ngôi chùa cổ.
Năm tháng buồn xô lệch ngói âm dương.
Ai đó ngồi bên gốc đại,
Chợt quên ai kia bên đường đứng đợi.
Cuộc đời, có lẽ nào,
Là một thoáng
Bâng quơ…
Ngưỡng mộ là thế, nhưng để được gặp trực tiếp ông quả là điều tôi chưa nghĩ đến. Người viết thuộc thế hệ 7x như tôi và ông chênh lệch đến hàng mấy chục thập niên về tuổi tác. Viết về ông lại khó bởi lẽ ông thuộc hàng “cây đa, cây đề” đã có nhiều người viết cặn kẽ và quá sâu sắc rồi còn gì.

Bằng một sự tình cờ, một người bạn đồng nghiệp của tôi nhắn tin: “Mai đi quận 9 không ? Xuống gặp chú Phan Vũ”. Quá vui với thông tin của bạn, tối hôm đó thao thức mãi. Sáng dậy sớm chuẩn bị “đồ nghề tác nghiệp”. băng băng lên đường bằng một niềm háo hức chưa từng có để chạm mặt người làm nên một “Em ơi ! Hà Nội Phố”.

Điểm hẹn gặp gỡ là một quán cà phê ở quận 9 TP.HCM. Khi chúng tôi đến ông đã ngồi đó từ trước. Đập vào mắt tôi là một Phan Vũ vạm vỡ quắc thước và đầy vẻ phong trần lãng tử ngậm ống điếu, tay cầm smartphone lướt Facebook. Dù biết trước ông đã bước sang tuổi 90 nhưng sao vẫn ngờ ngợ. Không thể tưởng tượng ông mạnh khỏe đến thế. Bộ quần áo jean còn dính đầy sơn, đôi tay lem luốc màu vẽ, nụ cười hiền và ánh mắt triều mến của ông đã làm tôi thấy ông quá gần gũi thương yêu. Càng tự tin hơn khi ông thừa nhận: “Tôi thường chơi với các bạn trẻ ở tuổi 20 đến 30, họ có rất nhiều điều hay và rất sáng tạo trong nhiều lĩnh vực”.
mot-ngay-voi-tac-gia-em-oi-ha-noi-pho-hinh-anh-1
Nhà thơ, họa sĩ, nhà biên kịch, đạo diễn Phan Vũ  

Ông là người rất ít nói, rất ít thể hiện mình trước đám đông. Mọi cái trong ông đều chậm rãi bình lặng. Ông tiếp chúng tôi thân thương như người ông và những đứa cháu. Bên ly cà phê thơm tho buổi sáng, ký ức của ông hình như vẫn nguyên vẹn chưa thể mất một đoạn nào trong phần đời vốn nhiều thăng trầm của ông.

Qua lời ông kể, tôi có thể hình dung được chàng trai Phan Vũ tuổi 20 oai hùng trong đoàn quân Nam tiến ở Miền Đông và Miền Tây Nam Bộ trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Có những câu chuyện ông đã từng chia sẻ với báo chí và cũng có câu chuyện lần đầu ông mới kể. Thuở ấy khi còn làm bên Ban chính sách tù binh của Việt Minh. Có một cô tù binh người Pháp phải lòng ông đến nổi sau khi được thả mỗi ngày cô đều gởi quà ra vùng kháng chiến cho ông. Điều trớ trêu là bố cô ấy là một sĩ quan Phòng Nhì của Pháp biết được việc làm của con gái và đã giăng một cái bẫy chờ ông nhập thành để bắt. Rất may là điều đó không xảy ra với ông.
mot-ngay-voi-tac-gia-em-oi-ha-noi-pho-hinh-anh-2
Chân dung tự họa của Phan Vũ 

Khi được hỏi về bài thơ “Hà Nội phố”, ngoài những gì ông chia sẻ trên báo chí ông còn cho biết thêm: “Trong Hà Nội phố của tôi có bóng dáng rất nhiều người tình trong đó.Một người người bạn đã thống kê đến 36 người tình. Nhưng thú thật tôi không yêu ai cả, tất cả họ đều yêu tôi. Nếu tôi yêu một trong số đó có lẽ Hà Nội phố sẽ không ra đời”. Hà Nội phố của ông có một số phận khá kỳ lạ, được sáng tác năm 1972 nhưng nó chỉ là một bản thảo chưa hoàn chỉnh và được truyền miệng qua nhiều thập kỷ, mãi đến 1985 khi nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc một đoạn trong bài thơ của ông thì công chúng mới biết đến và được chính thức lưu hành thành văn bản. Có một điều ông thắc mắc là tại sao bài hát phổ từ thơ của ông người ta vẫn ghi là “phỏng thơ” Phan Vũ.

Sẽ là thiếu sót nếu như không nhắc lại hoàn cảnh ra đời của Hà Nội Phố bằng chính lời ông kể: “Thời gian tôi viết bài thơ này, cũng là lúc máy bay Mỹ đang ném bom B52 khắp Hà Nội. Nhà tôi ở phố Hàng Bún, ngay đối diện với nhà máy điện Yên Phụ. Chung quanh nơi tôi ở, nhà cửa đổ nát, quang cảnh chết chóc tang thương khắp nơi. Từ đầu phố đến cuối phố lúc nào cũng đầy mùi hương thắp cho người đã khuất. Những tứ thơ của tôi nảy ra trong thời điểm đó. Bài thơ tôi không viết về chiến tranh, mà viết về những hoài niệm sâu đậm trong lòng. Tôi đã đẩy thời điểm trong bài thơ lùi về quá khứ. Dấu vết của chiến tranh chỉ xuất hiện ở khổ thơ thứ 20, với “Một tháng Chạp – Trắng khăn sô – Khói hương dài theo phố…” Những sự kiện trong tháng 12 đó đã để lại một rãnh sâu đậm trong ký ức của tôi. Đó là một khối lượng hoài niệm. Ta còn em, cũng có nghĩa là ta mất em rồi.”

Mải mê với những câu chuyện của ông đến quá trưa. Chúng tôi xin phép được ghé qua thăm nhà để xem tranh do ông vẽ. Con đường quanh co qua mấy con hẻm đưa chúng tôi đến căn nhà cũng là xưởng vẽ của ông. Căn nhà nhỏ, bề bộn với  màu cọ, tranh treo trên tường, tranh ở dưới đất, những bức đã hoàn thành, những bức tranh còn dang dở. Ông là người lặng lẽ nên công ít tiếp khách, lý do ông đưa ra là xưởng vẽ và nhà ở của ông rất nhỏ, chỉ có thể tiếp từ một đến hai người. Hôm nay chúng tôi được ông ưu ái mời đến nhà.

Dù ở tuổi 90 nhưng ông vẫn dậy từ 3 giờ sáng để vẽ. Đa số tranh của đều theo trường phái trừu tượng. Nhìn tranh của ông thật sự chúng tôi không hiểu gì nếu như không có lời giải thích từ ông.

“Tranh của tôi vẽ đều lấy ý tưởng từ những câu thơ viết. Tôi rất yêu con bản thân mình nên thường phát họa khuôn mặt của mình nên tôi thường phát họa khuôn mặt của mình để ngắm nhìn mỗi ngày. Hội họa luôn tạo cho tôi cảm giác tự do phóng khoáng vì nó không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì”. Những gam màu trong tranh Phan Vũ luôn có sự tương phản giữa sáng và tối và chứa nhiều thông điệp mà không dễ gì ai cũng nhận ra. Ông nói “Nếu ai cũng hiểu tranh của tôi thì tôi còn gì để vẽ nữa. Tôi chú trọng đến màu sắc tương phản của tranh hơn là hình khối”
mot-ngay-voi-tac-gia-em-oi-ha-noi-pho-hinh-anh-3
Tranh của Phan Vũ luôn có sự hiện diện của khuôn mặt ông 

Họa sĩ Phan Vũ chưa từng học vẽ ở bất cứ trường lớp nào. Kiến thức mà ông có được để chuyển qua vẽ tranh là được tích tụ bởi trong quá khứ ông là người cùng thời với các danh họa Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên… ông thường đến xem họ vẽ và từ màu mò học nghề từ ngày ấy. Thời gian sau này khi có dịp xuất ngoại ông tìm mua những tài liệu về hội họa rồi tự học.

