Những binh chủng đặc biệt diễu binh mừng Quốc khánh 2-9-2015

– Tham gia phần diễu binh trong lễ kỷ niệm 70 năm Quốc khánh tại quảng trường Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 2/9 là những binh chủng, đơn vị hiện đại, có nhiều thành tích xuất sắc.

Đội hình diễu binh của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có các đơn vị sĩ quan lục quân, sĩ quan chính trị, sĩ quan hậu cần, sĩ quan kỹ thuật.

Khối học viên gồm Trường Sĩ quan lục quân, Trường Sĩ quan chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Phòng không – không quân, Trường Sĩ quan không quân, Học viện Hải quân, Học viện Biên phòng, Trường Sĩ quan đặc công, Trường Sĩ quan tăng thiết giáp, Trường Sĩ quan pháo binh, Trường Sĩ quan công binh…

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

Các lực lượng bộ binh, đặc công, đặc công biệt động, trinh sát đặc nhiệm, chiến sĩ đổ bộ đường không, chiến sĩ phòng không – không quân, hải quân, hải quân đánh bộ, chiến sĩ biên phòng, cảnh sát biển, chiến sĩ quân y, sĩ quan an ninh nhân dân.

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công
Lực lượng cảnh sát có sĩ quan cảnh sát nhân dân, nữ cảnh sát giao thông, sĩ quan cảnh sát cơ động, sĩ quan trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ phòng chống tội phạm, chiến sĩ cảnh sát đặc nhiệm, chiến sĩ cảnh sát cơ động, cảnh sát phòng cháy chữa cháy…

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

hải quân, cảnh sát biển, cảnh sát, đặc công

Phạm Hải – Lê Anh Dũng- Xuân Linh

Vấn nạn Giáo dục: Nguyên nhân và Hậu quả

Nguyễn Quang Dy / @Viet-Studies

“Người ta không thể giải quyết được vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra nó” (Albert Einstein)

Tôi dùng chữ “vấn nạn” cho dễ nghe, chứ các chuyên gia giáo dục lâu nay dùng chữ “khủng hoảng” để mô tả thực trạng giáo dục hiện nay. Thực ra câu chữ không quan trọng lắm, khi mọi người đã thấy rõ bức tranh toàn cảnh. Nếu vấn nạn giao thông, hay vấn nạn y tế, có thể gây ra “đột tử” cho hàng trăm sinh mạng, thì vấn nạn giáo dục có thể gây ra “đẳng tử” (chết từ từ) cho một thế hệ (về dân trí). Vậy cái chết nào nguy hiểm hơn?

Vòng tròn luẩn quẩn

Không có chủ đề nào được bàn luận nhiều và lâu như chủ đề giáo dục. Hàng năm, cứ đến mùa thi cử, như “đến hẹn lại lên”, cả nước lại ồn ào tranh cãi về thi cử và tuyển sinh, để rồi năm sau vẫn lặp lại như cũ, với một bức tranh đa dạng hơn, và tồi tệ hơn. Năm này qua năm khác, 5 năm, 10 năm, 20 năm, hay lâu hơn nữa, như một cái vòng tròn luẩn quẩn.

Năm nay có một cháu nhỏ 12 tuổi bạo mồm gọi giáo dục là “thối nát”, và một bạn trẻ bạo gan đeo biển “học sinh không phải là chuột bạch” đứng bên cổng Bộ Giáo Dục chụp ảnh để đưa lên mạng. Có người đòi thay bộ trưởng giáo dục, hoặc thay cục trưởng khảo thí. Thực ra thay bộ trưởng giáo dục nhiều lần rồi, ông nào lên cũng hứa hẹn và chém gió rất ghê, nhưng đâu lại vào đấy. Thay người mà không đổi mới cơ chế và tư duy thì cũng vô nghĩa.

Tôi nhớ cách đây lâu lắm rồi, có một vị lãnh đạo cao cấp (hình như là cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đáng kính) đã có một nhận xét đầy ấn tượng là “chất lượng giáo dục nước ta rớt nhanh như nhảy dù”. Eo ôi! Không biết bây giờ dù đã rớt đến đâu? Việt Nam có rất nhiều trường đại học nhưng tại sao chẳng có lấy một trường nào lọt được vào danh sách được xếp hạng trong khu vực? Câu chuyện tụt hậu về kinh tế (bao nhiêu năm so với các nước khác) chẳng lẽ không liên quan gì đến tụt hậu về chất lượng giáo dục và đào tạo?

Câu chuyện bạo lực học đường, bạo lực xã hội, đâm chém nhau ngày càng man rợ như thời nguyên thủy, chẳng lẽ không liên quan gì đến dân trí và văn hóa, giáo dục? Tôi nhớ cách đây không lâu, các vị phụ huynh đáng kính đã đạp đổ cổng trường Thực nghiệm để xông vào xin học cho con. Hình ảnh độc đáo đó (không khác gì cảnh tấn công Cung điện Mùa đông thời cách mạng Nga) cần phải đưa vào Guinness Book of World Records. Đó là nhân quả.

Tại sao nhiều sách có ích cho dân trí thì bị kiểm duyệt và cấm đoán, trong khi những sách nhảm nhí có hại (như dạy trẻ đi trên thủy tinh vỡ) thì được xuất bản? Nói đến giáo dục là nói đến dân trí, văn hóa, đạo đức, tinh thần. Suy thoái về kinh tế, tụt hậu về công nghệ (hard power) có thể phục hồi trong một hai chục năm, nhưng suy thoái về dân trí, văn hóa, đạo đức, tinh thần (soft power) thì phải mất một hai thế hệ (hoặc không bao giờ). Nhân nào thì quả ấy!

Bất cập và phân liệt

Không phải chỉ có ngành giáo dục, mà ngành nào cũng vậy, giống như hài kịch đầu năm khi “các táo quân” lên trời báo cáo thành tích (nói về vấn nạn của ngành mình). Nhưng chỉ kêu ca, phê phán và đổ lỗi cho nhau, thì không thể thay đổi được nguyên trạng. Một xã hội hay một nền kinh tế bất cập, chẳng ăn nhập gì với nhau, thì không thể hội nhập, mà chỉ phân liệt (dysfunctional). Năm nay, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu, như “đến hẹn lại lên”, các chuyên gia kinh tế hàng đầu lại lên tiếng phê phán thực trạng đáng lo ngại của nền kinh tế, (xin trích dẫn):    “Không nên nói nguy cơ tụt hậu vì chúng ta đã tụt hậu rồi… Năng lực hội nhập rất là kém… Chỉ khoảng 30% doanh nghiệp hiểu đôi chút về hội nhập…” (Nguyễn Đình Cung)

“Người Việt Nam chém gió trong nước rất giỏi. Lãnh đạo còn chém gió giỏi hơn bọn tôi. Nhưng ra nước ngoài thì hầu hết là im hơi lặng tiếng…” (Võ Trí Thành)

“Thằng đàm phán cứ đàm phán, còn thằng ở nhà chẳng chuẩn bị gì cả…” (Trương Đình Tuyển).

“Chủ động hội nhập là nói cho vui thôi… Chỉ có doanh nghiệp nhỏ thì hạm đội thuyền thúng không thể nào ra khơi được… Một nền kinh tế bất ổn mà chúng ta cứ ham rẻ ôm lấy TQ tức là ôm lấy cái bất ổn…” (Trần Đình Thiên)

Nhưng có một điều nữa đáng buồn là các chuyên gia kinh tế chỉ phê phán sự bất ổn về thể chế (không sai), nhưng không đề cập đến bất ổn về nguồn nhân lực (không đủ). Với định hướng nhầm lẫn (bên trên), với dân trí thấp (bên dưới), với văn hóa chụp giật (của các nhóm lợi ích) thì lấy đâu ra nguồn nhân lực chất lượng cao để hội nhập quốc tế? Trung Quốc đã cất cánh về kinh tế vì cách đây hơn 20 năm, họ đã quyết liệt đầu tư lớn cho giáo dục đại học, đặc biệt là các trường đứng đầu (như Thanh Hoa, Bắc Kinh) để đạt đẳng cấp quốc tế (world class). Ngoài việc đổi mới thể chế, thì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố sống còn để phát triển.

Nói như vậy để thấy sự bất cập trong cơ chế quản trị đất nước. Thằng nào biết việc thằng ấy. Tao nói tao nghe, mày nói mày nghe. Chẳng ăn nhập gì với nhau. Có ông giáo dục nào đến dự Diễn đàn Kinh tế Mùa thu không? Các nhà kinh tế, các nhà hội nhập có “đặt hàng” với các nhà giáo dục không? Tại sao 40% sinh viên tốt nghiệp không có việc làm, hoặc không làm được việc? Chẳng lẽ suy thoái và tụt hậu về kinh tế không liên quan gì đến ngành giáo dục – đào tạo. Chẳng lẽ suy thoái và khủng hoảng về đạo đức và nhân cách, tình trạng vô cảm và bạo lực đến mức báo động hiện nay trong xã hội không liên quan gì đến ngành giáo dục, hay ngành văn hóa tư tưởng? Từng ngành đã yếu, sự phối hợp giữa các ngành lại càng yếu. Cơ chế quản trị nhà nước đã bất ổn, nhưng tình trạng dân trí càng bất ổn hơn. Ông Trần Đình Thiên phán, “hội nhập là nói cho vui thôi” (cũng đúng), vì chẳng có thằng nào nghiêm túc cả (trừ việc kiếm tiền cho mình).