Trước bối cảnh khá “bát nháo” của nhiều trường phái hội họa trong nước. Điều họa sĩ Phan Vũ mong đợi là một thế hệ vàng trong bộ môn nghệ thuật này ra đời.
mot-ngay-voi-tac-gia-em-oi-ha-noi-pho-hinh-anh-4
Một tác phẩm của họa sĩ Phan Vũ 
Trên bàn làm việc của ông, tôi chú ý đến hộp thuốc bốn ngăn được ghi cẩn thận “Sáng – Trưa – Chiều – Tối”. Đó là sự chu đáo của vợ sau này ông (nhà báo Diễm Chi). “Mọi việc của tôi đều do cô ấy sắp xếp, tôi có thói đãng trí hay quên nên cô ấy rất lo. Có được sự gọn gàng này là nhờ một tay cô ấy. Dù 90 rồi nhưng trong mắt cô ấy tôi luôn là một đứa trẻ con”.
mot-ngay-voi-tac-gia-em-oi-ha-noi-pho-hinh-anh-6
Nghệ sĩ Phan Vũ và vợ ông (Nhà báo Diễm Chi) 
Dù là người hào hoa lãng tử, nhưng với vợ con ông rất mực thủy chung son sắc. Trong hôn nhân ông quan niệm chữ “thương” đáng quý hơn chữ “yêu”, bởi thương sẽ gắn bó lâu bền hơn là yêu. Khi nhắc đến nghệ sĩ Phi Nga trong đôi mắt ông thăm thẳm những hoài niệm về người vợ đã quá cố. “Phi Nga ảnh hưởng rất nhiều trong trong quan niệm nghệ thuật và cuộc sống của tôi đến tận hôm nay. Những năm cô ấy bị bệnh tim tôi dành 30 năm để chăm sóc. Tôi rất sợ bất cứ tổn thương nào cho vợ dù chỉ là một vết nhỏ”. Kỷ niệm mà ông kể lại làm chúng tôi cảm động là thời ấy ở Hà Nội chưa có xe cứu thương như bây giờ, nhà ông xa bệnh viện, vợ ông nghệ sĩ Phi Nga lại không thể đi xe buýt được vì sợ sốc. Mỗi khi cô ấy lên cơn đau, ông phải cõng vợ trên vai đi bộ mấy cây số để đưa cô ấy đến bệnh viện.
mot-ngay-voi-tac-gia-em-oi-ha-noi-pho-hinh-anh-5
 “Ngày ấy anh bẻ một nhánh tràm tặng em kể như hoa ngày cưới. 30 năm ra đi em đã hình thành lá ngọn một màu xanh xanh mát đời anh” – Lời họa sĩ Phan Vũ đề tranh tưởng nhớ đến người vợ quá cố, nghệ sĩ  Phi Nga
Buổi chiều hôm ấy, bên ly rượu cay. Phan Vũ đã đọc Hà Nội Phố, Sài Gòn phố và nhiều bài thơ của ông cho cho chúng tôi nghe. Lúc cao hứng ông lại hát vang lên những bài ca của một thời kháng chiến. Ông còn kể cho chúng tôi nghe rất nhiều câu chuyện khác về cuộc đời của ông. Ngoài những chi rời rạc được viết ra ở đây, còn có những chuyện mà người viết xin giữ lại cho riêng mình và giữ lại cho riêng ông. Cũng bình thường thôi, bởi lẽ có những cái chỉ có người nghe mới cảm nhận được khi nhìn vào mắt ông. Đôi khi ngôn ngữ cũng trở thành bất lực.

Một ngày ngắn ngủi bên ông, người viết không có tham vọng vẽ lên một chân dung đầy đủ về ông. Đây chỉ là vài nét chấm phá rất nhỏ, những cảm nhận rất chân thành của người viết trẻ khi nghĩ về một bậc tiền bối của nền nghệ thuật nước nhà bằng sự trân trọng nhất.

Chia tay ông ra về, vẫn không biết gọi ông là gì. Nhà thơ, họa sĩ, chiến sĩ, nhà biên kịch, đạo diễn, nhà báo… tất cả đều hội tụ trong con người của Phan Vũ. Xin mượn câu thơ trong bài Hà Nội phố để gọi ông, ông chính là : “Người nghệ sĩ lang hoài trên phố”, dù bất cứ cuộc rong chơi nào, từ thơ, điện ảnh, hội họa ông đều để lại những dấu ấn khó phai. Tôi chắc chắn rằng dấu ấn Phan Vũ sẽ còn mãi mãi đọng lại trong tôi.
Nhà thơ Phan Vũ tên thật là Trần Hồng Hải, sinh năm 1926 tại Hải Phòng. Quê gốc ở Đà Nẵng. Học hết bậc tiểu học ở Hải Phòng, lên Hà Nội học tiếp trung học. 20 tuổi theo đoàn quân Nam tiến vào hoạt động ở Khu 8, Khu 9 (miền Đông và miền Tây Nam Bộ). Sau đó được cử vào Ban Chấp hành Văn nghệ Nam Bộ. Năm 1954 tập kết ra Bắc, tham gia chỉ đạo Đoàn Văn công tổng hợp Nam Bộ tham gia Đại hội Văn công toàn quốc 1956. Sau đó về làm biên kịch cho Đội kịch Trung ương rồi cho Xưởng phim Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, vào Nam công tác tại Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Sân khấu Việt Nam và hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam. Hiện ông đang sinh sống tại Q.9, TP.HCM.

“Văn hóa nhậu” ở chốn quan trường

Các chuyên gia đều cho rằng, tình trạng nhậu tràn lan chốn quan trường có phần gắn liền với nạn tham nhũng. Một trong những cách “quan hệ” là nhậu. Người ta dễ ăn, dễ nói, dễ xin, dễ duyệt và dễ thỏa thuận trong khi nhậu. Hẳn vì thế đã có hàng loạt địa phương cấm cán bộ nhậu buổi trưa, cấm ăn trưa có rượu, bia. Để đối phó, họ chuyển sang nhậu tối, không đi xe cơ quan, đi taxi cho chắc ăn…

Hồi tết vừa qua, ở xã Khánh Thượng, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau có ông chủ quán đòi nợ nhậu ủy ban không được bèn mang xăng đến dọa đốt công đường thì đúng là chuyện “xưa nay hiếm”.

Sự việc xảy ra cả tháng đến nay vẫn chưa xử lý được vì xã chưa trả nợ và công an xã đang xác minh thêm một số nhân chứng và chờ xin ý kiến công an huyện.

Thì ra trước tết, vào đầu giờ chiều 14/2 (26 tết Nguyên đán Ất Mùi) chủ quán nhậu Thanh Phong gần UBND xã Khánh Thuận đã đem hai can xăng đi đòi nợ lãnh đạo xã.

Hành vi của ông chủ quán bị công an xã phát hiện kịp thời, hai can xăng bị thu giữ. Nhưng khi Công an xã Khánh Thuận lập biên bản thì ông này bỏ về nhà, không hợp tác.