Hãy thử xem lại một ví dụ về “cải cách giáo dục” (như case study):

Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020

Năm 2008, Bộ Giáo dục tổ chức đối thoại trực tuyến với thái độ rất cầu thị, thừa nhận sai lầm trong chương trình dạy ngoại ngữ lâu nay và hứa sẽ cải tổ. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký quyết định số 1400/QĐ-TTg, ngày 30/9/2008, duyệt kinh phí 10,000 tỷ đồng (trời phật ơi!) cho “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” (gọi tắt là Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020). Chương trình này theo “khung chuẩn châu Âu” (tại sao?) để đến năm 2020 “đa số thanh niên Việt Nam có đủ năng lực ngoại ngữ, biến ngoại ngữ thành thế mạnh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…” (thật à?). Nếu quả đúng như vậy, thì Việt Nam sẽ vượt Singapore là cái chắc!

Trong khuôn khổ triển khai đề án quốc gia đó, các tỉnh tranh thủ “tát nước theo mưa”.  Ví dụ, Long An duyệt chi 437 tỉ đồng, Kon Tum duyệt chi 135 tỉ đồng, Đà Nẵng duyệt chi 140 tỉ đồng. Không biết vì sao lại cần ngần ấy kinh phí, chẳng khác gì phong trào xây tượng đài. Nghệ An đã đầu tư nhiều tỉ đồng cho 8 phòng học ngoại ngữ theo kiểu chuyên dụng (mà không thực sự cần). Sau 7 năm (kể từ khi ký duyệt) hay 5 năm kể từ khi bắt đầu triển khai giai đoạn hai (2011-2015), bức tranh toàn cảnh về đề án này dần dần lộ rõ, làm dư luận rất bức xúc về tính hiệu quả, thậm chí nhiều người đặt nghi vấn về động cơ và sự lãng phí khi triển khai đề án. Theo các chuyên gia, cách dạy và học ngoại ngữ của đề án này “không giống ai”, cả giáo viên lẫn học sinh đều không muốn tham gia chương trình thí điểm dạy và học tiếng Anh nhàm chán này.

Trong khi đó, trẻ em người Mông ở Sa Pa học nói tiếng Anh nhanh hơn, có nhiều đứa nói lưu loát, mà không có lớp học, không có kinh phí, không có sách giáo khoa, không có giáo viên, mà chỉ học lỏm qua tiếp xúc với khách du lịch. Không phải chỉ có trẻ em, mà cả người lớn cũng học nói tiếng Anh để giao tiếp với khách quốc tế, và làm hướng dẫn du lịch. Nghe nói, người Mông hiện nay nói tiếng Anh sõi hơn là nói tiếng Kinh. Phải chăng người Mông đang hội nhập quốc tế nhanh hơn học sinh Hà Nội, mà chẳng cần Đề án Ngoại ngữ Quốc gia nào giúp.

Một ví dụ khác là bạn Võ Thị Mỹ Linh (sinh 1989). Để học tiếng Anh, Mỹ Linh đã đi du lịch (tới Nepal), để học qua thực tế cuộc sống (constructionism) và qua giao tiếp với người nước ngoài (international exposure). Mỹ Linh còn bạo gan gửi thư cho Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, để góp ý về cách dạy và học tiếng Anh. Cô gái trẻ nhận xét, “Để dạy học sinh Việt Nam hiểu tiếng Anh, các nhà soạn sách giáo khoa Việt Nam đã soạn ra những đoạn hội thoại chẳng có ý nghĩa gì và bắt học sinh học đoạn hội thoại đó để ứng dụng như một con vẹt…”

Mỹ Linh chia sẻ quan điểm, “Nhưng tôi không đổ lỗi tôi dốt tiếng Anh là tại Bộ trưởng hay tại giáo dục Việt Nam. Tôi không có thói quen đổ lỗi cho ai đó. Nếu có, tôi đổ lỗi cho chính mình trước… Các bạn muốn tiến bộ thì phải tự mình thay đổi bản thân. Các bạn muốn chỉ trích ai thì hãy chỉ trích mình trước. Các bạn muốn người ta thay đổi thì phải thay đổi bản thân mình trước. Đừng đỗ lỗi cho bất cứ ai, khi mà chính bạn không làm chủ được cuộc đời bạn…”

Người Mông ở miền ngược, và bạn Mỹ Linh ở miền xuôi là những ví dụ sống động về người dân biết thân biết phận, đang cố gắng làm chủ cuộc đời mình, bằng cách học tiếng Anh để kiếm sống và hội nhập quốc tế, mà chẳng cần đến Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 của Bộ GD&ĐT. Những câu chuyện này chẳng ăn nhập gì cả. Có điều gì đó bất ổn.

Hãy thử đặt ra vài câu hỏi về đề án trị giá 10,000 tỷ đồng này:

  • Tại sao phải chi đến 10,000 tỷ đồng (gần 500 triệu USD)? Việc cải tổ cách dạy tiếng Anh là rất cần, nhưng có cần đến một kinh phí lớn như vậy không, khi VN còn nghèo và kinh tế đang khủng hoảng. Số tiền đó đủ để lập 5 trường đại học quốc tế (như Fulbright). Ông Lý Quang Diệu chắc cũng không dám chi như vậy, tuy ông ấy kêu gọi học tiếng Anh như là vấn đề số một để phát triển và Singapore là một nước giàu. Người ta có cảm tưởng tư duy về dự án này cũng giống như dự án làm tượng đài Cụ Hồ ở Sơn La.
  • Nhưng vấn đề không phải là mất bao nhiêu tiền, mà sẽ đạt được cái gì. Ai dám đảm bảo đề án này sẽ đạt được mục tiêu đề ra là cải tổ được cách dạy tiếng Anh, để có đủ nhân tài cho hội nhập quốc tế. Đề án đã đi được nửa đường, có đánh giá giữa kỳ không? (mid-term review), có thuê tư vấn độc lập (third-party independent) đánh giá không? Đã có ai tổng kết xem có bao nhiêu đề án cải cách giáo dục thành công, thất bại, và tại sao?
  • Tại sao lại lấy “khung chuẩn châu Âu” cho dạy tiếng Anh? Chuẩn châu Âu là chuẩn gì? Tại sao dạy tiếng Anh không theo chuẩn Anh, Mỹ, Úc, Canada, mà lại theo chuẩn châu Âu? Tại sao lúc thì theo “mô hình Columbia”, lúc thì theo “chuẩn châu Âu”? Mấy cái chuẩn này ăn nhập thế nào với “chuẩn Việt Nam” và thực tế Viêt Nam? Hay lại “xôi hỏng bỏng không” và “tiền mất tật mang” (nhưng “tiền thày bỏ túi”)
  • Cuối cùng, ai sẽ chịu trách nhiệm về đề án này, nếu nó thất bại (như các đề án khác)? Ông Nguyễn Thiện Nhân là người ký duyệt, vậy ông ấy còn chịu trách nhiệm không, hay bây giờ chuyển sang phụ trách Mặt trận Tổ quốc thì hết trách nhiệm? Nếu thắng lợi thì chắc nhiều người nhận trách nhiệm, nhưng nếu thất bại thì ai chịu? Hay lại “kiểm điểm nghiêm túc để rút kinh nghiệm”, rồi đâu lại vào đấy, như một cái vòng luẩn quẩn.
  • Nếu không thạo tiếng Anh, thì lấy cái gì để hội nhập quốc tế? Chẳng lẽ lấy “Hán Nôm” và “hạm đội thuyền thúng” để hội nhập? Làm cái gì (hoc tiếng Anh) là cần thiết, nhưng làm thế nào (how) và làm vì động cơ gì (motivation) còn quan trọng hơn.

Nhân quả của vấn nạn giáo dục

Ai cũng hiểu giáo dục là vấn đề số một để phát triển (hay tụt hậu). Nước nào giáo dục cũng có vấn đề, cũng phải cải cách. Nước Mỹ dưới thời tổng thống Bill Clinton, nếu không cải cách giáo dục (vào nhiệm kỳ một) thì kinh tế không thể phát triển (vào nhiệm kỳ hai). Bill Clinton được người dân ủng hộ (mặc dù bê bối tình dục) một phần là do kinh tế phát triển tốt (nhờ hệ quả của cải cách giáo dục). Hillary Clinton đã có đóng góp đáng kể vào cải cách giáo dục (khi là đệ nhất phu nhân). Các nước Bắc Âu tuy nhỏ, nhưng kinh tế rất phát triển, văn hóa và phuc lợi xã hội rất cao, bởi vì cách đây hai thập kỷ họ đã cải cách giáo dục thành công.

Chỉ có điều là họ cải cách nghiêm túc (làm thật) nên đầu tư đúng chỗ và hiệu quả, còn chúng ta cải cách không nghiêm túc (làm trò), nên đầu tư thường sai chỗ và không hiệu quả. Dòng tiền đầu tư, cả ngân sách nhà nước lẫn vốn vay nước ngoài (ODA) không phải nhỏ, nhưng thất thoát quá nhiều (nay vẫn chưa bạch hóa được). Không biết người dân được thụ hưởng bao nhiêu từ các dự án, còn bao nhiêu chạy vào túi các nhóm lợi ích. Tham nhũng giáo dục là loại tham nhũng tồi tệ nhất, vì nó hủy hoại dân trí và tinh thần (là sức mạnh mềm) của dân tộc.

Không phải chỉ riêng ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm, mà các ngành khác (stakeholders) và cả các nhà tài trợ quốc tế (donors) cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Cuối cùng, người dân phải còng lưng đóng thuế, nhưng không được hưởng một nền giáo dục tử tế. Chỉ có các quan chức tham nhũng và các doanh nhân giàu có mới đủ tiền cho con đi học nước ngoài, hay học tại các trường quốc tế đắt tiền trong nước. Xóa đói giảm nghèo chỉ là khẩu hiệu. Trong khi ngân sách và tài trợ quốc tế được chi tiêu hoang phí cho các dự án vô bổ, thì trẻ em vùng cao vùng xa không đủ ăn, đủ mặc, và bị thất học. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn.