Về chuyện nợ tiền nhậu tai tiếng này, ông Nguyễn Minh Lắm, Chủ tịch UBND xã Khánh Thuận thừa nhận UBND xã có nợ ông này 48 triệu vì cuối năm rồi xã mất cân đối và không có tiền chi trả. Ông chủ tịch còn thản nhiên thừa nhận, chúng tôi không chỉ thiếu riêng quán này mà còn nợ nhiều quán khác nữa trên địa bàn. Riêng nợ tiền nhậu của ông mang xăng dọa đốt trụ sở là 48 triệu đồng. Không có thông tin về tổng số tiền nợ nhậu là bao nhiêu. Ông quan xã Khánh Thượng đang cho đối chiếu, kiểm tra hóa đơn tiền nhậu, nếu hóa đơn nhậu thiếu do lãnh đạo phân công tiếp khách thì UBND xã sẽ chi trả, cái nào không được phân công, nhưng nhậu xong lại ghi cho lãnh đạo thì bắt cá nhân người nhậu phải xuất tiền túi thanh toán.

Giải thích việc dọa đốt trụ sở, ông chủ quán Thanh Phong nói: “Tôi chỉ hù thôi. Lý do lãnh đạo xã thiếu tiền nhậu 48 triệu đồng tại quán tôi từ năm 2012 đến nay chưa trả. Cuối năm các chủ nợ tiền gà, tiền vịt lại đến “xiết”, do quá túng nên tôi mới hành động như vậy”.

Dọa đốt trụ sở chính quyền xã là hành vi sai phạm nghiêm trọng, cần cảnh cáo công dân này kẻo lỡ “điên” lên, ông ta đốt thật thì rầy rà to. Thế nhưng, cũng nên thể tất nhân tình cho người ta, buôn bán đụng mấy ông vua nhậu kiểu này e sạt nghiệp! Và đề nghị huyện U Minh cũng nên cho cán bộ tài chính về kiểm tra thật sự xem các quan xã Khánh Thượng (và các xã khác) ham nhậu nhẹt kiểu chi mà mà nợ nần quá cỡ như vậy. Cần mạnh tay buộc mấy ông này móc bóp ra trả ngay, trả hết món nợ này trước kỳ đại hội. Với các ông nợ nhậu có hệ thống, nghĩ cũng nên cho nghỉ luôn kẻo mang tiếng với dân. Bàn về rượu, GS Trần Ngọc Thêm, Khoa Văn hóa học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) TP HCM nhận xét: Từ một loại thức uống, rượu được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp như tiếp khách (“khách đến nhà không trà thì rượu”); kết bạn (“rượu ngon phải có bạn hiền”); thổ lộ tình cảm (rượu vào, lời ra) hoặc làm phương tiện không thể thiếu trong các lễ lạt (“phi tửu bất thành lễ”)… Bên cạnh việc uống rượu thông thường, ở Nam Bộ đã hình thành cả một thứ văn hóa đặc biệt – “văn hóa nhậu”. Theo GS Thêm, “văn hóa nhậu” có thể được khởi phát từ thời kỳ khẩn hoang ở miền Nam. “Nhậu lai rai” đã được người dân Nam Bộ sử dụng như một phương thức để giao tiếp nhằm giải tỏa nỗi cô đơn và tạo sự gắn kết trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên.

Tuy nhiên, GS Thêm cho rằng, ngày nay “văn hóa nhậu” đang bị lạm dụng một cách thái quá. Từ chỗ là một nét văn hóa của người nông dân Nam Bộ, bây giờ nhậu đang lan tràn khắp mọi nơi, mọi tầng lớp, trong đó đặc biệt là cả giới nhậu cán bộ công chức. Vấn nạn quan chức nhậu được các giảng viên Đại học KHXH&NV TP HCM than rằng, khổ nhất là dạy các lớp tại chức ở miền Tây. Học viên gồm nhiều công chức, viên chức hầu như chỉ học buổi sáng, đến chiều là bận nhậu, bỏ học gần hết lớp. Nhậu không còn là văn hóa nữa mà đang trở thành một thứ “tệ nạn”, “hủ lậu” nguy hiểm. Vui hay buồn cũng nhậu. Không vui, không buồn cũng nhậu. Bỏ vợ hay có vợ cũng nhậu. Mua xe mới, sắm điện thoại cũng nhậu. Nghĩa là thay vì dùng thời gian rỗi để đọc sách báo hay giải trí lành mạnh thì người ta lại vẽ ra cả ngàn lẻ một lý do để nhậu. Lo dân nhậu bị tai nạn trên đường về, ở Hà Nội người ta đã nghĩ đến dịch vụ đưa người say về nhà.

Điểm “quái dị” nữa, theo GS Trần Ngọc Thêm là nếu như ở các nước, người ta chỉ có thể uống rượu sau giờ làm việc thì ngược lại ở Việt Nam, nhậu có thể diễn ra thoải mái ngay cả trước, trong giờ làm việc. Điều này dẫn đến nghịch lý là các quán nhậu càng ngày càng mọc lên nhan nhản trong khi rạp chiếu phim hay điểm văn hóa nghệ thuật phải lùi bước, teo tóp dần.

Hậu quả của nhậu có thể dẫn ra như sau: Một sĩ quan cảnh sát giao thông ở Hậu Giang vì men rượu trong bữa nhậu, không làm chủ được mình nên đã gây gổ, đòi tài xế taxi phải lái xe vượt đèn đỏ.

Ở Cà Mau, có cháu bé 10 tháng tuổi bị người cha nhậu say ném xuống nền nhà, dẫn đến nứt sọ. Tại Kon Tum, 4 người đã bỏ mạng do nhậu triền miên nhiều ngày liền. Một quan chức “Văn – Thể – Du” ở Bình Dương bị bắt quả tang đang nhận 20 triệu đồng tiền hối lộ để lo thủ tục cấp phép quảng cáo ngay trong một quán nhậu…

Những vụ việc tương tự bắt nguồn từ rượu dường như ngày càng dồn dập trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chứng kiến cảnh ăn nhậu tràn ngập ở nước ta, một Việt kiều về thăm quê hương sau nhiều năm xa cách đã phải thốt lên: “Rượu, bia đang đầu độc cả một thế hệ”.

Theo các chuyên gia, rượu không có tội, uống rượu cũng là một nét văn hóa. Đám cưới hay lễ hội mà không có rượu thì quả mất vui. Hoặc đang lúc trời lạnh, uống một ly cho ấm người thì cũng tốt cho sức khỏe.

Thế nhưng, bây giờ uống rượu lại khó giữ được nét văn hóa vì quá bê tha, lạm dụng, người say gây ra những hành vi phi văn hóa, trái pháp luật. Ở nước ta có quá nhiều sơ hở và thực tế rượu, bia vẫn được quảng cáo vô tư. Người ta công nhận kỷ lục cho chai rượu 4.000 lít cung tiến tại quốc lễ giỗ tổ vua Hùng Vương, tôn vinh sự kiện sản xuất đạt 1 tỉ lít bia của một công ty…

Theo một quan chức Bộ Y tế, chi phí cho rượu, bia và giải quyết hậu quả tác hại của rượu, bia có thể chiếm tới 2-8% GDP quốc gia. Có khoảng 4,4% người dân Việt Nam phải gánh chịu bệnh tật do hậu quả của rượu, bia mang lại.

Các chuyên gia đều cho rằng, tình trạng nhậu tràn lan chốn quan trường có phần gắn liền với nạn tham nhũng. Một trong những cách “quan hệ” là nhậu. Người ta dễ ăn, dễ nói, dễ xin, dễ duyệt và dễ thỏa thuận trong khi nhậu. Hẳn vì thế đã có hàng loạt địa phương cấm cán bộ nhậu buổi trưa, cấm ăn trưa có rượu, bia. Để đối phó, họ chuyển sang nhậu tối, không đi xe cơ quan, đi taxi cho chắc ăn…

“Văn hóa nhậu” của quan chức từ địa phương đến cấp trên dù khác nhau về quy mô, về menu nhưng đều giống nhau ở nguồn kinh phí. Cấp xã, phường kinh phí eo hẹp vẫn nhậu tới bến. Cuối năm quan xã toát mồ hôi vì bị dân kéo đến công đường đòi nợ tiền rượu thịt như ở Cà Mau thì thật đáng lo ngại!

Theo NĂNG LƯỢNG MỚI

Ba bước đi của Mỹ khiến Trung Quốc trách nhiệm hơn ở Biển Đông

Trước việc Trung Quốc nhanh chóng tăng cường lực lượng ở Biển Đông, nếu không có một sự phản ứng mạnh mẽ ngay lúc này thì gần như chắc chắn sẽ xảy ra một cuộc đối đầu nguy hiểm hơn trong tương lai.

Chỉ trong vòng ít tháng Trung Quốc đã cải tạo một số đảo và bãi đá nhỏ trên Biển Đông thành 6 căn cứ quân sự – hành động gây đe dọa cho một số quốc gia trong khu vực như Philippines và Việt Nam. Động thái này là diễn biến mới nhất trong một loạt hành động gây hấn của Trung Quốc. Năm 2012, lực lượng chấp pháp biển của Trung Quốc đã xua đuổi Philippines khỏi bãi cạn Scarborough. Cũng trong năm 2012, Bắc Kinh tuyên bố quản lý hành chính đối với khu vực này. Tháng 5/2014, các tàu chiến Trung Quốc đã hộ tống đưa giàn khoan dầu khổng lồ “Hải Dương-981″ vào vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Việc có các bến cảng và đường băng tại những căn cứ ở quần đảo Trường Sa sẽ cho phép lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc duy trì sự hiện diện thường trực tại Biển Đông mà không cần phải quay về đất liền để tiếp nhiên liệu hay sửa chữa.

Giới chức Trung Quốc từng cảnh báo rằng cuối cùng khu vực này cũng sẽ được thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ). Theo đó, mọi máy bay muốn đi qua khu vực cần phải đăng ký với chính quyền Bắc Kinh, giống như điều Trung Quốc từng làm 1 năm trước trên Biển Hoa Đông. Nước này cũng đã thận trọng khi lựa chọn xây dựng căn cứ quân sự trên những đảo mà tiềm lực của các nước xung quanh không đủ mạnh để thách thức Trung Quốc, cũng như không hoàn toàn nằm trong diện được bảo vệ trong các hiệp ước an ninh của Mỹ. Điều này trái ngược với tình thế ở Biển Hoa Đông, nơi Bắc Kinh phải tránh đụng độ với Lực lượng Phòng vệ trên biển hùng mạnh của Nhật Bản và tránh châm ngòi cho hành động can thiệp của Mỹ ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Mỹ không có quyền lợi trong các yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, song Washington có lợi ích quan trọng trong việc không để Trung Quốc sử dụng áp lực thay đổi hiện trạng. Các bước đi gần đây của Trung Quốc cho thấy nước này có ý định làm như vậy. Sẽ khó ngăn chặn Trung Quốc bồi đắp đất đá và xây dựng căn cứ trên các đảo, song có thể thực thi nhiều biện pháp khác nhằm khuyến cáo Bắc Kinh không nên đi theo xu hướng này.

Thứ nhất, Washington nên tiếp tục giúp xây dựng năng lực cho các quốc gia trong khu vực như Philippines và Việt Nam – những nước bị đe dọa trực tiếp nhất từ sự tăng cường lực lượng nhanh chóng của Bắc Kinh. Đặc biệt, Mỹ nên ủng hộ nỗ lực của các nước Đông Nam Á cải thiện khả năng giám sát biển. Nhật Bản và các đồng minh khác sẵn sàng giúp đầu tư cơ sở hạ tầng và chuyển giao thiết bị.

Thứ hai, hải quân Mỹ cần phải thể hiện rằng các hành động của Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng tới vấn đề tự do hàng hải trong khu vực. Việc Mỹ triển khai luân phiên 4 tàu chiến tới Singapore sẽ giúp ích cho điều này, song những tàu này và các tàu chiến khác thuộc Hạm đội 7 Hải quân Mỹ cũng nên tăng cường hoạt động diễn tập với các đối tác trong khu vực. Bắc Kinh cũng nên hiểu rằng mọi tuyên bố thiết lập ADIZ trên Biển Đông là “không thể chấp nhận được”.

Thứ ba, Washington cần ủng hộ các biện pháp ngoại giao và pháp lý của các nước Đông Nam Á nhằm kiềm chế tham vọng của Bắc Kinh ở Biển Đông. Mỹ lâu nay vẫn khuyến khích việc xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) giữa Trung Quốc và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), song Bắc Kinh dường như muốn trì hoãn tiến trình đàm phán. Trong bối cảnh đó, Washington nên tăng cường ủng hộ các nỗ lực giải quyết tranh cãi bằng luật pháp quốc tế. Philippines đang kiện các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ra tòa án quốc tế và Mỹ nên cung cấp những thông tin chi tiết cho thấy Trung Quốc đang thay đổi nguyên trạng quần đảo Trường Sa.

Mục tiêu chính sách của Mỹ không nhằm đánh bại Trung Quốc trên mặt trận ngoại giao ở châu Á mà là nhằm đưa Bắc Kinh đi theo một con đường ngoại giao trách nhiệm hơn. Mặc dù Washington đã có những bước đi nhỏ theo hướng này song dường như vẫn đang cân nhắc xem hiện tại đã là thời điểm thật sự thích hợp cho một mối quan hệ căng thẳng với Bắc Kinh hay không? Việc Trung Quốc nhanh chóng tăng cường lực lượng ở Biển Đông sẽ khiến vấn đề này trở nên rõ ràng hơn. Nếu không có một sự phản ứng mạnh mẽ ngay lúc này thì gần như chắc chắn sẽ xảy ra một cuộc đối đầu nguy hiểm hơn trong tương lai.

Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG / WASHINGTON POST

Tập Cận Bình kêu gọi hợp tác Á Châu do Trung Quốc lãnh đạo

BOAO, Trung Quốc (AP) – Chủ tịch nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình hôm Thứ Bảy khi đọc diễn văn khai mạc một hội nghị kinh tế đã kêu gọi có thêm các nỗ lực do Trung Quốc hướng dẫn nhằm khuyến khích hợp tác kinh tế và chính trị ở Á Châu.

Tập Cận Bình tại buổi họp báo trong một lần tiếp khách ngoại quốc. (Hình: AP Photo/Feng Li)
Ông Tập đọc bài diễn văn chính ở Diễn Đàn Boao này trên đảo Hải Nam ở phía Nam Trung Quốc và cũng ca ngợi tương lai sáng sủa của nền kinh tế Trung Quốc dù rằng mức phát triển có bị chậm lại.

Ông hoan nghênh điều gọi là thế giới đa cực, trong đó tất cả các quốc gia đều có một vai trò đồng đều để đóng góp vào sự phát triển và an ninh của khu vực.

Phát biểu này được đưa ra trong lúc Trung Quốc tìm cách thách đố vai trò lãnh đạo của Mỹ ở Á Châu bằng cách đưa ra các chương trình riêng của mình như Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu (AIIB), nơi Mỹ không tham dự, và hung hăng khẳng định chủ quyền của mình ở những vùng biển đang có tranh chấp.

Trước sự hiện diện của hàng trăm đại biểu khu vực, ông Tập nói rằng Á Châu cần phải xây dựng một “cộng đồng có cùng tương lai” để đóng góp vào sự phồn thịnh của thế giới.

“Chúng ta cần phải đảm bảo rằng tất cả các quốc gia phải tôn trọng lẫn nhau và đối xử bình đẳng với nhau,” ông Tập nói. “Các quốc gia có thể khác nhau về sự rộng lớn, sức mạnh và mức độ phát triển, nhưng tất cả đều là những thành viên bình đẳng trong cộng đồng quốc tế và có cùng quyền tham dự vào các vấn đề quốc tế.”

Cùng lúc, ông Tập cũng tìm cách trấn an các giới lãnh đạo khu vực rằng nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục ổn định, dù mức phát triển nay vào khoảng 7%, thấp nhất từ hai thập niên qua.