Sau nhiều chương trình cải cách ầm ỹ, và nhiều “đề án quốc gia” hoành tráng, được vẽ ra để lấy kinh phí, nhưng rồi “đầu voi đuôi chuột”, đâu lại hoàn đấy. Hàng năm, hơn 40% sinh viên tốt nghiệp đại học không có việc làm, hoặc không làm được việc, vì chất lượng đào tạo quá thấp và xa rời thực tế, không đáp ứng được yêu cầu thị trường. Kết cục, sinh viên tốt nghiệp thì thừa, mà các doanh nghiệp vẫn thiếu người làm. Vậy thì làm sao hội nhập được quốc tế, đáp ứng được các tiêu chí cơ bản của WTO hay TPP? Người Việt nổi tiếng thông minh, cần cù, hiếu học, lại đẻ nhiều (hơn 90 triệu dân). Một cái “mỏ người” quý như vậy mà chưa biết đường khai thác, 40 năm sau vẫn nghèo hèn, đi vay nợ, và đi làm cu li cho thiên hạ…

Chúng ta đã nói nhiều về cái ngọn của giáo dục (là hiện trạng) nhưng chưa nói đủ về cái gốc (là nguyên nhân). Thứ nhất, nếu không thoát khỏi hệ tư tưởng lỗi thời (Mác-Lê-Mao) giáo điều và hủ nho, không tôn trọng trí thức, thì không thể nâng cao dân trí. Mọi cố gắng cải cách giáo dục chỉ chạy lòng vòng luẩn quẩn, như dậm chân tại chỗ. Thứ hai, nếu không bỏ tư tưởng cực đoan, độc đoán và duy ý chí, thì không thể bỏ được độc quyền giáo dục. Độc quyền sách giáo khoa là một biểu hiện thao túng của nhóm lợi ích, được hệ thống độc quyền bảo kê. Không cởi trói được dân trí, để xây dựng một xã hội công dân, thì không thể nâng cao chất lượng giáo dục. “Xã hội hóa” chỉ là khẩu hiệu suông. Thứ ba, không thể cải cách giáo dục, nếu không đổi mới tư duy. “Kiên cố hóa trường học” là một khẩu hiệu nhầm lẫn, vì cái lõi của giáo dục không phải là phần cứng (hardware) mà là phần mềm (software). Melinda Gates nói, “Chỉ trang bị cơ sở vật chất đơn thuần không giải quyết được những vấn đề giảng dạy…”. Còn cụ Socrates thì nói, “Giáo dục không phải là đổ đầy bình, mà là châm một ngọn lửa…

Những tia hy vọng

Về kinh tế, trong khi hàng trăm ngàn doanh nghiệp bị chết lâm sàng hay đóng cửa vì thua lỗ và phá sản, thì một số doanh nghiệp tư nhân vẫn lặng lẽ tồn tại, phát triển, và có thể hội nhập quốc tế, mà chẳng cần nhà nước hỗ trợ. Họ mua lại tài sản của các doanh nghiệp thua lỗ (M&A) và tái cấu trúc (restructuring) để biến lỗ thành lãi (turn around). Họ không trốn thuế mà đóng thuế đàng hoàng, thậm chí còn làm từ thiện vì trách nhiệm xã hội. Họ thành công không phải vì được đào tạo bài bản, hay nhờ trời gặp may, hay dựa được vào nhóm lợi ích nào, mà chủ yếu là tự học hỏi và biết đổi mới tư duy. Họ biết cách thoát khỏi “Biển Đỏ” (Red Ocean) và tìm đến “Biển Xanh” (Blue Ocean) để hóa giải cạnh tranh bằng đổi mới công nghệ và sản phẩm. Các nhà kinh tế cũng chẳng biết đến họ. CIEM hay VCCI cũng chẳng giúp gì cho họ. Đó là những điểm sáng le lói trong đám sương mù dày đặc của bức tranh kinh tế hiện nay.

Về giáo dục, dự án Đại học Fulbright hiện nay là một điểm sáng về giáo dục (center of excellence), dựa trên chương trình FETP (đào tạo sau đại học) làm nòng cốt. Đại học Fulbright là biểu tượng cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Mỹ-Việt (về giáo dục), được chính phủ 2 nước ủng hộ mạnh, cả về chính trị lẫn tài chính (mô hình đại học phi lợi nhuận). Chắc Bộ GD&ĐT còn nhớ đã suýt nữa xóa sổ chương trình FETP (bằng cách không gia hạn giấy phép) vì nó độc lập (cứng đầu), không chịu làm theo “kiểu VN” (đã thành lệ). Trong khi đó, Đại học RMIT (Australia), trường quốc tế UNIS (LHQ), trường quốc tế Yersin (France), là mô hình “nhập khẩu giáo dục” thì không bị Bộ GD&ĐT “quản lý hành chính”.

Ngoài những trường quốc tế nói trên được các chính phủ và tổ chức quốc tế bảo trợ, còn có một số trường tư thục do các nhà đầu tư trong nước, hay liên doanh với nước ngoài lập ra, trong đó có một số trường có chất lượng tốt và thành công, như đại học Hoa Sen (Sài Gòn), đại học Thăng Long (Hà Nội), trường quốc tế Hà Nội,v.v. Một số dự án đại học đầy tham vọng khác, như đại học Tân Tạo (Long An) không thành công vì duy ý chí và nhầm lẫn về mô hình và định hướng. Ngoài ra, còn có một số trường “quốc tế dổm” (treo đầu dê, bán thịt chó) theo kiểu đánh quả. Việc cấp phép và mở trường tràn lan trong quá trình tư nhân hóa (hay “xã hội hóa giáo dục”) theo kinh tế thị trường, đã làm sân chơi giáo dục đông hơn, nhưng chất lượng giáo dục tụt hậu.

Một số dự án giáo dục phi lợi nhuận như nhóm “Cánh Buồm”, nghiên cứu làm sách giáo khoa phổ thông, theo hướng thí điểm để đổi mới giáo dục, trên tinh thần “xã hội hóa”, đóng góp cho một xã hội dân sự, thì gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí và nguồn lực, chỉ có một số người và một số tổ chức hỗ trợ (rất hạn hẹp). Trong bức tranh ảm đạm của giáo dục hiện nay, những đốm sáng như trên thật đáng quý. Đừng nên bắt bẻ, chê bai, chèn ép họ, mà hãy cởi trói và mở cửa rộng hơn để giúp những dự án tử tế đóng góp một phần cho một xã hội tử tế hơn.

NQD. 2/9/2015.

Nhà 48 Hàng Ngang và người hiến 5.147 lượng vàng cho cách mạng

Nha 48 Hang Ngang

Ông bà Trịnh Văn Bô thời trẻ

Biệt thự của bà quả phụ Trịnh Văn Bô nằm giữa khuôn viên xanh um cây cối, rộng đến gần 3.000 m2 trên đường Hoàng Diệu – một trong những phố đẹp nhất Hà Nội.

Vắng tay chăm sóc, cỏ mọc xanh rì vào tận bậc thềm, nhưng tòa biệt thự 3 tầng trải qua nhiều biến thiên thời cuộc, vẫn còn dấu vết nguy nga của một gia tộc bề thế và có danh phận bậc nhất xứ Hà thành đầu thế kỷ trước.

Trên Wikipedia tiếng Việt có dẫn: “Trịnh Văn Bô (1914 – 1988) là một nhà tư sản theo chủ nghĩa dân tộc, từng ủng hộ cho chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam 5.147 lượng vàng, tương đương số tiền gần gấp đôi ngân khố chính phủ bấy giờ. Hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi tại số 48 phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nhà riêng của ông, là nơi Hồ Chí Minh ở dịp cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1945, và là nơi ra đời bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.

“Tôi đâu ngờ “ông cụ dưới quê” là Hồ chủ tịch”

Ở tuổi 103, cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ (người ta thường quen gọi cụ là bà Bô) vẫn còn minh mẫn. Tóc trắng như cước, da dẻ hồng hào, ánh mắt tinh anh như tiên, bà cụ vẫn ngồi kiểm tra từng món đồ lễ để con cháu chuẩn bị cúng Vu lan. Kỹ sư Trịnh Kiến Quốc, người con thứ năm của ông bà Trịnh Văn Bô (hiện đang ở ngôi nhà 34 Hoàng Diệu cùng mẹ) kể: “Bố mẹ tôi đều sinh ra trong hai gia đình danh gia vọng tộc. Là nhà tư sản giàu có bậc nhất Hà Nội thời thuộc Pháp, bố mẹ tôi chăm chỉ làm việc từ sáng tới đêm, ông bà dạy con cái phải siêng năng, giản dị, không lãng phí, ngay ngắn giữ nếp nhà.
Gia đình buôn bán lớn, nuôi rất nhiều người giúp việc, nhưng hằng ngày mẹ tôi vẫn tự tay nấu ăn cho chồng con. Bà là mẫu mực của phụ nữ Hà Nội xưa: chịu thương chịu khó, đảm đang tháo vát, nữ công gia chánh tinh khéo… Cho tới tận gần 100 tuổi, mọi giỗ chạp lễ tết trong nhà mẹ tôi vẫn đích thân lo, bà can thiệp cả việc dạy dỗ bầy cháu hàng chục đứa, nghiêm khắc và thương yêu, để giữ đúng nền nếp của gia tộc…”.

Cụ Hoàng Thị Minh Hồ do tuổi cao, nên giờ nói chuyện hơi khó khăn. Nhưng câu chuyện từ ký ức thì con cháu đều thuộc làu để kể thay cho bà, như thể họ sống cùng và trải qua những tháng ngày hào hùng đó. Bởi dấu mốc đặc biệt của lịch sử đất nước cũng là vinh dự truyền đời của gia tộc họ Trịnh phố Hàng Ngang.