@ NguoiViet

Dự án bôxit “sập bẫy” nhà thầu Trung Quốc ra sao?

TTO – “Nếu sản xuất đủ 660.000 tấn theo kế hoạch thì tổng lỗ năm 2015 của Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ khoảng 37,4 triệu USD”.

Bùn đỏ vương vãi, chỉ cần mưa lớn là bị rửa trôi và chảy tràn ra ngoài – Ảnh: M.Vinh

Các dự án bôxit hiện đang có nguy cơ rủi ro cao. Đặc biệt, nếu không có những biện pháp giải quyết kịp thời thì mức độ rủi ro này sẽ ngày càng gia tăng.

Nhiều chuyên gia đã nhận định chủ đầu tư là Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam  (TKV) đã “sập bẫy” của nhà thầu Trung Quốc.

“Chết” ngay từ khi đấu thầu

Theo tiến sĩ (TS) Nguyễn Thành Sơn – nguyên giám đốc Ban quản lý dự án than đồng bằng sông Hồng, Luật đấu thầu của VN quy định ngay cả khi chọn thầu, chủ đầu tư phải soạn thảo hồ sơ mời thầu và phải được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Ông Sơn cho biết với những dự án lớn như Tân Rai và Nhân Cơ thì thông thường phải thuê tư vấn làm hồ sơ mời thầu, thiết kế kỹ thuật, đánh giá hồ sơ. Tuy nhiên, trường hợp này TKV đã tự mình làm mọi thứ.

Trên lý thuyết, khi TKV tự làm thì sẽ tiết kiệm chi phí tư vấn, tức khoảng 5% tổng giá trị gói thầu, tương đương 695 tỉ đồng. Nhưng trên thực tế, TKV đã công bố phí quản lý và tư vấn dự án lên gần 800 tỉ đồng.

Ông Sơn cho rằng: “TKV đã tự mình mắc lừa, tự sập bẫy của chính mình. Tưởng làm lấy sẽ rẻ, nhưng cuối cùng lại không rẻ”.

Ông Nguyễn Văn Ban – nguyên trưởng ban alumin (Tổng công ty Khoáng sản VN) – trình bày: “Ở một hội thảo diễn ra năm 2009 đã chỉ ra những nguy cơ về hiệu quả kinh tế của các dự án này, nhất là với nhà máy Nhân Cơ”.

Ông Ban cho biết nhà thầu Trung Quốc đã bỏ thầu rất thấp làm các nhà thầu ở những nước phương Tây từ bỏ. Nhưng đến khi chúng ta làm việc cùng họ để ký hợp đồng thì giá bỏ thầu và giá trên hợp đồng là khác nhau.

“Phía Trung Quốc giải thích về sự chênh lệch này là do trong giá bỏ thầu họ chưa tính đến các thiết bị dự phòng” – ông Ban dẫn lại lời lãnh đạo TKV thời đó giải thích.

TS Nguyễn Thành Sơn bổ sung trong đấu thầu bao giờ cũng có điều kiện tiên quyết là yêu cầu kinh nghiệm của nhà thầu. Theo đó, nhà thầu cho biết công nghệ được sử dụng ở nhà máy Tân Rai là công nghệ bayer  – công nghệ được cho là tiên tiến nhất hiện nay.

“Tuy nhiên, điều quan trọng là các thiết bị trên dây chuyền công nghệ ấy có hiện đại hay không? Tân Rai có thể “chết” vì chính điều đấy” – TS Sơn nhấn mạnh.

Cũng theo ông Sơn, kế hoạch điều hành sản xuất năm 2015 của cả Tân Rai và Nhân Cơ là sản xuất và tiêu thụ 660.000 tấn alumina.

Giá thành bình quân tính cả chi phí vận chuyển là 403-464 USD/tấn. Trong khi đó, giá bán theo báo cáo của TKV gửi Thủ tướng Chính phủ là 324-346 USD.

Ông Sơn thông tin: “Năm 2013, tỉ lệ thua lỗ là 20%. Năm 2014 tăng lên thành 21%. Riêng năm 2015 thì dự tính là lỗ 14% với điều kiện sản xuất đủ 660.000 tấn theo kế hoạch. Nếu không đủ sản lượng này thì tỉ lệ thua lỗ cũng không giảm nhiều”.

Ông Nguyễn Văn Ban nói: “Tại Trung Quốc chưa có nhà máy nào xử lý quặng bôxit tương tự của nước ta. Họ chỉ sử dụng công nghệ hòa tách bằng hệ thống đường ống chưa được sử dụng rộng rãi trên thế giới”.

Vì vậy, theo ông Ban, hai nhà máy họ xây dựng chỉ mang tính “thử nghiệm” nên việc thiết kế, vận hành, kinh nghiệm sản xuất và quy trình công nghệ không đảm bảo tạo nên những rủi ro vô cùng lớn cho hai nhà máy.

So sánh với mặt bằng chung trên thế giới, ông Ban nhấn mạnh thiết kế kỹ thuật của nhà thầu Trung Quốc có hệ thống chỉ tiêu rất thấp.

Ông Ban dẫn chứng: “Nước tiêu hao gấp đôi, tỉ lệ tiêu hao năng lượng tăng lên 25%, kiềm tăng 5-7kg /tấn alumin và đặc biệt là thực thu alumin của nhà máy chỉ đạt 85% trong khi bình quân của thế giới là 87%”.

Điều này dẫn đến nếu nhà máy Tân Rai sản xuất 630.000 tấn/năm, giảm 20.000 tấn/năm so với công bố của TKV thì mỗi năm mức tổn thất sẽ khoảng 40 triệu USD.

Theo ông Ban, rủi ro của nhà máy Tân Rai ngày càng lớn. Hồ bùn đỏ thiết kế rất đắt nhưng khả năng lưu giữ thấp mà sắp tới phải mở rộng hồ. Đồng thời, quặng của nước ta có lượng chất hữu cơ cao gây nguy hiểm cho chất lượng alumin.

“Tất nhiên, chỉ sau 4-5 năm, khi hữu cơ tích tụ trong dây chuyền thì mới tác động đến sản phẩm. Tuy nhiên điều lo lắng là trong thiết kế của nhà thầu Trung Quốc không hề có công đoạn lọc khử cacbon hữu cơ này” – ông Ban khẳng định.

Ông Sơn cho biết: “Ngày xưa, nói đến dự án bôxit Tây nguyên người ta lo về ảnh hưởng tới môi trường (bùn đỏ). Đến nhà máy alumina thì lo thêm vì hiệu quả kinh tế”.

VÕ HƯƠNG – C.V.KÌNH – MẠNH KHANG

Đọc cuối tuần : Cuộc đời bi thương của Hoàng thái tử Bảo Long

Hoàng thái tử Bảo Long từng bị giám sát chặt chẽ khi đi học, tham gia quân đội trong tuyệt vọng và qua đời lặng lẽ tại Pháp. Vua Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị từ năm 1945, nhưng cho đến giữa thập niên 1950, mong muốn và tính toán cho việc đưa Hoàng thái tử Bảo Long (sinh năm 1936) lên ngôi chấp chính vẫn còn âm ỉ.

Trên đất Pháp, Bảo Long được chăm chút chuyện học hành, chăm sóc bảo vệ theo tiêu chuẩn của một ông hoàng. Thế nhưng, khác với Bảo Đại, Bảo Long đã tự quăng quật trong khó khăn, luôn cố gắng thoát khỏi bóng dáng chiếc áo bào Vương gia. Năm 1948, sau khi sang Pháp, bà Nam Phương quyết định cho Bảo Long vào học trường Roches. Đây là một trường đứng đắn, kỷ luật rất nghiêm khắc, được nhà thờ Công giáo bảo trợ. Bà rất hiểu tính nết bướng bỉnh khó bảo của con trai, hy vọng học trường này con bà sẽ trở nên thuần thục hơn.