Nha 48 Hang Ngang va nguoi hien 5.147 luong vang cho cach mang-hinh-anh-1
Nhà 48 Hàng Ngang năm 1945 
Năm 1932, công tử Trịnh Văn Bô của nhà Phúc Lợi (hãng buôn tơ lụa lớn nhất Hà Nội) lấy cô Hoàng Thị Minh Hồ. Đôi vợ chồng trẻ bắt đầu xây dựng cơ ngơi riêng của mình từ ngôi nhà 48 Hàng Ngang – con phố buôn bán sầm uất nhất khu phố cổ. Tháng 3.1945, ông Khuất Duy Tiến đã tìm đến gặp gia đình Trịnh Văn Bô để trò chuyện về Mặt trận Việt Minh và kêu gọi ủng hộ tài chính. Trước và sau Cách mạng tháng Tám, gia đình ông Bô – bà Hồ đã ủng hộ cách mạng 5.147 lạng vàng mà họ tích cóp được nhờ buôn bán tơ lụa.Tháng 8.1945, gia đình Trịnh Văn Bô được Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam gửi 15 đồng chí lãnh đạo chủ chốt, trong đó có toàn bộ Ban Thường vụ Trung ương Đảng về trú trong ngôi nhà 48 Hàng Ngang.
“Bố mẹ tôi kể lại rằng vào chiều 24.8, đồng chí Trường Chinh (mà bố mẹ tôi gọi là anh Thận) có thông báo: gia đình ta chuẩn bị một phòng để tối nay đón một ông cụ ở dưới quê lên”. Sẩm tối, “ông cụ dưới quê” đến nhà, mặc áo sơ mi quần sooc nâu và đội mũ bạc màu, chân đi dép nhựa. Ông cụ cao gầy, dáng đi nhanh nhẹn và đôi mắt đặc biệt ngời sáng. Bố mẹ tôi không biết rõ về thân thế ông cụ, nhưng thấy sự kính trọng của những đồng chí trong nhà thì đối đãi khách trọng thị hết mức. Tiệm lụa ở tầng một vẫn buôn bán bình thường để nghi binh, mẹ tôi vừa lo bán hàng vừa canh chừng không cho ai lên gác hỏi han làm phiền ông cụ. Ngay cả từng bữa cơm cũng do mẹ tự tay bưng lên gác hai phục vụ, đêm nào ông cụ cũng đánh máy chữ rất khuya, mẹ tôi biết ý cụ dậy sớm nên sáng ra là chuẩn bị tuần trà và đĩa hoa quả đưa lên phòng” – ông Quốc kể lại.
Nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang được biết vào ngày 2.9, Chính phủ lâm thời sẽ ra mắt quốc dân đồng bào, bà lo lắng ngay chuyện ăn mặc của Thường vụ Trung ương Đảng. “Các ông ấy ở chiến khu về, ai cũng chỉ quần sooc, áo cộc, đều sờn bạc. Trong nhà sẵn vải khaki đẹp, tôi lấy may cho anh em.
Ông Bô có rất nhiều lễ phục sang trọng chưa từng mặc, ai vừa bộ nào thì dùng luôn. Riêng “ông cụ” thì người gầy quá, tôi gọi thợ may đến đo đạc và hỏi kiểu dáng, “ông cụ” bảo chỉ muốn kiểu đơn giản, không cần vải đắt tiền, không cà vạt cổ cồn, chỉ cốt tươm tất là được. Đến sáng 2.9, khi nhìn thấy “ông cụ” trong bộ quần áo bốn túi kín cổ giản dị, đứng trên lễ đài quảng trường Ba Đình đọc Tuyên ngôn Độc lập, mắt tôi nhòa đi vì hạnh phúc. Tôi đâu ngờ những ngày qua gia đình mình được hân hạnh chăm sóc Chủ tịch Hồ Chí Minh” – cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ nhớ lại trong xúc động.

Ngôi nhà lịch sử

Ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh, 8 vị trong Thường vụ Trung ương Đảng (Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Trần Đăng Ninh…) cũng đều có thời gian ở trong nhà 48 Hàng Ngang chuẩn bị cho sự kiện lịch sử trọng đại nhất của đất nước: lễ Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trải qua 70 năm, kiến trúc ngôi nhà vẫn là 3 khối nhà 4 tầng được cách nối nhau bằng hai sân trời (trên diện tích gần 500m2), mặt tiền Hàng Ngang rộng 7m, mặt sau ngôi nhà mở ra phố Hàng Cân rộng 15m. Có thể hình dung cơ ngơi này từng đồ sộ thế nào vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, khi tầng 1 còn là cửa hiệu tơ lụa tấp nập bán mua suốt ngày đêm. Chính vì địa thế nằm giữa khu phố sầm uất, đông khách hàng ra vào nhiều, gia chủ lại là cơ sở cách mạng nội thành, nên khi Bác Hồ từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, nhà 48 Hàng Ngang đã được lựa chọn là nơi ở an toàn cho Bác và Thường vụ Trung ương Đảng.
Nha 48 Hang Ngang va nguoi hien 5.147 luong vang cho cach mang-hinh-anh-2
Nhà 48 Hàng Ngang bây giờ 
Trên tầng 2 của ngôi nhà, phòng ăn rộng 60m2 của gia đình ông bà Bô được dùng làm phòng họp của Bác và các vị trong Thường vụ. Giữa phòng vẫn còn chiếc bàn chữ nhật bằng gỗ quý màu nâu sẫm, 8 ghế tựa bọc đệm nỉ mềm có phủ vải trắng. Đi qua dãy hành lang, cùng tầng 2 là hai căn phòng thông nhau. Phòng lớn có diện tích chừng 50m2, có ban công rộng và cửa kính, rèm lụa trắng nhìn xuống phố Hàng Ngang – được dùng làm phòng khách (căn phòng này Bác từng tiếp nhiều đoàn khách trong nước và các phái bộ quốc tế). Căn phòng nhỏ liền đấy có kê một tủ tài liệu, bàn làm việc nhỏ, một chiếc giường vải xếp đơn giản đơn sơ để Bác nghỉ. Gia đình ông Bô có dành cho Bác một phòng ngủ rộng với sập gỗ quý trên tầng 3, nhưng Bác từ chối để xuống tầng 2 ở cùng các anh em. Và căn phòng nhỏ với đồ đạc đơn giản ấy chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.
Nha 48 Hang Ngang va nguoi hien 5.147 luong vang cho cach mang-hinh-anh-3
Chiếc bàn nước Bác Hồ dùng làm bàn viết bản Tuyên ngôn Độc lập
Nhà 48 Hàng Ngang được xếp hạng là di tích cách mạng, một trong những cứ liệu về chuỗi ngày hào hùng của đất nước. Trong khối nhà mặt Hàng Ngang, tầng 1 hiện được sử dụng như phòng trưng bày theo chủ đề, tầng 2 trưng bày những đồ gỗ ngày xưa mà Bác Hồ và các đồng chí Thường vụ sử dụng, các tầng khác để trống. Hai khối nhà còn lại (hướng mặt Hàng Cân) đang được sử dụng như công sở (của Ban quản lý di tích), với các phòng được ngăn nhôm kính. Có nhiều tiếc rẻ về cách “bảo tàng hóa” di tích này. Vì với đặc thù của nhà 48 Hàng Ngang, nếu phục dựng được không gian tầng 1 là cửa hàng tơ lụa, sân trong và các phòng kế tiếp, các khối nhà phía sau được phục hồi thành phòng bếp, phòng nghỉ, phòng khách… với nội thất nguyên bản của gia đình doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô – hẳn sẽ cảm động và “chạm” hơn đến người chiêm ngưỡng di tích.

Trong ngôi nhà 34 Hoàng Diệu, cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ đang sống những tháng ngày bình yên trong sự chăm sóc quây quần của con cháu. Cụ ông Trịnh Văn Bô đã khuất núi gần ba thập niên, mang theo nhiều nỗi buồn phiền do những ứng xử sai lầm của người cầm quyền. Nhưng còn may, lịch sử luôn công bằng, tới năm 2006, cụ Trịnh Văn Bô được truy tặng danh hiệu “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu” (cùng 3 doanh nhân nổi tiếng khác là Lương Văn Can, Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Sơn Hà). Năm 2014, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh cụ Trịnh Văn Bô, mừng đại thọ trên 100 tuổi cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, Bộ Tài chính biên soạn cuốn sách Doanh nhân Trịnh Văn Bô và những cống hiến cho nền tài chính cách mạng Việt Nam, nhằm vinh danh những công lao, đóng góp của gia đình cụ với Đảng, Chính phủ và ngành tài chính.