Bảo Long cố gắng khép mình vào kỷ luật học đường, song tước vị hoàng tử kế nghiệp cũng cho cậu được hưởng một số đặc quyền: mỗi buổi sáng cậu ta được tắm nước nóng trong khi các bạn cùng lớp phải tắm nước lạnh. Khẩu phần bữa tối cũng được ưu tiên: được chia nhiều thức ăn hơn, nhiều chocolate hơn. Cậu ta còn đem chia bớt cho các bạn.

Bảo Long thông minh, sáng dạ, nhanh chóng hoà nhập với tập thể, giỏi văn chương, ngôn ngữ, cả từ ngữ như tiếng Hy Lạp cổ. Ngược lại về toán và các khoa học tự nhiên thì kết quả bình thường, tuy nhiên, cũng nhiều lần đứng hàng đầu trong bảng tổng xếp hạng.

Thời gian đầu, các thầy cô giáo và bạn học lúng túng không biết xưng hô thế nào cho phải với tước vị cao quý của Bảo Long. Cuối cùng ông hiệu trưởng chọn tên… Philippe để đặt cho cậu. Philippe có nguồn gốc Hy Lạp “hyppos”, có nghĩa là ngựa. Bảo Long vốn mê cưỡi ngựa. Được hỏi ý kiến, Bảo Long về hỏi lại mẹ, cuối cùng cả hai đều đồng ý. Bảo Long chỉ có ba người bạn thật sự gọi là thân thiết. Ông thích thể thao, biết chơi nhiều môn. Đây cũng là đặc thù của nhà trường. Phần lớn các buổi chiều đều dành cho hoạt động thể thao. Sinh hoạt lớp có trưởng lớp điều khiển, được gọi là “đội trưởng”. Bảo Long được lòng bạn bè nên từ lớp đệ nhị bậc trung học ông được chỉ định làm trưởng lớp.

17 tuổi, Bảo Long đỗ tú tài triết học, nhưng vẫn luôn luôn có cảnh binh đi kèm. Sau này Bảo Long kể lại: “Tôi phải sống ngăn cách với thế giới xung quanh, có cảnh binh bảo vệ, mặc dù ở Cannes là cả một thế giới ăn chơi, có ôtô sang trọng, có máy bay riêng, có gia nhân đầy tớ. Tóm lại tôi không biểu sao người ta lại bắt tôi sống trong ký túc xá trường trung học Roches, kỷ luật khắt khe, thiếu thốn mọi thứ. Sau này tôi mới hiểu, chính mẹ tôi muốn tránh cho tôi khỏi bị nuông chiều quá, tránh cuộc sống phóng đãng như cha tôi, một lối sống đã gây cho bà nhiều đau khổ”.

Dù sao, ông cũng được bố tặng một chiếc ôtô làm quà sinh nhật, tuy còn thiếu nửa năm nữa mới đến tuổi cầm tay lái. Trên chiếc thuyền cha ông mới mua, neo ở Monte Carlo, ở đó một thanh tra cảnh sát đã chuẩn bị sẵn chờ ông đến là trao giấy phép đặc cách, dành cho con trai Hoàng đế An Nam do nước cộng hoà Pháp bảo trợ. Đó là một chiếc xe đẹp và dài, nổi tiếng thanh lịch, động cơ mang nhãn hiệu Jaguar XK 120. Vừa ra khỏi cảng, xe đã đâm vào sườn một chiếc xe đi ngược chiều.

Bảo Long khi đó chưa biết lái xe, chưa qua một lớp học lái, chỉ trông vào thực hành. Trong hai năm, ông gây ra mười hai vụ tai nạn. May là không nghiêm trọng cho cả hai bên. Mỗi lần cầm tay lái chiếc xe tốc độ cao, ông phải cố kiềm chế để xe đi với vận tốc trung bình. Đám cảnh sát hò hét hết hơi để chạy theo, nhiều khi phải mượn chiếc xe 203 của cha ông mới đuổi kịp. Sau vụ âm mưu bắt cóc, cảnh sát vẫn giám sát chặt chẽ hành trạng của Bảo Long.

Thường chỉ có một nhân viên được phân công luôn luôn kèm sát thái tử để bảo vệ. Đó là thanh tra Tổng nha tình báo Chabrier. Ông ngủ luôn ở phòng liền kề, thông với phòng ngủ của Bảo Long, có thể nhanh chóng can thiệp khi có chuyện. Hàng ngày, ông theo Bảo Long đến trường, chiếm một chỗ ngồi cuối lớp nhưng không phải để nghe giảng bài mà chỉ chăm chăm theo dõi nhất cử nhất động của thái tử. Ban đầu, các bạn học ngạc nhiên thấy hôm nào cũng có một người lớn tuổi có mặt trong lớp nhưng cũng quen dần.

Mỗi khi Bảo Long ra ngoài, dù trên máy bay hay xe lửa, Chabrier luôn luôn đi bên cạnh. Những hôm Bảo Long lái xe đi chơi xa, người ta thấy ông ghì chặt tay lái chiếc xe 203 bám theo xe của Bảo Long. Nhưng khi ông về nghỉ với gia đình ở Paris, Cannes hay Valberg, thì lập tức đã có cảnh sát địa phương thay thế.

Đỗ tú tài xong, Bảo Long ghi tên học dự thính cả hai trường một lúc: trường Hành chính và trường Luật. Thế rồi, đột nhiên Bảo Long muốn từ bỏ cuộc sống được chiều chuộng quá mức, có nhiều xe ôtô sang trọng, kể cả các thanh tra Tổng nha tình báo chăm chú bảo vệ mình để xin đứng vào hàng ngũ chiến đấu. Ông cho cha ông biết ý định từ bỏ vai trò kế vị ngôi báu mà người ta giao cho ông từ khi chào đời và muốn trở về nước, theo học trường võ bị Đà Lạt mới thành lập để trở thành sĩ quan quân đội quốc gia (của chính phủ Bảo Đại làm quốc trưởng bù nhìn).

Bất ngờ trước ý định của con trai, cựu hoàng Bảo Đại ban đầu chối từ vì ông không muốn con trai ông làm vật hy sinh. Thấy Bảo Long tha thiết theo đuổi binh nghiệp hơn là làm chính trị, Bảo Đại cho con vào học trường võ 5 bị Saint Cyr, có tiếng hơn và… an toàn hơn. Ngoài ra ông thường nói: “Làm gì có giải pháp Bảo Đại mà chỉ có một giải pháp của người Pháp mà thôi!”.

Trong lòng bực bội nhưng Bảo Long tuân lệnh cha, không trở lại Việt Nam. Bảo Long bình thản chịu đựng cuộc sống khắc khổ trong quân ngũ, chan hoà với 27 bạn đồng ngũ chung chạ trong một phòng. Ông có thể rời bỏ trường bất kỳ lúc nào ông muốn nhưng ông ở lại, kiêu hãnh trong bộ quân phục áo đỏ, mũ chùm lông, đặc trưng của học sinh quân Saint-Cyr.

Ông tham gia cuộc diễu binh ngày Quốc khánh Pháp 14/7/1955, đi qua quảng trường Champs Elysées, ông đi ở hàng cuối của tiểu đoàn vì vóc dáng bé nhỏ. Bảo Long rất ít giống cha. Trong khi vẫn nói ông quyến luyến và khâm phục cha nhưng ông hết sức cố gắng để không giống cha. Tất cả những gì là kiêu căng, hợm hĩnh và tự mãn đều xa lạ đối với ông. Tính tình Bảo Long hướng về cái bi thảm còn cha ông, ngược lại, ham chơi, thích hưởng lạc.

Cuối năm 1956, sau hai năm học ông phải chọn một trường thực hành Năm học thực hành kết thúc, xa Saumur, xa bầy ngựa, ông nghĩ đến… cái chết. Một cái chết nhanh chóng, nếu có thể, phải là cái chết vẻ vang. Ông không vượt qua được nỗi đau mất nước và quên đi thất bại thảm hại của cha ông. Chàng thanh niên kế vị triều Nguyễn quyết định dứt khoát, tìm đến cái chết để khỏi phải đau khổ, chấm dứt chuỗi thất bại và bơ vơ trong thời niên thiếu của mình.