Theo Quỳnh Lam/Phụ nữ

Cả nước làm cả năm không đủ cho doanh nghiệp nhà nước trả nợ’

ca nuoc lam trong ca nam cung khong du de doanh nghiep nha nuoc tra no
Ảnh minh họa
“Tốc độ tăng về nợ của khối doanh nghiệp nhà nước năm 2011 so với năm 2006 là 2,2 lần và tăng bình quân hàng năm vào khoảng 16%. Tỷ lệ nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước từ năm 2006 đến nay cao hơn số GDP. Điều này có nghĩa cả nước làm trong cả năm cũng không đủ để doanh nghiệp nhà nước trả nợ trong suốt từ năm 2006 đến nay”, CEO Đặng Đức Thành nhận định.
Nơi nào cũng sân bay, cảng biển, lãng phí vô cùng!
Ngày 27.8, Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2015 diễn ra tại Thanh Hóa. Đây là sự kiện thường niên do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức. Đóng góp tham luận tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm nay, CEO Đặng Đức Thành – Chủ nhiệm Câu lạc bộ các nhà kinh tế (VEC), Ủy viên BCH Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã có bài tham luận xoay quanh chủ đề: “Để kinh tế Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững”.
Theo đó, ông Thành nhận định nền kinh tế Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 4 năm 2011- 2014 dự kiến sẽ chỉ đạt khoảng 5,6%/năm, thấp xa so với chỉ tiêu tăng trưởng bình quân theo kế hoạch (6,5% – 7%).
So với một số nước trong khu vực ASEAN thì tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại trong khi các nước đã có sự cải thiện và duy trì được tốc độ tăng trưởng cao như Singapore từ 1,3% năm 2012 lên 4,1% năm 2013; Myanmar tăng từ 5,6% năm 2011 lên 7,6% năm 2014…
Bên cạnh đó, khó khăn ngân sách và nợ công vẫn tăng cao, nợ xấu ngân hàng vẫn còn chậm giải quyết; môi trường sản xuất kinh doanh mặc dù đã có sự nỗ lực của các ngành và Chính phủ nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn…
“Tất cả những dấu hiệu nêu trên nói lên sự phát triển kinh tế đang tình trạng ở thế bị động của nước ta. Cần có sự đột phá, cải cách mạnh mẽ hơn nữa, cần phải “lật ngược thế cờ” chuyển từ thế bị động sang thế chủ động”, CEO Đặng Đức Thành cho biết.
Để nền kinh tế Việt Nam có thể phát triển bền vững hơn, ông Thành cho rằng cần phải thay đổi tư duy kinh tế và thay đổi chiến lược phát triển kinh tế.
Cụ thể là cần xem xét lại cách thức tổ chức thực hiện công nghiệp hóa; thời gian thực hiện; mô hình thực hiện cụ thể như thế nào. Bởi việc đầu tư phát triển công nghiệp hóa (hàm ý có công nghiệp nặng) đòi hỏi “nguồn vốn” rất lớn, do đó rất cần xác định lộ trình thực hiện công nghiệp hóa.
“Chính do việc xác định chủ trương thực hiện công nghiệp hóa không rõ ràng, dẫn đến các tỉnh tiến hành triển khai đại trà dẫn đến thực trạng: nơi nào cũng xây dựng và phát triển khu công nghiệp. Nơi nào cũng xây dựng cảng biển, sân bay. Và kết quả là nhiều công trình không sử dụng hết công suất; lãng phí nghiêm trọng; nhiều khu công nghiệp còn bỏ hoang, trong khi đó đất cho sản xuất nông nghiệp lại bị thu hẹp dần, người nông dân không có đất canh tác.
Trong lúc nguồn lực còn rất yếu, nhưng do sa đà với những mục tiêu to tát, nên chúng ta đã cho phát triển ngay các tập đoàn quy mô lớn một cách duy ý chí với mong muốn sớm thực hiện chủ trương công nghiệp hóa. Kết quả là sự đổ vỡ với những cái chết được báo trước của nhiều tập đoàn, như: Vinashin, Vinalines…”, ông Thành nhận định.
ca nuoc lam trong ca nam cung khong du de doanh nghiep nha nuoc tra no
 Ông Đặng Đức Thành
Cả nước làm cả năm không đủ cho DNNN trả nợ
Cũng theo vị CEO này, do tư duy nóng vội muốn tiến ngay lên công nghiệp hóa hiện đại hóa, xác định các doanh nghiệp nhà nước là đội quân chủ lực nên Việt Nam đã ưu đãi quá nhiều cho doanh nghiệp nhà nước.
Chính “cơ chế” này đã khiến cho các thành phần kinh tế khác (lực lượng FDI, doanh nghiệp tư nhân…) không thể cạnh tranh lành mạnh với khối doanh nghiệp nhà nước, cũng như không thể có cơ hội tiếp xúc với nguồn vốn vay. Trong khi trình độ quản trị của doanh nghiệp nhà nước lại rất thấp, việc doanh nghiệp nhà nước phải vay mượn để đầu tư gây mất cân đối nghiêm trọng.
Ông Thành lấy dẫn chứng từ nghiên cứu của Bùi Trinh (2014), trong khối doanh nghiệp nhà nước thì các tập đoàn, tổng công ty thuộc Trung ương quản lý có tỷ lệ nợ phải trả so với tổng nguồn vốn xấp xỉ 4 lần, trong khi tỷ lệ này đối với các doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý chỉ trên 1 lần.
“Tốc độ tăng về nợ của khối doanh nghiệp nhà nước năm 2011 so với năm 2006 là 2,2 lần và tăng bình quân hàng năm vào khoảng 16%. Tỷ lệ nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước từ năm 2006 đến nay cao hơn số GDP. Điều này có nghĩa cả nước làm trong cả năm cũng không đủ để doanh nghiệp nhà nước trả nợ trong suốt từ năm 2006 đến nay”, ông Thành nhận định.
Trên cơ sở đó, ông Thành kiến nghị cần phải ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế khác và tập trung triệt để đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Bởi hiện nay doanh nghiệp nhà nước đang chiếm gần 40% vốn sở hữu của nền kinh tế; nhiều doanh nghiệp hoạt động (do cơ chế) không năng động và hiệu quả thấp nên việc đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế.
“Việt Nam là nước có nhiều sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu thô được xếp hạng cao trên thế giới như: gạo, hạt điều, hạt tiêu, cà phê, cao su, thủy sản nên việc đẩy mạnh công nghiệp hóa chế biến để tăng giá trị gia tăng của nông nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế đất nước”, ông Thành cho biết.
Bên cạnh đó, CEO Đặng Đức Thành cho rằng, du lịch là ngành công nghiệp không khói. Việt Nam có rất nhiều lợi thế về cảnh quan, lịch sử, văn hóa và ẩm thực, nếu phát triển ngành này mà đạt được từ 15 – 20% GDP thì sẽ đóng góp đáng kể vào nền kinh tế.
Ngoài ra, thay vì Nhà nước đầu tư, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài để thu hút vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý. Hiện nay đầu tư nước ngoài đang chiếm khoảng 20% vốn đầu tư của cả nước và trên 30% kim ngạch xuất khẩu. Còn 50% khu công nghiệp chưa được lấp đầy, nên những lợi thế để thu hút đầu tư Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Duyên Duyên

ĐẰNG SAU TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ MINH – Phần 2

Đằng sau tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
Phần 2Nguồn: David G. Marr, “Hồ Chí Minh’s Independence Declaration”, Essays into Vietnamese Pasts, K. W. Taylor & John K. Whitmore chủ biên (New York: Cornell University Southeast Asia Program, 1995), trang 221-231.

Biên dịch: Duy Đoàn
Hiệu đính: Nguyễn Tiến Văn

Bài liên quan: Đằng sau tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh (P1)
Chính bản Tuyên ngôn, chỉ dài 760 chữ, được thiết kế để thể hiện lập trường chung của chính quyền gửi tới người dân trong nước lẫn quốc tế.[1] Do muốn liên kết hiện tại của Việt Nam với những truyền thống cách mạng thế giới trong quá khứ, và để thể hiện sự tôn trọng ngoại giao với Washington và Paris, Hồ Chí Minh mở đầu bằng câu trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776, như đã đề cập trước đó, và tiếp theo là đoạn văn trích từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1791. Những lí tưởng về cuộc sống, tự do, hạnh phúc, và bình đẳng khi đó được so sánh với các hành vi trong hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp – ông Hồ đặc biệt đề cập đến chuyện Việt Nam bị phân chia thành ba hệ thống hành chính, việc giết hại hay cầm tù những người yêu nước, bán thuốc phiện và rượu để “làm cho nòi giống ta suy nhược”, cưỡng đoạt đất đai và các nguyên liệu thô, và đặt ra “hàng trăm thứ thuế vô lí”. Những lời lẽ này gợi nhớ tới bản thỉnh nguyện ở Versailles năm 1919, cũng như bài luận Le procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp) của ông Hồ năm 1925, những văn bản mà một số rất ít người có thể đã biết tới.
Về những sự kiện cụ thể gần đó hơn, Hồ Chí Minh khẳng định Pháp đã “bán” lãnh thổ Việt Nam cho Nhật hai lần trong vòng 5 năm qua, mặc dù Pháp đã đảm nhận trách nhiệm “bảo hộ”. Dân chúng trở nên nghèo khổ hơn, dẫn đến nạn đói khủng khiếp hồi đầu năm đó khi mà “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, “nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.[2] Cùng với việc Bảo Đại thoái vị, người dân còn làm được chuyện lật đổ chế độ quân chủ tồn tại hàng mấy ngàn năm.
Sau khi dành hơn hai phần ba bản Tuyên ngôn cho các bài học lịch sử súc tích mà đầy màu sắc, Hồ Chí Minh trong những đoạn văn cuối cùng đã chuyển sang những hoàn cảnh ngoại giao trước mắt. Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước do Pháp kí trong quan hệ với Việt Nam và bãi bỏ hết mọi đặc quyền của người Pháp. Ông cảnh báo rằng người Việt “kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Có phần nào ai oán, ông Hồ kêu gọi phe Đồng minh công nhận quyền của người Việt được hưởng độc lập trên tinh thần của những hội nghị Teheran và San Francisco. Tuy nhiên, nếu họ không công nhận, thì những lời cuối cùng của ông Hồ đã loan báo cho thế giới biết rằng trong bất kì trường hợp nào thì:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Khi tiếng vỗ tay và reo hò lắng xuống, Hồ Chí Minh giới thiệu từng bộ trưởng, và tất cả đều làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Võ Nguyên Giáp khi đó bước tới và đọc một diễn văn dài đầy vẻ nghiêm trang để tô điểm thêm cho bản Tuyên ngôn của vị chủ tịch.[3] Sau đó, Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền, báo cáo trước khán thính giả về buổi lễ thoái vị của Bảo Đại ở Huế ba ngày trước đó, và rồi trao thanh kiếm hoàng gia và ấn cho Hồ Chí Minh. Là một người có khả năng ăn nói thiên bẩm, Trần Huy Liệu dường như đã làm cho đám đông cười ồ lên và vỗ tay khi mô tả sự cáo chung của chế độ quân chủ. Hòa vào bối cảnh đó, ông Hồ tuyên bố rằng thanh kiếm, trước đây được dùng để đàn áp dân chúng, giờ đây sẽ được dùng để “chặt đầu kẻ phản bội”.[4] Đại diện cho Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng sau đó nói ngắn gọn về nhu cầu cần thống nhất và đấu tranh, phát biểu thẳng thừng rằng đánh Pháp là chuyện cần thiết.[5] Vào một thời điểm nào đó giữa buổi lễ lúc chiều, hai chiếc máy bay Tia chớp P-38 của Mỹ sà xuống thấp ngay trên đám đông, một sự kiện được tuyên bố ngay tức thì và ai cũng tin là đại diện cho lời chào mừng của Mỹ dành cho chính quyền non trẻ của Việt Nam.[6]
Mục cuối của chương trình liên quan đến việc người dân lặp lại lời tuyên thệ long trọng cho việc trung thành với Chính phủ lâm thời và với Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lời thề bảo toàn nền độc lập của tổ quốc, “thậm chí có dẫn đến hi sinh mạng sống của chúng ta”, một lời hứa không giúp đỡ Pháp nếu họ quay trở lại xâm lược.[7] Trong một cảnh báo cuối cùng, ông Hồ cầm micrô và tiên đoán:[8]

Chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khốn khó và đau khổ hơn nhiều. Đồng bào phải ủng hộ chính quyền, để sau này có thêm nhiều buổi ăn mừng và thắng lợi!

Những nhóm người có tổ chức ở quảng trường sau đó diễu hành ra phố, giải tán ở hồ Hoàn Kiếm, và gia nhập vào bầu không khí vui chung cho đến giờ giới nghiêm.[9]
Trở lại bản Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể nói gì về vị thế của nó như một “văn bản” khác biệt với buổi lễ ngày 2 tháng Chín tại Hà Nội? Điều tôi thấy đáng chú ý nhất là tính sắc sảo của bài văn, kết cấu chặt chẽ, không giả tạo. Gần như không từ nào có thể được coi là thừa. Ví dụ điển hình nhất cho tính súc tích là câu: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo đại thoái vị”. Nhiều sự kiện chính trị đương thời, chất chứa nhiều ý nghĩa chính trị, được gói gọn trong chín từ. Thực ra ông Hồ có thể giảm câu đó xuống còn tám từ, nhưng lại chọn cách cho Bảo Đại có được danh tước bình dân bằng cách dùng từ vua, mặc dù không phải tước hiệu chính thức là Hoàng đế. Lối nói cô đọng này ngay lập tức gợi lại những tác phẩm kinh điển Trung Hoa thời Chiến quốc, vốn là thứ rất quen thuộc với nhiều người Việt những năm 1940, tương tự như cách mà nhiều người Mỹ nhận ra nhiều đoạn trích ngắn từ Kinh Cựu ước. Dĩ nhiên ông Hồ thời trẻ có đọc kinh điển Trung Hoa, và từ đầu thập niên 1940 ông đã thấy sẽ hữu ích nếu đóng vai trò một trí thức Khổng giáo trong một số dịp nhất định.
Dù vậy, ấn tượng phong cách nói chung của Tuyên ngôn Độc lập là nó mang tính đương đại, chứ không truyền thống. Hồ Chí Minh không chêm vào bất kì dòng thi ca nào, vốn là điều thường được người ta mong chờ ở các Nho gia. Những câu chữ gọn gàng của ông có thể phần nhiều nhờ vào ba thập niên tiếp xúc với các bản văn xuôi hiện đại của Pháp, Anh, và Nga, và nhờ vào sự nghiệp hoạt động chính trị bí mật và dạy học, hơn là nhờ vào Tuân tử hay Mặc tử. Ông không rắc vào bài diễn văn của mình những thuật ngữ ngoại lai, vốn là điều thường thấy ở giới trí thức Việt Nam ngày đó. Thay vì vậy, người ta cảm thấy ảnh hưởng Tây phương ít trực tiếp hơn, thể hiện ở việc tránh dùng các câu văn biền ngẫu, lối phát triển logic rõ ràng, hay tính chất thẳng thừng. Khi ông Hồ chọn cách tăng chất hùng biện bằng cách dành ra một phần tư toàn bộ bản tuyên ngôn để công kích những đặc điểm cụ thể của chế độ thực dân Pháp, từ “chúng” mang tính miệt thị được sử dụng 14 lần liên tục để gọi những kẻ thực dân. Ở đây, ông rõ ràng lấy cảm hứng từ các bản cáo trạng tư pháp kiểu Tây phương hoặc cụ thể hơn là từ những lời cáo buộc chống lại Vua George III trong bản Tuyên ngôn Mỹ, chứ không phải lối công kích kẻ thù của các vị vua nước Việt, lối tranh cãi giữa các già làng, hay lối cãi nhau giữa chợ.
Cách tiếp cận Tây phương này ít khả năng sẽ làm khó chịu người nghe ở buổi mít-tinh ngày 2 tháng Chín hay những người đọc sau đó, bởi hai lẽ. Thứ nhất, tiếng Việt đã trải qua những thay đổi quan trọng hồi thập niên 1920 và 1930, trong lúc Hồ Chí Minh đang ở hải ngoại. Đã có sự giảm dần những lối nói hoa mỹ, văn vẻ, ít chú tâm hơn đến những nhịp điệu và lối hoà âm, hiệp vận. Ở chừng mực nào đó những thuộc tính truyền thống này đã nhường lối cho tính chuẩn xác trong cách biểu đạt và cú pháp logic.[10] Chúng ta không biết ông Hồ có dịp đọc nhiều văn liệu tiếng Việt thời đó trong lúc sống ở Liên Xô và Trung Quốc hay không, nhưng ông quả có tương tác với những thanh niên lưu vong người Việt, và ông luôn nhanh nhạy khi lưu ý những sắc thái trong ngôn ngữ. Ngoài việc đó ra thì có lẽ tất cả chỉ là sự tình cờ khi có sự hội tụ giữa những trải nghiệm ngôn ngữ của ông Hồ ở hải ngoại với những đổi thay bên trong đất nước.
Thứ nhì, Hồ Chí Minh có sự lựa chọn thẳng thắn về từ ngữ, không cố gắng giới thiệu thuật ngữ lạ cũng như không có dấu hiệu gì cho thấy lên giọng kẻ cả với người nghe. Phải thừa nhận là những từ như bình đẳnglâm thời, hay ngay cả từ độc lập tự do, tất cả đều không phải cách diễn đạt truyền thống của người Việt, nhưng chúng đã bắt đầu được giới trí thức sử dụng lác đác từ hồi thập niên đầu tiên của thế kỉ 20, và cho đến thập niên 1940 thì đạt được mức thịnh hành.
Khi quyết định mở đầu bản Tuyên ngôn bằng những trích dẫn từ các bản văn 1776 và 1789, Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện sự tôn trọng Washington và Paris, mà quan trọng hơn là đặt Việt Nam ngang hàng trong dòng cách mạng thế giới nối tiếp nhau. Mặc dù nếu đề cập đến cách mạng Bolshevik 1917 sẽ không thuận lợi về mặt chính trị, nhưng các thính giả có học có thể tự mình rút ra kết luận.
Những đoạn dẫn từ văn bản 1776 và 1789 cho phép ông Hồ có được cơ sở triết học và tư cách luân lí về “các quyền tự nhiên” (của con người), hoàn toàn tương phản với tính dã man và chế độ nô lệ của thực dân Pháp. “Quyền tự nhiên” chỉ được tranh luận công khai giữa những trí thức Việt từ cuối thập niên 1920, và ý tưởng này chưa bén rễ sâu. Chính ông Hồ cũng không theo đuổi chủ đề quyền tự do cá nhân bên ngoài những trích dẫn này, thay vào đó lại chuyển tức thì sang quyền tự nhiên dành cho các dân tộc. Tồn tại giả định mặc nhiên rằng những quyền tự do cá nhân cần được trì hoãn lại cho đến khi đất nước Việt Nam lớn mạnh và an toàn trước những mối đe doạ của nước ngoài. Trong lúc đó, mặc dù ông Hồ không nói ra điều này, nhưng toàn thể người Việt đều rơi vào một trong hai loại: yêu nước hoặc phản bội. Từ khoảng năm 1951, người dân càng lúc càng bị phân chia theo nguồn gốc giai cấp cũng như theo mối quan hệ. Với tư cách một người hết lòng theo Lenin, Hồ Chí Minh ủng hộ những phân loại giai cấp như thế, mâu thuẫn trực tiếp với những khẳng định hồi năm 1945 của ông.
Những người đọc cẩn trọng của bản Tuyên ngôn độc lập hẳn chú ý đến khác biệt tinh tế giữa những điều Hồ Chí Minh nói dành cho người trong nước so với những điều dành cho người ngoại quốc. Với người Việt, nền độc lập là một sự kiện đã xong xuôi, phải được bảo vệ hoàn toàn, không thoả hiệp. Đối với quân Đồng minh, bởi vì nền độc lập của Việt Nam tương ứng với những gì các lãnh đạo Đồng minh đã cam kết tại các hội nghị quốc tế, nên nó phải được công nhận. Nhấn mạnh của ông Hồ về tính chất lâm thời của chính quyền của ông do vậy không chỉ liên quan tới nhu cầu cần tổ chức bầu cử quốc gia và soạn thảo hiến pháp, mà nó còn ra hiệu cho các chính quyền ngoại quốc biết rằng ông sẵn sang thương thảo những thoả thuận dài hạn.
Hồ Chí Minh đã mời thiếu tá Patti xuất hiện trên khán đài ở buổi lễ Độc lập chính thức, nhưng Patti quyết định chọn cách tới cùng ba đồng đội OSS khác với tư cách người quan sát, họ tự chọn chỗ đứng giữa những chức sắc địa phương ở trước khán đài. Trong khi lắng nghe người thông ngôn liên lạc của Việt Minh cung cấp phần dịch tại chỗ về diễn văn của ông Hồ, Patti quan sát phản ứng của đám đông, nhanh chóng kết luận rằng ông Hồ “đã chạm được tới họ”. Khi được cung cấp bản Tuyên ngôn tiếng Việt sau đó vào buổi chiều, Patti đảm bảo rằng nó sẽ được dịch và truyền đi theo sóng radio tới Côn Minh. Qua sóng radio, Patti bổ sung vào những lí giải sống động của chính mình, ví dụ như mô tả bề ngoài ông Hồ là “trán cao, mớ râu tóc bị cơn gió nhẹ thổi phất phơ, và ông ấy dùng lối truyền tải mạnh mẽ đầy cảm xúc…”.[11] Dù tới thời điểm đó một số cấp trên hẳn đã nghĩ Patti đã “thành dân bản xứ” rồi, nhưng họ vẫn chuyển lại một cách chính xác những báo cáo của ông về cho giám đốc OSS tại Washington. Giám đốc OSS đã tóm lược lại chúng thành những bản báo cáo nội bộ ngắn để trình lên Ngoại trưởng, người vì có quá nhiều thứ để đọc nên có thể đã hoàn toàn không hề để ý tới chúng.[12]
Khi Jean Sainteny có được những báo cáo chi tiết về những phát biểu tại buổi mít-tinh, ông đã chú ý tới cách Hồ Chí Minh giữ được đường lối ôn hoà hơn so với những đồng chí của ông.[13] Ngày kế tiếp, một trong những trợ lí của Sainteny bước hùng hổ vào tổng hành dinh của chính quyền lâm thời, nói chuyện với ông Hồ và phụ tá của ông về những vấn đề ngoại giao, và sau đó tỏ ra bị thuyết phục rằng có thể đạt được thương lượng.[14] Sainteny tha thiết mong muốn mở ra những cuộc thương lượng với ông Hồ, nhưng không thể nhận được chỉ dẫn nào từ Paris. Khi các văn bản các bài phát biểu trong ngày lễ Độc lập tới được Paris, thì dường như người ta đã làm ngơ chúng. Vài tháng sau, một phân tích tình báo đã mô tả phần nội dung một cách chế nhạo:

… một sự kết hợp lai tạp giữa chủ nghĩa quốc tế theo sách vở với chủ nghĩa yêu nước kiểu sô-vanh, một sự pha trộn giữa chủ nghĩa Marx trí thức với các nhu cầu xã hội nguyên thuỷ, tương ứng chính xác với những khát vọng của một thành phần dân chúng lạc hậu ở những vùng châu thổ Á châu này.[15]

Thực tế thì Paris rất ít lưu tâm đến các ý tưởng của Hồ Chí Minh hay Võ Nguyên Giáp so với việc lưu tâm đến chuyện một lần nữa giành lấy ưu thế quyền lực ở Đông Dương, sau chuyện đó mới có thể bắt đầu những thương thảo với những thành phần bản địa tự nhận là đại diện cho thứ này hay thứ khác.
Một khi thương lượng bắt đầu giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Pháp thì những bản cáo trạng sống động, đầy cảm xúc của Hồ Chí Minh dành cho chế độ thực dân Pháp, chẳng hạn như bản cáo trạng được trình bày trong Tuyên ngôn Độc lập, đã khiến cho thậm chí những người theo tư tưởng tự do ở Pháp như Sainteny cũng phải nổi giận. Nghiêm trọng hơn, thứ ngôn ngữ cứng rắn như vậy đã hợp pháp hóa thái độ thù địch của quần chúng Việt Nam đối với binh lính và thường dân Pháp, những người quay lại theo những hiệp ước mà ông Hồ là một bên tham gia thoả thuận. Ông Hồ cố gắng giải quyết chuyện này bằng cách phân biệt công khai giữa “những kẻ đế quốc cũ” và những người đại diện cho chính quyền Pháp hiện tại, nhưng những phân biệt này thật khó để duy trì trên thực tế. Tới tháng Mười một năm 1946, cả hai bên đều trở thành tù nhân của những cuộc đấu khẩu hàng ngày và luận điệu của mình. Xung đột toàn diện là điều không tránh khỏi.
Suốt nhiều thập niên kể từ lúc Hồ Chí Minh đứng trên khán đài gỗ tạm tại Hà Nội, bản Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành một biểu tượng quốc gia, với việc những em học sinh ghi nhớ những đoạn văn trong đó, các nhà chính trị dùng nó liên tục như một cái neo cung cấp thẩm quyền cho các công bố chính sách của mình, và các sử gia dẫn nó ra như là điểm bản lề giữa chế độ nô lệ thực dân và sự giải phóng thắng lợi. Ngày nay bản Tuyên ngôn có thể là văn bản mang lại tính chính danh quan trọng nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, giúp giải thích tại sao hệ thống chính trị này đến nay vẫn vượt qua được mọi cơn chấn động phát xuất từ Moskva. Dù vậy, rất ít người Việt có thể đọc lại được bản Tuyên ngôn nếu được hỏi tới (không như Truyện Kiều hay những bài thơ có độ dài đáng kể). Nó hiếm khi được xuất bản trọn vẹn, và các viên chức Đảng Cộng sản đã cực kì phóng túng khi biên tập lại hay thậm chí sửa đổi bản văn, đó là chưa kể tới việc diễn giải nó theo cách làm sao phục vụ được cho bản thân nhiều nhất.[16] Cho đến gần đây những điểm nhấn mạnh của bản Tuyên ngôn về quyền được sống, tự do, hạnh phúc, và bình đẳng, cùng với nền độc lập quốc gia, hiếm khi được chú ý một cách chi tiết, ngay cả với những cây bút phi Cộng sản. Tuy nhiên, điều này đang thay đổi khi giới trí thức tìm cách hình thành nên những lí tưởng cho một xã hội mà trong đó chủ nghĩa Marx-Lenin đã chết chỉ còn lại cái tên. Tuy nhiên vẫn còn phải chờ xem thử bản Tuyên ngôn có phai nhạt đi cùng với ý hệ thống trị hiện nay hay không, hay vẫn giữ được vị thế trong đài tưởng niệm của chủ nghĩa ái quốc, cùng với những áng văn cổ xưa của Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, và Nguyễn Trãi./.

———————-

[1] Văn bản của Tuyên ngôn được in thành bản luận bốn trang vào ngày 3 tháng Chín, sau đó in trên tờ Cứu Quốc (Hà Nội) 6 (ngày 5 tháng Chín, 1945), và Cờ Giải Phóng (Hà Nội) 16 (ngày 12 tháng Chín, 1945). Như được đề cập, những bản in sau này và dễ tiếp cận hơn thì lại kém chính xác hơn. Các văn bản năm 1945 viết thêm vào tên toàn bộ mười lăm thành niên nội các, cho thấy sự đồng thuận của chính quyền chính thức, nhưng không nghi ngờ gì về việc Hồ Chí Minh là tác giả của bản Tuyên ngôn. Bản dịch Anh ngữ đầu tiên được kèm vào cuốn sách nhỏ của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cuối năm 1945 có nhan đề Documents, với bìa đỏ tươi cộng ngôi sao vàng; bản sao có thể tìm thấy ở AOM, INF, GF 46. Đối với mắt người nước ngoài, thì đất nước này có tên “Việt Nam Cộng hoà”, trừ đi từ “Dân chủ”. Các bản dịch khác có thể tìm thấy ở: Harold R. Isaacs, chủ biên, New Cycle in Asia (New York, 1947), trang 163-165; C. Kiriloff, dịch giả, Documents of the August 1945 Revolution in Vietnam(Canberra, 1963), trang 66-70; Gareth Porter, chủ biên, Vietnam: The Definitive Documentation of Human Decisions, (New York, 1979), tập 1, trang 64-66; và tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội) 3 (1985): 145-147.
[2] Nó vẫn còn phải được chứng minh chắc chắn rằng Hồ Chí Minh đã dùng từ “Dân chủ” trong bài nói chuyện, mặc dù những bản in lại sau này có chứa từ đó. Trong bản dịch Anh ngữ trong cuốn Documents như được dẫn ra bên trên, trong đoạn văn này ông ấy đề cập đến “Chính quyền Cộng hoà hiện tại”.
[3] Porter, Definitive Documentation, trang 660-71. Tập sách Documents, ở AOM, INF, GF 46.
[4] Trần Trung Thành, Hà Nội Chiến Đấu, trang 20-21. Độc Lập (Hà Nội) số 1 như được trích trong Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Changes in Viet Nam between 1940 and 1946” (luận văn tiến sĩ, University of Wisconsin, 1984), trang 380-81.
[5] Nguyễn Văn Tố, chủ biên, Chặt Xiềng (Hà Nội, 1960), trang 96-98.
[6] Sainteny, Histoire d’une paix manquée, trang 93. Patti không đề cập đến sự kiện này trong cuốn sách của mình nhưng nhớ lại nó rõ ràng khi được phỏng vấn trên đài phát thanh, nhấn mạnh rằng việc bay ngang qua đó hoàn toàn là tình cờ. Xem Michael Charlton và Anthony Moncrieff, Many Reasons Why: The American Involvement in Vietnam (Middlesex, 1979), trang 13-14.
[7] Võ Nguyên Giáp, Những Năm Tháng, trang 28-29. Trần Trung Thành, Hà Nội Chiến Đấu, trang 21.Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Changes”, trang 381.
[8] Tung Hiệp, “Hôm nay là ngày Độc Lập!”, trang 23.
[9] Patti, Why Viet Nam?, trang 253. Tung Hiệp, “Hôm nay là ngày Độc Lập!”, trang 23-24.
[10] Điểm này được nêu ra trong cuốn Hoàng Tuế, “Về Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập”, trong Hồ Chí Minh: Anh Hùng Giải Phóng Dân Tộc Danh Nhân Văn Hoá, chủ biên Vũ Khiêu (Hà Nội, 1990), trang 324-25.
[11] Patti, Why Viet Nam?, trang 249-52.
[12] Porter, Definitive Documentation, trang 71-72.
[13] Sainteny, Histoire d’une paix manquée, trang 92-93.
[14] François Missoffe, Duel Rouge (Paris, 1977), trang 24-27. Sainteny, Histoire d’une paix manquée, trang 96-97.
[15] “Le Viet Minh”, báo cáo SDECE ngày 25 tháng Sáu, 1946, trang 40, trong AOM, INF, thùng carton 138-139, tập tài liệu 1247.
[16] Trong một bài viết gần đây, cựu giám đốc của Viện bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội, Nguyễn Thành, chỉ ra các bản in lại chính thức của bản Tuyên ngôn chứa đựng nhiều lỗi khác nhau như thế nào, cũng có thể được thực hiện thông qua bản dịch tiếng nước ngoài. Có lẽ điểm đáng kể nhất là sự thay đổi “Mọi người đều sinh ra bình đẳng” thành “Mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”, và khuynh hướng bỏ tên những thành viên nội các được liệt kê bên dưới bản Tuyên ngôn. Nguyễn Thành, “Tìm lại bản chính Tuyên Ngôn Độc Lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945”, Tạp chí Cộng Sản (Hà Nội) 9 (1990): 73-76. Xin cám ơn Frank Proschan mang lại bài viết này để tôi có thể chú ý đến.