Thay vì tự tử ông xin chuyển sang đội quân lê dương để đi chiến đấu ở Algerie. Ông nghĩ đó là cách chắc chắn nhất để không bao giờ phải nghĩ lại nữa và tự kết liễu đời mình nhanh nhất. Phải gần 3 tháng sau, ông mới nhận được công văn chấp thuận của Bộ chiến tranh, trong khi ở Sài Gòn người ta đem hình nộm và ảnh chân dung của cha ông ra đốt và làm nhục.

Khi biết quyết định của con, Bảo Đại cũng như Nam Phương “tôn trọng ý nguyện của con” không tìm cách làm thay đổi sự lựa chọn của con, tránh không gợi vấn đề và giữ im lặng, không bộc lộ cơn xúc động trước mặt con. 10 năm phục vụ ở Algerie đã để lại trong ông một dư vị cay đắng. Đạo quân ông đã lầm lạc phục vụ suốt 10 năm, không để lại cho ông một kỷ niệm nào tốt đẹp.

Ông đã mất thăng bằng về tinh thần và ngày một tuyệt vọng. Sau đó, Bảo Long rời quân đội làm việc trong một chi nhánh ngân hàng có hội sở giao dịch khá to và đẹp trên đại lộ Opéra. Ông là người có tài, có kinh nghiệm dày dạn trong việc làm cho tiền của mẹ ông sinh sôi. Ông phụ trách công việc đầu tư tiền của khách hàng ra nước ngoài, đem lại lợi ích cho họ. Đến giờ ăn trưa, ông cũng dừng lại trước một quầy hàng có mái che rồi bước vào mua một bánh mì kẹp thịt như tất cả mọi người. Trái với cha, ôngkhá giàu có.

Từ văn phòng ngân hàng, ông quản lý tài sản thừa kế của mẹ, quan tâm đến việc sinh lợi, giữ được đôi chút ổn định sau bao nhiêu bão tố. Ông sống trong một căn hộ đẹp ở đường Marais. Chưa bao giờ lập gia đình, ông cũng không có con cái. Ông luôn luôn day dứt vì cuộc sống lưu vong. Cuộc sống nhiều tai tiếng của bố, những tranh chấp kiện tụng giữa hai cha con chia nhau báu vật khiến tâm trạng ông lúc nào cũng u uất, buồn phiền.

Trong đám tang Bảo Đại, Bảo Long đứng ở bên linh cữu. Nhưng khi tang lễ kết thúc, trong lúc tiếng đàn ống lớn của nhà thờ vang lên, ông không đi theo cùng đoàn tang như truyền thống đòi hỏi. Bảo Long, gần như không muốn mọi người nhìn thấy, kín đáo bước ra khỏi nhà thờ bằng một cửa ngách.

Cộng đồng người ở Paris không biết gì mấy về một ông hoàng bí ẩn, giữ kẽ. Ông qua đời ngày 28/7/2007 tại Bệnh viện Sens (Pháp), lễ an táng được tổ chức vào ngày 2/8/2007, chỉ bao gồm những người thân thích của gia đình.

Theo XA LỘ PHÁP LUẬT

Máy bay có bao giờ an toàn tuyệt đối?

 HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt

HOA KỲ – Kể từ khi có những hành động khủng bố, nhiều biện pháp an ninh đã được gia tăng áp dụng trên các máy bay chở hành khách. Nhưng nếu  tai nạn không phải vì kỹ thuật mà bởi con người, do lỗi lầm hoặc do sự cố ý của những cá nhân có âm mưu hay vấn đề bất thường, thì không thể có phương cách gì tuyệt đối bảo đảm để ngăn ngừa.

Các toán cấp cứu làm việc ở nơi chiếc máy bay của Germanwings lao xuống vùng núi Alps hiểm trở và vỡ tan ra thành những mảnh nhỏ. (Hình: AP/Bộ Nội Vụ Pháp, Francis Pellier)

Một tai nạn bi thảm vừa xảy ra hôm 24 tháng 3 cho chuyến bay 4U9525 của hãng Germanwings, khi người cố ý giết 144 hành khách, 5 nhân viên phi hành đoàn, và chính mình, lại là một trong hai cá nhân nắm quyền điều khiển máy bay.

Trong quá khứ đã từng xảy ra ít nhất 10 trường hợp tương tự như vậy trên thế giới.

Cuộc điều tra đến nay chưa tìm ra nguyên nhân của hành đông khủng khiếp này, nhưng không có gì nghi ngờ là phi công phụ Andreas Lubitz, 27 tuổi, đã cố tình tự sát. Anh nhân lúc phi công chính đi ra phòng vệ sinh nằm ở khoang hành khách, đã khóa cửa phòng lái để không ai có thể can thiệp khi điều khiển máy bay trong 8 phút từ cao độ 38,000 feet đâm xuống vỡ tan trong vùng núi Alps trên đất Pháp.

Phi công trưởng Patrick Sondeheimer có 10 năm kinh nghiệm với 6,000 giờ lái máy bay Airbus A320 trong công ty hàng không Đức  Lufthhansa và các hãng chi bộ. Việc có thể tạm rời ghế lái để phi công phụ điều khiển máy bay là đúng luật, khi đã ở cao độ bình phi, nghĩa là không phải trong giai đoạn máy bay đang lên hay xuống.

Tất nhiên ông thể nào nghĩ là phi công phụ khóa cửa để ông không thể trở lại. Từ sau khi không tặc cướp máy bay khủng bố trong vụ 9/11, phòng lái buộc phải khóa để không ai có thể đột nhập. Muốn từ khoang hành khách đi vào, các phi công có thể dùng mã số. Tuy nhiên nếu bên trong nhấn một nút an toàn khẩn cấp để khóa thì  mã số cũng không dùng được nữa.

Quy định chặt chẽ ở phòng lái  được thực hiện bởi các công ty hàng không Mỹ, chẳng hạn phi công không được ra ngoài trong chuyến bay, phòng lái lúc nào cũng phải có ít nhất hai người để có thể trợ giúp nhau trong trường hợp khẩn cấp như sức khỏe hay lý do khác, nhưng thủ tục này không phải là tiêu chuẩn ở Âu Châu.

Hôm Thứ Sáu, Cơ Quan An Ninh Hàng Không Âu Châu (EASA) đưa ra quy định trong phòng lái nên có ít nhất hai người trong đó nhất định phải một người có khả năng điều khiển bay. Trước kia trong phòng lái bình thường có 3 người, một là hoa tiêu dẫn đường, ngày nay không cần trên các máy bay đường ngắn vì đã có nhiều loại máy móc, như GPS, thay thế, và do đó chỉ có hai phi công.

Quy định của EASA không có tính cách bắt buộc, tuy nhiên vẫn luôn luôn được các hãng hàng không thi hành. Lufthansa Group, công ty sở hữu hãng hàng không giá rẻ Germanwings, nói sẽ áp dụng quy định này ngay. Các hãng Austrian Airlines, Swiss Air, Brussels Airines ở Áo, Thụy Sĩ, Bỉ và nhiều hãng hàng không Âu Châu khác cho biết cũng sẽ theo Lufthansa càng sớm càng tốt.

Ilja Schulz, chủ tịch liên đoàn phi công Cockpit ở Đức cho biết công đoàn của ông sẽ thi hành quy định hai người trong phòng lái. Ông nói:  “Đây là biện pháp trung gian hợp lý nhưng khi cuộc điều tra kết thúc, tất cả các bên sẽ phải ngồi lại để nghiên cứu thêm những biện pháp hầu tăng cường an toàn và tránh những vấn đề mới.” Các chuyên gia nói rằng quy định hai người không khuyến cáo phương cách an toàn hơn là phòng lái luôn luôn nên đóng cửa.”

Công đoàn phi công Pháp SNPL hôm Thứ Sáu cho biết họ sẽ đệ đơn kiện việc tiết lộ tin tức trong cuộc điều tra tai nạn máy bay Germanwings. Các phi công Âu Châu phê phán chuyện những cơ quan truyền thông loan tải tin tức về giây phút cuối của chuyến bay trước khi công tố viên và các người trách nhiệm khác nhận được báo cáo. Theo họ tình hình ấy sẽ làm giảm niềm tin cậy của công chúng.

Guillaume Schmid thuộc công đoàn SNPL nói rằng nội dung đơn kiện là về sự vi phạm luật lệ của Pháp theo đó phải bảo mật thông tin khi cuộc điều tra còn đang tiến hành. Theo ông dù cho áp lực và sự nôn nóng chờ đợi được biết nội vụ, tiết lộ thông tin quá sớm có thể đánh lạc hướng dư luận thay vì cung cấp những chi tiết chính xác đã được kiểm chứng.

Những vụ tai nạn xảy ra trong hoàn cảnh tương tự, cuộc điều tra chỉ có thể đưa đến kết luận hầu như chắc chắn – không phải tuyệt đối chắc chắn – là do phi công tự sát. Có 7 trường hợp như vậy từ 1976 đến nay và 4 trường hợp khác nghi ngờ là phi công tự sát.

Vụ đầu tiên xảy ra ngày 26 tháng 9 năm 1976 do một phi công Aeroflot, hãng hàng không Liên Xô, lái máy bay từ phi cảng về đâm xuống căn nhà của người vợ cũ. Bà này thoát chết nhưng 12 người trên máy bay và 11 người dưới đất tử nạn.

Hai tai nạn chết nhiều người nhất là vụ máy bay EgyptAir năm 1990 và Malaysia Airlines năm 2014.

Ngày 31 tháng 10 năm 1990, EgyptAir chuyến bay 990 từ LAX, Los Angeles đi Cairo, Ai Cập, qua một trạm ngừng ở New York. Ít phút sau khi cất cánh rời khỏi phi cảng quốc tế JFK, chiếc Boeing 767-300ER rớt xuống biển Đại Tây Dương cách đảo Nantucket, Massachusetts, 60 dặm về phía Nam, làm toàn thể 217 người trên máy bay tử nạn.

Vì tai nạn xảy ra ở hải phận quốc tế, trách nhiệm điều tra thuộc Ai Cập, nhưng Ai Cập nhờ NTSB của Hoa Kỳ cùng giúp điều tra. Kết quả do NTSB đưa ra hơn hai năm sau là không tìm thấy chứng cớ nào về trục trặc kỹ thuật của máy bay. Căn cứ theo dữ kiện của hộp đen, trong lúc phi công trưởng đang để máy bay tăng cao độ như bình thường thì phi công phụ điều khiển ngược lại và NTSB kết luận có lẽ đây là hành động muốn tự sát của phi công phụ Gameel Al-Batouti.

Cơ quan điều tra Ai Cập đã nhường quyền điều tra cho NTSB nhưng rồi không muốn kết luận đi về hướng ấy vì ảnh hưởng liên quan đến vấn đề chính trị của chính quyền Tổng Thống Hosni Mubarak, chỉ kết luận “nghi ngờ do sự trục trặc kỹ thuật.”

Tai nạn máy bay Malaysia Airlines chuyến bay MH370 ngày 8 tháng 3 năm 2014 là bí ẩn lớn nhất trong lịch sử hàng không, cuộc tìm kiếm qua hơn một năm vẫn chưa đem lại chút dấu tích gì. Người ta chỉ biết được một điều chắc chắn là máy bay mất liên lạc trên Biển Đông khi sắp vào vùng trách nhiệm không lưu của Việt Nam. Những nghiên cứu tinh vi và hết sức chuyên môn khác ghi nhận máy bay đổi hướng và cuối cùng không biết bay tới đâu. Không hiểu nguyên nhân trong hành động ấy của phi hành đoàn và không biết vì sao các phi công cắt đứt mọi liên lạc với mặt đất. Giả thuyết được coi như hợp lý nhất là máy bay bị không tặc hoặc phi công muốn tự sát, tuy nhiên không có dữ kiện cụ thể nào hỗ trợ cho lập luận này.

Ngành hàng không dân dụng qua một thế kỷ đã có hàng trăm biện pháp an ninh về mặt kỹ thuật để hỗ trợ cho sự an toàn của một chuyến bay. Về nhân sự cũng có những quy luật rất chặt chẽ từ tuyển dụng, huấn luyện cho đến thi hành nhiệm vụ. Kể từ khi nạn khủng bố trở thành mối đe dọa đáng ngại nhất cho các đường hàng không, các phi công được huấn luyện thuần thục về phương cách ứng xử khi gặp nạn theo huấn thị lấy mục tiêu bảo vệ an toàn cho hành khách làm ưu tiên tuyệt đối.

Với tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày nay, thông tin liên lạc giữa máy bay và mặt đất được duy trì thường trực suốt trong chuyến bay từ khi hành khách lên tàu cho tới lúc xuống tàu. Vì vậy bất cứ một sự kiện khác thường nào xảy ra cho máy bay đài kiểm soát không lưu đều có thể nhận biết tức khắc.

Tuy nhiên, trong tất cả mọi điều kiện như thế, con người vẫn là yếu tố quyết định và khó khăn lớn nhất nếu xảy ra là từ con người. Máy bay Malaysia Airlines chuyến MH370 mất liên lạc với mặt đất trong nhiều phút rồi mới được báo động và cuộc điều tra về tình trạng này vẫn còn được tiếp tục để tìm hiểu nguyên nhân.

Chuyến bay Germanwings 4U9525 cất cánh từ phi cảng quốc tế Barcelona-El Prat, Tây Ban Nha, lúc 10.01 CET, giờ dùng chung cho hầu hết các nước Tây Âu, sớm hơn giờ quốc tế UTC 1 giờ, và dự tính đến Dusseldorf, Đức, lúc 11. 39 CET. Máy bay đi vào không phận Pháp và các phi công liên lạc cho biết nhận lệnh về hướng bay và cao độ của đài kiểm soát không lưu Pháp lúc 10.31 CET.

Ngay sau đó khi vượt qua bờ biển vào tới đất liền gần Toulon, máy bay đang từ cao độ 38,000 feet hạ xuống thấp rất nhanh không hề được phép. Radar ghi nhận máy bay đi xuống 3,500 feet mỗi phút và đài không lưu Pháp cố gắng liên lạc với máy bay nhưng không nhận được trả lời. Máy bay chiến đấu Mirage của không quân Pháp được lệnh lập tức cất cánh để nghênh cản. Radar mất liên lạc lúc 10.40 CET khi máy bay xuống tới cao độ 6,175 feet.

Căn cứ theo những dữ kiện phi hành và phân tích thông tin ghi lại ở hộp đen, người ta gần như tin chắc đây là hành động cố ý tự sát của phi công phụ Andreas Lubitz. Nhưng trước hết hồ sơ lý lịch minh định Lubitz không phải là một phần tử khủng bố và hành động chỉ có thể do một nguyên nhân chưa thể hiểu được về tình trạng sức khỏe tâm thần hoặc vấn đề cá nhân nào đó.

Các phi công đều được kiểm tra sức khỏe, thể lực và tâm thần, hàng năm. Truyền thông Đức nói rằng những giấy tờ bênh viện còn để lại ở nhà Lubitz cho thấy viên phi công này bị sa sút tinh thần trong thời gian gần đây, nhưng có lẽ đã giấu tình trạng của mình không để cho hãng Germanwings biết. Tuy nhiên biện lý cuộc Dusseldorf nói rằng không tìm thấy có lưu bút gì về ý định tự tử