Lễ diễu binh, diễu hành 2/9 có gì đặc biệt?

 – Hơn 30.000 người tham gia diễu binh, diễu hành đã phải luyện tập suốt 3 tháng, qua nhiều vòng hợp duyệt, sơ duyệt rồi tổng duyệt. Hình ảnh các chiến sĩ đổ mồ hôi dưới cái nắng bất thường hay nghiêm chỉnh đi trong trận mưa lớn vào đêm tổng duyệt đã nhận được sự đồng cảm, thán phục của nhiều người dân.

Hơn 30.000 người tham gia

Toàn bộ lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm Quốc khánh 2/9 năm nay (còn được gọi là Nhiệm vụ A70) có khoảng hơn 30.000 người.

Các đơn vị phải chuẩn bị và luyện tập từ cách đây nhiều tháng tại Trung tâm huấn luyện QG Miếu Môn, Sân bay Hòa Lạc, Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Đơn vị tập luyện lâu nhất là 4 tháng, nhanh nhất là 2 tháng.

Diễu binh, diễu hành, 2/9, tổng duyệt
Hình ảnh tại buổi sơ duyệt ngày 26/8

Để chuẩn bị cho sự kiện lớn này, các lực lượng đã phải trải qua 3 lần hợp duyệt (lần đầu tiên vào ngày 10/8, lần thứ 3 tại Trung tâm huấn luyện Miếu Môn vào ngày 20/8). Sau 3 lần hợp duyệt, các lực lượng tiến hành sơ duyệt vào 26/8 cũng tại Trung tâm Huấn luyện quốc gia Miếu Môn.

Ngày 29/8 vừa qua, buổi tổng duyệt lễ diễu binh, diễu hành đã diễn ra tại nhiều tuyến phố ở Hà Nội. Để phục vụ buổi tổng duyệt này, CA TP đã phải cấm xe ở 40 tuyến phố.

Phải đứng nghiêm được trên 3,5 giờ

Trong quá trình luyện tập, các lực lượng phải đảm bảo nhiều quy định khắt khe. Cụ thể các CBCS tham gia khối đi phải tập đi nghiêm được từ 200m trở lên, diễu hành được khoảng 5km. Các khối đứng phải đứng nghiêm được từ 3,5 giờ trở lên.

Diễu binh, diễu hành, 2/9, tổng duyệt
Các khối đứng phải đứng nghiêm được từ 3,5 giờ trở lên (Ảnh: Infonet)

Quá trình luyện tập, lực lượng diễu binh phải bảo đảm theo đúng Điều lệnh đội ngũ quân đội. Độ dài mỗi bước chân trong quá trình đi hành tiến là 75cm. Khi đi nghiêm qua lễ đài, đầu gối các chiến sĩ thẳng, bàn chân vung lên thẳng hướng tiến, song song với mặt đất và cách mặt đất khoảng 30cm.

Yêu cầu cánh tay đánh ra trước, khuỷu tay gập lại và nâng lên, cánh tay trên tạo với thân người một góc 80 độ, cánh tay dưới tạo thành đường thăng bằng, song song với mặt đất, cách thân người 20cm, nắm tay úp xuống, mép dưới nắm tay cao ngang mép trên túi áo ngực (của sĩ quan) cao ngang cúc áo thứ hai từ trên xuống (đối với hạ sĩ quan và binh sĩ nữ).

Tay sau đánh thẳng hết cỡ ra phía sau, lòng bàn tay hướng vào trong (cả tay và chân đánh có độ dừng). Cứ thế chân nọ, tay kia nhịp nhàng hành tiến theo nhịp nhạc hành khúc, mặt của các chiến sĩ hướng lên lễ đài một góc 45độ để chào. Tốc độ hành tiến vào khoảng 105 bước/phút, tức là khoảng 4,8km/h.

25 khẩu pháo tham gia bắn 21 loạt trên nền Quốc ca

Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành sẽ gồm: Lễ rước đuốc, lễ chào cờ; pháo lễ, diễu binh, diễu hành…Trong phần diễu binh, đi đầu sẽ là xe mang hình Quốc huy của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, phía sau là khối Hồng kỳ. Sau đó là phần diễu binh của các lực lượng vũ trang: quân đội, công an…

Sau nghi lễ diễu binh là chương trình diễu hành nghệ thuật với sự tham gia của lực lượng nghệ sĩ, nghệ nhân, sinh viên các trường nghệ thuật.

Chương trình có sự tham gia của lực lượng vũ trang nhân dân (quân đội, công an, du kích, dân quân, tự vệ), lực lượng quần chúng đại diện các thành phần, như: cựu chiến binh, công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ và các dân tộc Việt Nam.

Việt Nam.

Diễu binh, diễu hành, 2/9, tổng duyệt
Loại đại bác sử dụng trong lễ kỷ niệm thuộc kiểu lựu pháo M30 122mm do Liên Xô sản xuất, viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày nay, pháo M30 122mm chủ yếu được sử dụng phục vụ cho các nghi lễ. (Ảnh: Zing)

Việc chuẩn bị vũ khí trang bị cho các khối cũng đã được Bộ Quốc phòng tiến hành chặt chẽ. Các khối như đặc nhiệm, cảnh sát biển, đặc công.. được trang bị loại súng tiểu liên AM-15 do Việt Nam sản xuất.

Trong lễ kỷ niệm sẽ có 25 khẩu pháo tham gia bắn 21 loạt, mỗi loạt 5 quả đạn trên nền nhạc Quốc ca. Việc bắn pháo lễ sẽ do Lữ đoàn Pháo binh Tất Thắng đảm nhiệm. Hiện nay khối bắn pháo lễ đã tổ chức luyện tập chu đáo. Động tác, kỹ thuật bắn pháo bộ đội đã thành thục.

Đoàn người đi trong mưa

Trong quá trình tham gia luyện tập, các lực lượng phải đối mặt với nhiều khó khăn như luyện tập trong thời gian ngắn, nắng nóng kéo dài, cường độ luyện tập cao.

Diễu binh, diễu hành, 2/9, tổng duyệt
Dưới cái nắng bất thường của mùa thu năm nay các chiến sĩ của lực lượng nữ thông tin đã đổ mồ hôi (Ảnh: Zing.vn)

Hình ảnh các nữ chiến sĩ đổ mồ hôi luyện tập cũng khiến nhiều người xúc động. Đặc biệt, trong buổi tổng duyệt đêm 29/8 vừa qua đã xảy ra mưa to.

Diễu binh, diễu hành, 2/9, tổng duyệt
Khoảng 21h, bất kể trời mưa, người dân vẫn đứng 2 trên hè đường để chờ xem đoàn diễu hành đi qua – (Ảnh: Dân trí)

Dù thời tiết không thuận lợi tuy nhiên các khối diễu binh của quân đội và công an vẫn nghiêm trang tiến hành nhiệm vụ trong nền nhạc hùng tráng và lời giới thiệu của người điều hành chương trình.

Những hình ảnh đoàn người nghiêm trang đi trong mưa này đã nhận được sự ủng hộ, thương mến lớn từ người dân.

Chưa tính được tổng kinh phí đầu tư

Nghi lễ diễu binh, diễu hành chính thức sẽ được tổ chức vào 7h ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình và một số tuyến phố Hà Nội. Song song với lễ chào cờ diễn ra ở quảng trường lăng, tại Hoàng thành Thăng Long sẽ bắn 21 phát đại bác.

Tham gia lễ kỷ niệm, ngoài các đoàn đại biểu Việt Nam còn có đoàn đại biểu cấp cao Lào, Campuchia, bạn bè lâu năm có đóng góp vào sự phát triển 70 năm của Việt Nam.

Quy mô của lễ diễu binh, diễu hành lần này được đánh giá là sẽ lớn hơn lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái cho biết đến nay chưa tính được tổng kinh phí đầu tư cho sự kiện này.

Lê Lam

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: