‘Mất văn hóa dễ dẫn tới mất nước’

Vào những dịp cuối năm và đầu năm, tôi thường có những việc phải về quê, nhân đó mà chứng kiến hoặc nghe kể biết bao cảnh “xuống” (theo cách nói của Tản Đà) ở xã hội làng quê truyền thống.

Ngoài những sự tranh giành, chém giết mà báo chí thường nêu, tôi thấy hiện tượng này mới thực sự đáng lo ngại: ăn nhậu và vui tràn cung mây đến phát sợ. Có thể kể một số biểu hiện sau :

Đám ma, đám cưới, khao thọ, giỗ chạp mỗi ngày một to, thủ tục mỗi ngày một rườm rà và thêm những biến tướng mới.

Ví dụ đám ma kéo dài thêm thời gian quàn thi thể người chết để làm được nhiều các trò cúng tế; đám cưới thì cưới hai lần cho những người sinh vào các năm Đinh, Nhâm, Quý, để tránh phải đi ‘hai lần đò’.

Ngày càng có thêm các cuộc gặp gỡ để ăn nhậu: hội đồng niên, hội đồng ngũ, hội những gia đình ba con, năm con…Có gia đình riêng mùa cưới hỏi giỗ chạp năm nay đã phải bán đi bảy tạ thóc để chi cho việc đi ăn cỗ.

Lượng rượu, bia uống mỗi ngày một nhiều. Kiểu uống nhâm nhi của các cụ xưa gần như không còn nữa.

Thay vào đó là kiểu ‘nốc’ rượu: nốc chúc nhau tại mâm rồi lại mỗi người lần lượt cầm cái chén đi chúc các mâm, đều uống theo cách ‘nốc’ một phát, một chén rồi bắt tay – cái tay dính lem nhem thức ăn. Chúc một vòng, rồi lại vòng nữa, vòng nữa…

Số người bệnh ung thư và bệnh tâm thần mỗi ngày một nhiều. Cũng có một số người cảm thấy nguyên nhân từ rượu nhưng điều đó cũng chẳng ảnh hưởng gì đến các cuộc vui tràn cung mây.

Trong mâm rượu người ta gần như không nói chuyện chính trị – xã hội như ngày trước, mà chỉ nói những chuyện lên chức lên ‘lon’, chuyện về các ‘con xe’, ‘con di động’… Rồi thì thơ phú tuôn ra rào rào trong các cuộc gặp gỡ này.

Những hiện tượng trên diễn ra một cách tự phát. Một số người cũng thấy chướng vì vừa tốn kém tiền của và thời giờ lại vừa lố bịch.

Nhưng chẳng ai dại mà chống lại dòng nước lũ này. Có người chê trách nhà khác là xa hoa, rởm đời, nhưng đến lượt nhà mình lại làm như vậy, có khi còn hơn.

Những điều kể trên, trước mắt, nó làm người dân hoang tưởng rằng cuộc sống đang ‘nở hoa’, đang ngày càng thịnh vượng, từ đó quên đi các chuyện bức xúc, vô lý, khổ đau có thật.

Và nhất là nó làm người ta bận rộn, đam mê việc làng đến quên đi việc nước. Dân quê vốn thiết thực.

Mất gốc và bại hoại

Đầu óc họ còn lúc nào mà để ý chuyện biển đảo của đất nước đang ngày càng bị đe doạ nữa. Còn về lâu dài, nó làm cho con người Việt Nam dần dần mất gốc và bại hoại cả thể xác lẫn tinh thần.

Đến thời điểm nào đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh có thể thò tay mà nhúp nước Việt Nam dễ dàng.

Điều lạ là những việc như thế ngày trước (thời bao cấp, thời nguyên vẹn tính chất XHCN) chính quyền, đoàn thể can thiệp rất sát sao.

Chính quyền thậm chí còn cấm ăn uống trong các đám cưới. Đám nào cố tình, có khi dân quân đến tịch thu cả rượu thịt đã bày ra mâm.

Nhưng ngày nay, chính quyền, trong khi vẫn rất hà khắc trước những hành động đấu tranh của nhân dân, thì các hiện tượng xuống cấp văn hoá trên lại được buông, được làm ngơ, được coi là ‘bình thường’.

Quan niệm sai? Sự vô trách nhiệm? Hay còn có gì đó thuộc bề sâu của vấn đề còn ẩn khuất ?

Xin kể thêm mấy câu chuyện để chúng ta cùng suy nghĩ.

Mới đây trong một cuộc liên hoan, tôi ngồi cùng một vị cựu quan chức, người ta hỏi sao ông ngoài bảy mươi mà trông lại tráng kiện hơn trước, thì ông ấy nói rằng, do ông tập Pháp Luân Công.

Khi ngà ngà say, ông ấy bảo:

“Các vị biết vì sao Trung Quốc nó cấm Pháp Luân Công không? Là vì Pháp Luân Công làm cho con người khoẻ mạnh, cường tráng, tinh thần minh mẫn. Người ta sẽ rủ nhau theo hết Pháp Luân Công (mà không theo Đảng nữa). Tập Cận Bình có lần nói rằng Pháp Luân Công tranh hết quần chúng của Đảng là vì thế.”

Tôi được nghe mấy năm vừa qua, có rất nhiều phóng viên các báo đi Trường Sa. Mục đích chuyến đi tất nhiên là tìm hiểu, thăm hỏi, động viên chiến sĩ giữ gìn biển đảo. Tuy nhiên, cảm giác của nhiều phóng viên khi về lại là sự thất vọng.

Thất vọng vì cảnh thiếu thốn và cả tinh thần thiếu tin tưởng của các chiến sĩ quân đội ta. Và dư âm để lại cho nhiều phóng viên sau chuyến đi là: ta không thể đấu với Trung Cộng được!

Nguyên khí quốc gia bị hao mòn và có thể dẫn tới chỗ mất nước

Mới đây TP Hà Nội chủ trương cho bắn pháo hoa thường xuyên trên cầu Nhật Tân chứ không chỉ bắn vào những ngày lễ trọng đại của đất nước.

Khi dư luận phản đối thì một vị quan chức – ông Phan Đăng Long, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội giải thích:

“Biết đâu, những người nghèo họ cũng khao khát được xem bắn pháo hoa, những lúc thưởng thức bắn pháo hoa giúp họ quên đi cái nghèo, cái khó, những cái vất vả luôn đeo bám cuộc sống của họ bấy lâu nay.”

Cả sự vui vẻ nhố nhăng lẫn sự chán nản, thất vọng đều làm tiêu mòn nguyên khí quốc gia.

Những người cầm quyền ấu trĩ, dốt nát hay thờ ơ vô trách nhiệm, hay thậm chí chủ tâm cứ để mọi sự tự phát phát triển để dân chúng dần dần mất gốc và bại hoại cả thể xác lẫn tinh thần cho dễ cai quản, lèo lái? Tôi chưa kết luận là cái nào. Nhưng dù thế nào thì hậu quả của nó cũng là có hại vô cùng.

Và cái nguy hại mang vẻ rất riêng của nó là: một quá trình mất nước từ từ khiến đa số không quan tâm.

Các triều đại phong kiến xưa cũng như các nước đế quốc trong thời kỳ tìm đất thực dân, nhìn chung, họ khuất phục các dân tộc khác bằng vũ lực, sau đó mới nô dịch bằng văn hoá, tinh thần; tuy nhiên lịch sử cũng cho thấy nó có thể diễn ra bằng một số con đường khác.

Nhà thơ Inrasara (Việt Nam nhìn từ huyền thoại ít được biết đến, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 3 – 4/2015) cho rằng quá trình mở cõi của người Việt về phía Nam được tiến hành bằng cả hai phương thức: bằng gươm và bằng mỹ nhân.

Ngoài Huyền Trân công chúa, về sau còn có các công chúa khác như Ngọc Khoa, Ngọc Vạn tiếp bước ‘mượn màu son phấn đền nợ Ô, Ly’, góp phần hoàn tất quá trình Nam tiến của người Việt.

Nhưng rõ ràng người Việt chỉ thực hiện được điều này bởi có những ông vua Chăm ham sắc (và coi thường nhân dân) đến độ đánh đổi cả lãnh thổ quốc gia.

Sự đồi bại về văn hoá và tinh thần của người Việt Nam hôm nay, thiết nghĩ là đã vô hình tạo điều kiện để nhà cầm quyền Bắc Kinh thôn tính bằng sức mạnh mềm.

Để phân tích tìm ra nguyên nhân và hậu quả các hiện tượng trên cần có sự khảo sát, nghiên cứu kĩ hơn. Tuy nhiên, một điều có quy luật là: Nước mất nhưng văn hoá, tinh thần còn thì vẫn có điều kiện để khôi phục độc lập.

Nhưng mất văn hoá, mất tinh thần dân tộc là mất gốc, dù hiện tại chưa mất nước nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ mất nước rất cao.

Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả Đào Tiến Thi từ Hà Nội và đã được đăng trên trang Diễn Đàn Forum ra ở Paris, Pháp. BBC đăng lại với sự đồng ý của Diễn đàn Forum.

@bbc

Tại sao liên minh không phải là một chọn lựa?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-03-03
000_Was8869550.jpg

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (phải) tiếp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại Washington DC hôm 02 tháng 10 năm 2014 (ảnh minh họa).

 AFP PHOTO / Mandel NGAN

Việt Nam có nên liên minh với nước khác để tự bảo vệ cho chính mình hay không là câu hỏi đang cần được trả lời nhất trong hoàn cảnh hiện nay khi Trung Quốc tiến hành xây dựng hàng loạt đảo nhân tạo trên vùng biển đang tranh chấp, trong đó có các đảo mà nước này chiếm đóng trái phép của Việt Nam.

Việt Nam vẫn còn cơ hội?

Trong thời gian gần đây khi Trung Quốc công khai xem thường dư luận thế giới cho xây dựng quy mô một loạt những đảo nhân tạo lớn trên các dãy đảo đá tại quần đảo Trường Sa. Những căn cứ này có khả năng biến thành cứ điểm quân sự uy hiếp cả một vùng Biển Đông rộng lớn đang có tranh chấp với nhiều nước trong đó có Việt Nam.

Quyết tâm chiếm trọn trung tâm vùng biển của Trung Quốc không phải đến bây giờ, sau khi kinh tế trở nên vững mạnh Bắc Kinh mới nảy sinh ý đồ mà đã từ lâu, ít nhất là năm 1988 khi xua quân đánh chiếm quần đảo Gạc Ma của Việt Nam thì mục tiêu này đã được đặt ra. Từ đó đến nay, thời gian ưu đãi thêm cho nước này cộng với thái độ lưỡng lự của Việt Nam khiến sự ham muốn chiếm đóng trọn vẹn khu vực tranh chấp, tức là chiếm trọn túi dầu khổng lồ của vùng Biển Đông không còn yếu tố nào cản trở.

Theo tôi việc liên kết với các nước có cùng lợi ích trong khu vực Biển Đông là sự cần thiết. Có lẽ sự cần thiết này không phải bây giờ nó mới đặt ra mà ngay từ khi những động thái đầu tiên của Trung Quốc khi đưa dàn khoan HD 981 vào vùng biển của chúng ta.
-PGS Hoàng Ngọc Giao

Hầu hết các chuyên gia quân sự cũng như các tờ báo quốc phòng của thế giới đều đánh giá sự quyết đoán này là cách mà Trung Quốc phủ đầu các nước nhỏ khi công khai thực hiện kế sách đưa mọi chuyện vào sự đã rồi khiến việc chống đối của các nước ngày càng yếu ớt thêm. Trong vòng vài năm tới Bắc Kinh hoàn toàn khống chế cả một vùng Biển Đông mà không một nước nào có thể lên tiếng chứ đừng nói là hành động cụ thể ngoại trừ một nước duy nhất có khả năng ngăn chận sự tham lam ấy là Việt Nam.

Việt Nam vẫn còn cơ hội nếu quyết định ngay từ bây giờ công khai tuyên bố liên kết với các nước trong vùng và sẽ tiến tới liên minh với các nước lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn quốc và Úc hầu mượn sức của liên minh sẵn có này ngăn chặn vòng đai pháo đài nổi đang thắt chặt chung quanh mình.

Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất cam kết không liên minh quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia, Ukraina cũng đã từng như thế khi nền chính trị luôn bị con gấu Nga khống chế, áp lực lên phần đất này.

Tuy nhiên Ukraina đã thấy dã tâm của Nga và quốc hội nước này đã mạnh dạn quyết định bãi bỏ cam kết tự mình trói mình ấy.

Vào ngày 23 tháng 12 năm 2014 Quốc hội Ukraina đã có số phiếu áp đảo 303/ 8 ủng hộ bãi bỏ quy chế không liên kết mà nước này đã thông qua vào năm 2010 lúc ấy dưới sức ép của Nga nhằm ngăn cản Ukraina gia nhập NATO.

Việt Nam hoàn toàn có thể tự mình quyết định như Ukraina nếu đủ can đảm vượt qua vòng vây vô hình của điều được gọi là 16 chữ và 4 tốt buộc chặt bước đi trong nhiều thập niên qua.

000_Hkg9812263.jpg
Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.

Với quan hệ ngày càng mở rộng, Hoa kỳ chắc chắn đón nhận Việt Nam như một thành viên tích cực để sức mạnh Trung Quốc bị chặn đứng ngay tại cửa ngõ châu Á Thái Bình dương. Các nước khác như Nhật Bản, Philippines hay Hàn Quốc sẽ ủng hộ nhanh chóng quyết định này vì họ biết rõ khả năng của Việt Nam trong vai trò cản bước chân nam tiến của Trung Quốc trong hàng ngàn năm qua.

Phó GSTS Hoàng Ngọc Giao, nguyên Vụ trưởng Ban biên giới Chính phủ chia sẻ Việt Nam nên liên kết với các nước trong khu vực trước khi có một quyết định nào đó nhằm khẳng định quyết tâm của mình:

“Theo tôi việc liên kết với các nước có cùng lợi ích trong khu vực Biển Đông là sự cần thiết. Có lẽ sự cần thiết này không phải bây giờ nó mới đặt ra mà ngay từ khi những động thái đầu tiên của Trung Quốc khi đưa dàn khoan HD 981 vào vùng biển của chúng ta thì nó đặt ra sự cần thiết là ngoài nỗ lực đấu tranh bằng ngoại giao, đấu tranh bằng pháp lý thì Việt Nam cần phải có sự liên kết hợp pháp với các nước khác như Philippines, Malaysia hay các nước trong ASEAN để làm sao thúc đẩy tiếng nói của các nước nhỏ trong vùng Biển Đông để hạn chế, kiềm chế chính sách bành trướng xâm lược xuống phía Nam của Trung Quốc.”

Vì sự sống còn của chính mình

Cái bóng của Trung Quốc dù sao cũng không thể xóa đi trong một lúc, tuy nhiên cái bóng ấy tự nó sẽ nhạt dần khi quyết tâm của Việt Nam mạnh lên vì sự sống còn của chính mình. Đại tá Nguyễn Đăng Quang cho rằng Việt Nam có thể tự bảo vệ mình mà không sợ va chạm vào cam kết, ông cho biết:

“Tôi cho rằng cái chủ trương không liên minh với nước nào đó để chống lại nước thứ ba thì cũng có thể hiểu là Việt Nam có thể sẵn sàng liên minh với một nước khác để bảo vệ chủ quyền đất nước thì cái đó là điều bình thường thôi, Việt Nam nên làm theo điều đó miễn là Việt Nam không liên minh với nước A để chống lại nước C, thế nhưng tôi sẵn sàng liên minh với nước B để bảo vệ chủ quyền đất nước thì đó là quyền hạn và là điều nên làm.”

Trong khi đó Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã Hội Việt Nam cho rằng quan niệm không liên minh đã lỗi thời vì hành vi xây đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể sánh với việc kẻ cướp đã vào nhà:

Cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh.
-Thiếu tướng Lê Văn Cương

“Quan niệm không liên minh với nước nào khác để chống lại nước thứ ba đã lỗi thời rồi. Khi kẻ cướp nó đã vào đến sân nhà mình mà người trong nhà nói rằng không, chúng tôi không cần hàng xóm láng giếng giúp đỡ gì cả, tự tôi tôi sẽ chiến đấu thôi. Mà bằng cách nào? Bằng cách tôi nhân nhượng nó, tôi hòa hoãn với nó tôi cứ lùi dần lùi dần lùi đến độ để thế giới người ta nghi ngờ không biết Việt Nam có định chiến đấu chống lại Trung Quốc hay không thì làm sao người ta ủng hộ mình?”

Hoa Kỳ dù vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết nhưng quyết tâm trở lại Châu Á Thái bình dương của Nhà Trắng không phải là lời nói suông nhằm đe dọa Trung Quốc. Những hành động cụ thể của Hoa Kỳ trước hai đồng mình lâu đời là Nhật Bản và Philippines trong những năm qua có thể cho Việt Nam thấy chính sách đối ngoại sáng suốt là chìa khóa làm cho đất nước vững chãi trước dã tâm của nước lớn để từ đó có thêm thời gian và tiền bạc để phát triển đất nước, thay vì phải đối phó nhiều mặt cả ngoài lẫn trong như hiện nay.

Thiếu tướng Lê Văn Cương, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an khẳng định sức mạnh ấy của Hoa Kỳ, đất nước duy nhất ông cho là có thể đứng mũi chịu sào trước phương Bắc:

“Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.

Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.

Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.”

Qua những nhận định vừa được đưa ra, ước muốn liên minh đang là nhu cầu bức thiết nhất hiện nay của đa số nhân sĩ trí thức và ngay cả trong quân đội. Khi Việt Nam không thể tự mình đủ sức bảo vệ đất nước thì liên minh là phương cách duy nhất đúng đắn của một nhà nước biết đặt sự an nguy của dân tộc lên trên tất cả.

Lãnh đạo Việt Nam đang theo đạo gì?

Ngày 28/10 năm 2014, trong chuyến công du Ấn Độ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng. Hình ảnh người đứng đầu Chính phủ ngồi xếp bằng, tay đeo tràng hạt, cung kính chắp tay lạy Phật như một Phật tử thuần thành xuất hiện khắp trên các tờ báo lớn của Việt Nam.

Tuy nhiên, chưa thấy ai đặt vấn đề liệu hành vi trên của ông có mâu thuẫn với việc ông phủ nhận có theo bất kỳ tôn giáo nào trong các bản khai lý lịch của mình.

Cũng vậy, công luận Việt Nam lúc ấy cũng vắng bóng những cuộc tranh cãi về tính hợp lý của những hành vi tôn giáo nơi công cộng của các lãnh đạo quốc gia, điều đôi khi sẽ bị coi là thất sách về chính trị (politically incorrect) ở những nước coi trọng tính thế tục.

Trong một diễn biến khác, ngày 9/11 năm 2014, Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia, một cơ quan trực thuộc Chính phủ, phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức đại lễ cầu siêu cho tất cả nạn nhân tai nạn giao thông trong cả nước. Tham dự đại lễ này với tư cách Phó Chủ tịch Ủy ban ATGT QG, Bộ trưởng Đinh La Thăng phát biểu:

“Với sự gia hộ của mười phương chư Phật, cùng công đức trì niệm của hàng trăm tăng ni, tín đồ Phật tử và gia đình thân quyến tại trai đàn cầu siêu sẽ giúp cho hương linh những người không may bị tử nạn do tai nạn giao thông siêu đăng Phật quốc. Cũng nhờ đạo hạnh của chư Phật, chư tăng ni gia trì cho gia đình các nạn nhân đủ niềm tin, nghị lực nén những đau thương mất mát, sớm vượt qua những khó khăn trước mắt để tiếp tục xây dựng cuộc sống và xã hội ngày thêm an lành, tốt đẹp”. [2]

Thật khó để phân biệt giữa phát biểu của một viên chức chính phủ với một chức sắc tôn giáo trong trường hợp này.

Tuy vậy, cũng như trường hợp Thủ tướng, thời điểm đó công luận Việt Nam không xuất hiện một cuộc tranh luận đáng kể nào về giới hạn can dự của cơ quan hành chính vào các sinh hoạt tôn giáo cũng như vấn đề tính chất trung lập về tôn giáo trong các phát ngôn của viên chức đại diện chính phủ.

Dường như, tính thế tục trong phát ngôn và hành động của chính khách vẫn chưa hoặc không phải là một chủ đề được quan tâm trong dư luận Việt Nam, mặc dù, ở cấp độ hành chính, đã có quy định cấm thờ cúng và thực hành nghi lễ tôn giáo trong cơ quan nhà nước; và, ở cấp độ tư tưởng, nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định trong Hiến pháp rằng họ chọn chủ nghĩa Marx-Lenin, một học thuyết duy vật, làm nền tảng tư tưởng cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội.

Ngược dòng lịch sử

“Đại Sán, tu sĩ Phật giáo người Trung Hoa được nói đến ở các chương trước, vào năm 1695, đã quan sát thấy cung điện của Nguyễn Phúc Chu được trang hoàng với cờ Phật giáo, trướng, cá gỗ và những quả chuông lộn ngược, giống như một ngôi chùa Phật giáo vậy”

Li Tana trong tác phẩm Xứ Đàng Trong đã trích thuật những mô tả của nhà sư Đại Sán để cho thấy trong quá trình lập quốc ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã chọn Phật giáo Đại thừa làm tôn giáo nhà nước (state religion) để khẳng định và củng cố tính chính danh thế quyền của họ bằng một kiểu cách mà O.W. Wolters chỉ ra, ở Đông Nam Á, “địa vị vua có tính cách duy nhất chỉ bởi vì đó là một địa vị có tính cách tôn giáo”.

Đây là một hiện tượng thú vị, song các chúa Nguyễn ở Đàng Trong không phải là thế lực chính trị đầu tiên hoặc duy nhất trong lịch sử Việt Nam xác lập Phật giáo làm tôn giáo nhà nước nhằm củng cố tính chính danh vương quyền.

Các triều đại Lý – Trần cũng thể hiện xu hướng này đậm nét, với đặc trưng là sự phổ biến của hiện tượng các nhà sư tham chính, nắm giữ các vị trí cao cấp trong triều đình (chẳng hạn, các Quốc sư cho vua Lý đa phần là các bậc tăng sư), cũng như hiện tượng xuất gia của các vị vua khi đang ở đỉnh cao quyền lực, đặc biệt có những vị như Phật Hoàng Trần Nhân Tông còn là tổ của một tông phái thiền.

Tuy vậy, lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những trào lưu phê phán mô hình nhà nước Phật giáo, đặc biệt là trong các giai đoạn thắng thế của Nho gia khi nó được các lực lượng nắm quyền lựa chọn làm hệ tư tưởng thống nhất của quốc gia.

Lê Thánh Tông (1442-1497) trong một bài văn sách thi Đình đã đưa ra nhận định không mấy tốt đẹp về các tôn giáo thịnh hành bấy giờ – một biểu hiện cho thấy sức ảnh hưởng của Phật giáo như là một quốc giáo khuynh loát đời sống chính trị quốc gia đã không còn nữa dưới thời Hậu Lê:

“Giáo lý của đạo Phật, đạo Lão hết thẩy đều mê đời, lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không thể kể hết, mà lòng người lại rất tin, mê”.

Từ những nhận định đó, Lê Thánh Tông đã lệnh cho các phủ, lộ không xây thêm chùa, quán mới. Bên cạnh đó, thời Hồng Đức cũng chứng kiến sự biến mất của giới tăng quan, mà thay vào đó khoa cử đóng vai trò chủ chốt trong việc tuyển lựa người tài ra làm quan.

Có quan điểm cho rằng những biểu hiện này phản ánh quá trình thế tục hóa ở chỗ các tôn giáo đã mất hoặc giảm dần thẩm quyền của nó (thông qua giáo hội và chức sắc) đối với hoạt động quản trị quốc gia, và phần nào đó, đối với xã hội.

Lịch sử Việt Nam từng có lúc ‘phế Phật lập Nho’

Tuy vậy, một số khác lại cho rằng hiện tượng “phế Phật, lập Nho” của triều Hậu Lê, hoặc sau này là triều Minh Mạng, chưa thể được coi là biểu hiện của quá trình thế tục hóa, mà đơn thuần chỉ là việc thay đổi tôn giáo được chọn làm quốc giáo. Sự khác biệt quan điểm này liên đới trực tiếp với những tranh luận rằng Nho giáo có nên được coi là một tôn giáo hay đơn thuần chỉ là một hệ thống triết lý và đạo đức về đối nhân xử thế và trị nước.

Thế tục hóa là hiện đại hóa

Giữa thế kỷ 19, trong khi ở Việt Nam, Minh Mạng và sau đó là Thiệu Trị đang mải mê thi hành những chính sách hà khắc về tôn giáo như cấm đạo, sát đạo để bảo vệ giềng mối Nho gia thì ở nước Anh, nhà văn George Jacob Holyoake (1846) đã lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa thế tục (secularism) như “là một kiểu quan điểm chỉ quan tâm tới những vấn đề có thể được kiểm tra bằng kinh nghiệm trong cuộc đời này”.

Có nguồn gốc từ sự nổi lên của Cách mạng Khoa học và Kỷ nguyên Khai minh và đi liền là sự suy thoái về tầm ảnh hưởng của tôn giáo nói chung và Giáo hội La Mã nói riêng ở châu Âu, tiến trình thế tục hóa (secularization) đã diễn ra sâu rộng trên khắp các mặt của đời sống chính trị xã hội và trở thành một biểu hiện đặc sắc của tiến trình lý tính hóa (rationalization) và hiện đại hóa (modernization), làm thay đổi bộ mặt Tây phương thời bấy giờ.

Hai nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa thế tục là phân tách nhà nước khỏi các tổ chức tôn giáo; và tất cả người dân với bất kể tôn giáo nào (kể cả không tôn giáo) đều bình đẳng trước pháp luật. Đây cũng chính là những đặc điểm của văn hóa chính trị hiện đại ở các nước Tây phương mà dựa trên đó, tự do tôn giáo, tinh thần đa nguyên và khoan dung được bắt rễ.

Không chỉ ở cấp độ văn hóa chính trị, tính thế tục còn được khẳng định ở trong các văn bản pháp lý ở các nền dân chủ. Nếu như Tu chính án thứ Nhất là lời tuyên xưng cho tính chất thế tục của Hiến pháp Hoa Kỳ (và được củng cố qua nhiều án lệ trong đó Tối cao Pháp viện viện dẫn Tu chính án này) thì ở Pháp, tính chất này được ghi nhận trong một loạt các văn kiện quan trọng từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, Luật 1905 về Phân chia Giáo hội và Nhà nước, rồi sau đó là Hiến pháp 1958.

Tu chính án thứ Nhất, Hiến pháp Hoa Kỳ:

Hiến pháp Hoa Kỳ nhấn mạnh tính thế tục của thể chế nhà nước

Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.

Như vậy, để trở thành những nhà nước thế tục (secular state) như hiện nay các quốc gia Tây phương đã đi một chặng đường dài cả ở cấp độ lý thuyết lẫn thực hành mà kèm với nó là không ít những biến động lịch sử.

Nhưng bù lại, chủ nghĩa thế tục, một khi đã bắt rễ và cấu thành một phần của văn hóa chính trị, sẽ giúp tạo ra một khuôn khổ pháp lý và tập quán xã hội tôn trọng tự do tôn giáo, tự do biểu đạt, tinh thần đa nguyên và bình đẳng, từ đó củng cố nền móng cho các nền dân chủ tự do, nhất là trong bối cảnh đa tôn giáo, đa văn hóa như hiện nay.

Từ góc độ đó mới thấy, thiếu vắng những cuộc tranh luận về tính thế tục trong đời sống chính trị xã hội ở một nước đa tôn giáo như Việt Nam, có khi lại không phải một điều gì đáng mừng.

Bài của Nguyễn Anh Tuấn có tựa đề ‘Chuỗi tràng hạt của Thủ tướng và nguyên lý nhà nước thế tục’ đã đăng trên trang Luatkhoa.org. thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

@bbc

Hồi ký Dương văn Ba – Chương 1

Những Ngã Rẽ

Vài nét tiểu sử DƯƠNG VĂN BA

Sinh năm 1942 tại Bạc Liêu. Năm 1961 đậu vào Đại Học Sư Phạm Đà Lạt, sau khi tốt nghiệp tháng 8.1964 được bổ nhiệm về Mỹ Tho dạy môn Triết lớp Đệ nhất (tương đương lớp 12 bây giờ).  Tham gia hoạt động chính trị, trở thành một trong những dân biểu trẻ thuộc phái đối lập trong Hạ nghị viện khóa 1967-1971 thời Việt Nam Cộng Hòa.

Đầu năm 1968 bước vào nghề báo với các bài xã luận thường xuyên đăng trên nhật báo Tin Sáng, rồi làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Đại Dân Tộc. Từ tháng 11. 1971, sau khi thất cử Hạ nghị viện, đã cùng vài đồng nghiệp chủ biên nhật báo Điện Tín. Cuối năm 1972, để tránh bị bắt lính, dọn vào ở và tiếp tục làm báo tại Dinh Hoa Lan của tướng Dương Văn Minh. Ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Thông tin trong chính quyền ngắn ngủi 3 ngày của Tổng thống Dương Văn Minh, nhờ vậy đã có dịp chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong những ngày cuối cùng của chế độ.

Sau 30.4.1975, tiếp tục làm báo ở nhật báo Tin Sáng. Từ 1984 đến 1987, hoạt động hợp tác kinh tế với Lào với tư cách là phó giám đốc Công ty CIMEXCOL Minh Hải, và mặc dù ăn nên làm ra nhưng vẫn bị chính quyền bắt nhốt vào ngày 25.12.1987, ra tòa tại Bạc Liêu với án chung thân. Dư luận cả nước đều coi đây là một trong những vụ án lớn “có vấn đề” của chế độ mới XHCN mà khi đọc hồi ký Những ngã rẽ này người đọc sẽ được rõ thêm.

Sau khi được ra tù trước thời hạn vào ngày 30.4.1995, ông làm ăn liên tiếp thất bại, mất hết tài sản, phải ở nhà thuê trong suốt nhiều năm. Hiện bị tai biến xuất huyết não, nằm bất động khoảng 6 tháng nay trên giường bệnh.

2-3-15

Chương 1

CHUYỆN THUỞ MỚI LỚN

Gốc nông dân Miền Tây

Tôi không nhớ rõ gương mặt bà ngoại. Chỉ mang máng bà tôi trắng, gương mặt dễ nhìn. Bà rất thương đứa cháu trai, con đầu lòng của cô con gái duy nhất. Mẹ tôi có tên là Hai Án. Án tiếng Triều Châu có nghĩa là đỏ hồng. Bà con lối xóm thường gọi mẹ tôi là Hai Hồng.

Mẹ tôi sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Châu, một vùng cát biển giáp với Sóc Trăng, Bạc Liêu, hai tỉnh gần cực nam đất Việt, nơi có nhiều người Khơ Me sinh sống, xen lẫn với người Việt, người Tiều.

Sự hòa đồng giữa ba dân tộc đã có bao đời trên mảnh đất của ruộng đồng và cát biển, xứ của nước biển pha nước lợ, xứ của đồng chua đất phèn, xứ của cỏ năn, lát sậy sát với rừng tràm, rừng đước, xứ của tôm, cua và bao nhiêu loài cá nước lợ, cá đồng cá biển.

Ai về Bạc Liêu không thể nào quên con cá chốt kho sả ớt, con cá kèo kho tiêu, không thể quên vị ngọt tươi của con tôm đất vớt lên từ trại đáy ăn với bún rau sống bánh tráng chấm tương bầm. Trong những ngày mưa dầm, ực thêm ly rượu công-xi thật khó quên.

Càng không thể quên con cua gạch. Mỗi con chứa đầy gạch son béo như phó-mát. Chỉ ăn gạch cua thôi đủ thấy sự màu mỡ của biển Bạc Liêu, Cà Mau  đủ thấy cây mắm, cây tràm, cây đước vùng U Minh đã tạo cho thiên nhiên và sinh vật vùng biển bao nhiêu chất tươi, bao nhiêu chất béo bổ phục vụ dân cư địa phương.

Mỗi lần có dịp đi xuồng trong các kinh rạch chằng chịt vùng quê Bạc Liêu, Cà Mau, tôi có thói quen mở rộng buồng phổi hít thật sâu mùi thơm của cây tràm, một mùi dễ chịu khó tả không thể nào nhầm lẫn được.

Càng đi sâu vào vùng quê, tôi có cảm giác đất trời mênh mông càng lúc càng thấp xuống, gần sát vào nhau – Trời, Đất, Nước và con người như một, lẫn vào nhau, gần gũi nhau.

Dân Bạc Liêu, Cà Mau dễ hội nhập với nhiều nền văn hoá, nhiều lối sống, nhiều phong tục tập quán. Họ thể hiện sự cởi mở của ruộng đồng mênh mông, biển cả bát ngát vây quanh. Một người Bạc Liêu có thể nói 3 thứ tiếng Việt, Tiều, Khơ Me. Họ vừa biết trồng lúa, làm rẫy, vừa biết đánh lưới đi biển, vừa biết chăn nuôi heo, gà, cá.

Một đời sống cực khổ nhưng phong phú. Một vùng đất bước ra khỏi nhà đã gặp thức ăn. Chỉ cần học hỏi, lao động, chỉ cần một chút thông minh, siêng năng, cuộc sống hàng ngày không đến nỗi thiếu trước hụt sau.

Cha tôi, một nông dân khỏe mạnh, thông minh, cần cù lao động, sinh ở Trà É – Nhu Gia thuộc huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng.

Trà É, vùng ruộng đồng phì nhiêu, nơi sinh sống của người Hoa lai Việt, lai Khơ Me. Hiểu biết về nghề nông về đồng ruộng của cha tôi khá phong phú, ông lại chăm chỉ làm lụng nên được nội tôi thương, cho phép lấy vợ sớm. Cha tôi cưới má tôi lúc ông mới 24 tuổi. Ông từ bỏ vùng quê Trà É đi ở rể tại Xóm Lò Heo mới. Về vùng chợ Bạc Liêu cha tôi được lối xóm gọi là ông Hai. Ông Hai theo nghề buôn bán hàng xén của bên vợ, ông mua bán giỏi, biết gõ bàn toán, biết tiếng Hoa. Người dân Xóm Lò Heo không ai không biết ông Hai Án bán tạp hóa, chồng của cô Hai – một thiếu nữ hiền dịu có chút  ít học thức.

Bằng sức lao động cần cù, bằng tài mua bán tháo vát, chẳng mấy năm gia đình anh chị Hai Án trở nên khá giả, có tiệm hàng xén, có chành vựa lúa, mỗi năm mua bán nhỏ cũng được vài chục ngàn tạ lúa.

Tuổi thơ và khát vọng

Tôi lớn lên trong khung cảnh lao động. Hàng ngày ngoài việc cắp sách đến trường tiểu học, tôi phụ mẹ giữ các em và làm công việc lặt vặt trong nhà. Sống và lao động để sinh sống, bài học đó cha tôi đã dạy cho tôi ngay từ lúc còn năm, sáu tuổi.

Thể chất tôi bình thường, nhưng trí tưởng tượng và ước mơ thật lớn.

Tôi thích được làm tay nghĩa hiệp trừ gian diệt bạo. Lúc còn bé, bắt đầu biết xem sách, thích xem các tập sách hình của Hồng Kông. Chỉ cần dùng mấy ngón tay lướt nhanh qua tập hình, các hiệp sĩ tha hồ đánh võ, đánh kiếm quần thảo nhau xem đã con mắt, khêu gợi óc giang hồ kỳ hiệp của các cô các cậu tuổi thơ. Các sách in hình chữ Hoa nhưng tôi vẫn đoán ai là kẻ gian, ai là hiệp sĩ.

Tuổi thơ của tôi được nuôi bằng các ảo tưởng anh hùng nghĩa hiệp. Lớn hơn một chút nữa, lúc sắp rời ghế nhà trường tiểu học, tôi lại vùi đầu vào các truyện phiêu lưu, truyện trinh thám, Vàng và Máu, Bàn tay máu, Người nhạn trắng… Hồi còn học tiểu học, được dịp xem xinê, tôi thích xem phim “Hoàng giang Hiệp nữ”. Cả một thời thơ ấu, trí tưởng tượng của tôi được nuôi bằng ảo vọng mong được làm các hành động nghĩa hiệp trừ gian diệt ác.

Tôi là con mọt sách kiếm hiệp từ lúc còn học lớp ba. Sách tranh ảnh giai đoạn này tác động mạnh vào tính cách tôi lúc trưởng thành. Tôi và anh Tư, người anh bà con chú bác, hễ có được mấy “cắc” là tìm dịp ra chợ Bạc Liêu mướn sách đọc. Không phải là truyện ái tình, mà là truyện trinh thám, kiếm hiệp, Tề Thiên đại thánh, Thủy hử, Tam quốc… Những mẫu chuyện hoang tưởng kỳ thú thỏa mãn ước mơ, khát vọng làm anh hùng của đám con nít. Ở thời kỳ phim đen trắng còn quá ít, phim còn câm, sách báo còn hạn chế, coi sách kiếm hiệp, đọc truyện Tề Thiên đã là thú tiêu khiển của người có xu hướng văn hóa.

Lớn lên suy nghĩ lại, sách báo tuổi thơ đã tạo nên phần nào nhân cách của tôi. Một nhân cách ưa phiêu lưu, thích làm chuyện đại nghĩa, chuyện lớn, không tính toán nhiều tới hậu quả, không lượng sức mình, không so đo đối chiếu cọ xát nhiều với thực tế. Tính cách này vừa là một ưu điểm gặp lúc bùng phát thịnh thời nhưng cũng là một nhược điểm dễ dẫn tới những thất bại không lường trước được. Nói theo kiểu tính tình học đây là đặc điểm của người đam mê, say mê lý tưởng, mộng tưởng nên gặp nhiều lúc thất bại ê chề.

Cảm giác về kẻ khác giống

Là một đứa trẻ thông minh, da dẻ sáng láng, tôi sớm hiểu nhanh nhiều chuyện của người lớn.

Mới có năm, sáu tuổi, tôi đã lưu ý tới chuyện người chú thứ Mười, ở chung nhà, dan díu với một cô gái hàng xóm. Chuyện tình của cô gái kia với chú Mười, tôi thắc mắc không biết phạm điều cấm gì mà thấy cha tôi la rầy dữ dội. Có lẽ vì thế chú Mười bỏ nhà đi đâu mất. Lúc đó khoảng năm 1947. Sau nầy tôi mới hiểu chú Mười bị tai tiếng tình cảm, đã bỏ đi theo Việt Minh từ dạo ấy.

Chuyện quan hệ trai gái sớm có sức hút sự chú ý của tôi. Ở chung xóm cách nhà mấy căn, có mấy cô bé cùng tuổi, họ cùng chơi đùa với tôi hàng ngày. Nhiều buổi trưa, tôi và các cô bạn gái vào lẫm lúa, giả đóng vai trò yêu đương của người lớn. Đó là sự tò mò về người khác giống, đồng thời cũng là dấu hiệu của sự sớm phát triển tâm sinh lý. Có những đêm, lúc đó tôi ngủ chung một bộ ván ngựa với người chú, lớn hơn tôi chừng hai tuổi, cả hai người không biết do vô thức hay ý thức, thích cọ sát mơn trớn giới tính của nhau, sự mơn trớn đó đã tạo cho tôi khoái cảm.

Bắt đầu thời kỳ cuối của bậc tiểu học, tôi đã chú ý đến các cô bạn dễ nhìn ở hàng xóm. Hai cô bạn gái học cùng lớp nhì lớp nhất được tôi quyến luyến là Hảo và Lệ. Mỗi lần các cô bạn này đi chợ ngang nhà, cậu bé chín mười tuổi lúc đó hay dõi theo ra chiều quyến luyến. Trong nhiều giấc mơ, tuổi bé tí, tôi thấy mình làm bạn tình cảm với họ.

Giới tính và sự phát triển lần hồi của giới tính như những đợt sóng nhẹ vỗ từ từ vào bờ cảm quan xác thịt của trẻ thơ, êm dịu và có lúc cuốn hút, không gì đẹp bằng những phút ngây ngây đó. Có lẽ giới tính phát triển sớm nơi những trẻ con lai giống. Sự kích thích của giới tính khiến trẻ sớm hiểu biết chung quanh, sớm hiểu người khác.Một chỉ số cường độ giới tính lành mạnh cũng là một chỉ số về cường độ thông minh nơi trẻ.

Qua kinh nghiệm bản thân, tôi sớm hiểu thế nào là khoái cảm, thế nào là sự êm ái do người khác giống tạo ra cho mình khi có được cảm giác người đó chú ý tới mình. Sự quan tâm đối với các cô bạn bé tí là chỉ dấu thôi thúc phát triển, chỉ dấu hướng ngoại, hướng tha. Tôi không thể sống cô đơn từ lúc bảy tám tuổi, luôn cần có bạn, thích lựa chọn bạn. Nào Lệ, nào Hồng, nào Hảo, nào Hoàng Anh, hình ảnh các cô bạn gái theo đuổi và thay đổi từng thời kỳ phát triển tâm sinh lý của tôi. Thời kỳ nào, tháng nào, ngày nào trong tuổi thơ của tôi luôn có những giấc mơ được dệt ra với những hình ảnh đó.

Với các bạn trai cũng thế. Những Cơ, Tập, Thanh, Tựu, lớn hơn một chút, những Khương, Thọ, Tỷ, Phát. Thế giới của tôi lẫn lộn giữa nam và nữ, giữa mơ mộng và thực tiễn, lẫn lộn giữa ước ao khát vọng với các giới hạn hàng ngày, giới hạn của chung quanh.

Chưa lớn đã khát khao yêu, chưa lớn đã mơ sự nghiệp lớn. Có những đêm trong chiêm bao, tôi mơ thấy mình là anh hùng, là kẻ tài năng, giàu có và mơ thấy mình được chắp cánh bay xa với những người yêu bé nhỏ. Mộng và thực. Ước mơ và giới hạn. Đó là những thúc bách của kẻ đang lớn, đang hình thành nhân cách, đang có nhiều ước vọng và ảo vọng.

Trí tưởng tượng thật dồi dào và thực tế cũng ê chề. Nhiều lúc, tôi ngồi thừ nhìn dòng sông trước mặt nhà, thấy mình hóa thân thành người thuyền trưởng dong buồm đi xa cùng nhiều nàng tiên đẹp. Tiếng gọi của cha tôi kéo tôi về với công việc thực tế, gánh gạo, gánh thóc đem giao cho hàng xóm.

Tuổi thơ của tôi đầy mơ mộng nhưng cũng là một tuổi thơ làm lụng vất vả. Mơ và thực lẫn vào nhau giữa ngày và đêm trong giấc ngủ, giữa công việc lao động và các cuốn truyện phiêu lưu kỳ hiệp. Sau này, khi lớn lên có lúc tôi vô cùng thực tế, cái thực tế cuả người Triều Châu mua bán, có lúc tôi lại là người mộng mơ bay theo những chuyện trong sách vở.

Sài Gòn của thuở mới lớn

Tôi lên Sài Gòn học từ năm 1957, lúc chỉ mới mười lăm tuổi. Nhà  tôi có chiếc xe đò chạy đường Sài Gòn – Bạc Liêu, năm mươi chỗ ngồi. Nhờ đó, việc liên lạc với gia đình khá dễ dàng. Được cha chăm sóc thường xuyên nên tôi cố gắng học tốt, tôi đỗ tú tài I năm mười sáu tuổi.

Ở trọ nhà bà cô được mấy tháng, trong khu chợ Vườn Chuối, sau đó tôi cùng bạn bè đi ở trọ sau lưng chợ Nancy. Từ mười sáu tuổi, tôi đã sống xa nhà, được tự do nên nhanh chóng thấu hiểu ngõ ngách của Sài Gòn.

Sài Gòn năm 1958 trong con mắt của cậu học sinh mới lớn, với nhiều con đường đầy bóng râm mát.

Đường Phan Thanh Giản có những cây dầu cao vút. Đường Trần Quang Khải với những cây sao đen kịt. Đường Đinh Tiên Hoàng rợp những tàng me. Đường Trần Quý Cáp yên ắng với nhiều biệt thự xinh đẹp. Nhiều cặp nam nữ dắt nhau đi bộ ung dung trong một thành phố có nhiều thảm cỏ.

Sài Gòn của những quán cà phê nhỏ, quán thạch chè đặc sản, quán mì cây nhãn, quán hủ tiếu Cả Cần, bánh tôm, bánh cuốn Phan Đình Phùng (ăn lúc nửa đêm).

Sài Gòn của Đêm Màu Hồng, của vũ trường Văn Cảnh, Sài Gòn với các hội quán sinh viên và bữa cơm tự phục vụ một đồng bạc, cùng lúc hàng ngàn người ở đường Bùi Viện.

Sài Gòn thời đó là Sài Gòn của các nhà sách nổi tiếng; Khai Trí đường Lê Lợi, Trần Văn đường Lê Văn Duyệt, Lê Phan đường Phạm Ngũ Lão, Albert Portail đường Tự Do… Tất cả đầy những người ham học đứng lựa sách và đọc sách báo.

Người Sài Gòn hồi năm mươi mấy, sáu mươi… thích đi dạo phố Catinat, Bonard, Charner… thích ăn kem uống cà phê ở các quán lề đường thanh nhã.

Mỗi thứ, mỗi kiểu đều có hương vị, sắc thái riêng.

Ăn phở là phở Tàu Bay, phở Bắc Huỳnh. Ăn sáng ở Thanh Bạch, Thanh Vị, Cả Cần, Sing Sing, ăn bánh paté chaud ở Phạm Thị Trước, nhậu ở Kim Hoa…

Một Sài Gòn vừa phải, văn minh lớp lang, sạch sẽ. Không có cảnh se sua, bát nháo. Không có cảnh cóc nhảy lên làm sang. Một Sài Gòn thi vị đầm ấm, đầy màu sắc văn hoá… Mặc dù Sài Gòn của bên kia sông, của bến tàu, của quận tư, Khánh Hội vẫn là một Sài Gòn lam lũ, nước đen, ổ chuột, nơi sôi sục bao nhiêu tệ nạn xã hội, bao nhiêu bất công, cũng là nơi sôi sục những mầm mống đấu tranh liên lỉ âm thầm.

Sài Gòn cuối thập kỷ năm mươi với vài tờ nhật báo Tiếng Chuông, Thần  Chung, Tin Điển, Sài Gòn Mới… bước sang thập kỷ sáu mươi với hơn chục tờ nhật báo lớn nhỏ… Một Sài Gòn cựa mình tự do ăn nói, tự do vẽ ra cung cách sống, cung cách suy nghĩ cho thế hệ hiện tại và tương lai. Cùng lúc Sài Gòn âm thầm bộc phá, len lỏi với hàng chục hàng trăm ngòi bút chịu ảnh hưởng của xu hướng cách mạng cộng sản.

Sài Gòn mở cửa đón chào nhiều làn sóng chính trị, văn hóa, văn nghệ, nhiều luồng sóng văn minh với sự âm ỉ ngún lửa của nhiều ngòi nổ đấu tranh cách mạng. Một Sài Gòn bắt đầu trăm hoa đua nở sau mấy chục năm chịu áp bức, kiềm chế của nền văn minh thuộc địa.

Ở tuổi 17, 18 với sự bùng lớn lên của sức vóc và tầm suy nghĩ, với sự dẫn dắt vượt bến bờ của trí tưởng, óc sáng tạo, tôi có dịp học hỏi, đọc sách tìm hiểu nhiều nguồn văn hóa, nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều phong trào chính trị. Cùng với nhiều thanh niên thời đó, tôi bắt đầu bị cọ xát bởi thuyết hiện sinh, bởi chủ nghĩa hiện thực xã hội, cọ xát với thuyết Mác xít, lý thuyết cộng sản.

Tôi thần tượng Karl Marx, ở bên kia sông và rào kẽm gai, nhưng tôi mê Jean Paul Sartre, Françoise Sagan với tác phẩm “Buồn ơi chào mi”, thích lối sống hiện sinh đồng thời cũng bị cuốn hút bởi chuyện những người ly khai thành thị, dứt áo ra đi, hẹn một ngày trở lại.

Thời kỳ cuối năm 50 đầu 60, những chàng trai mới lớn như tôi có chút mơ mộng trộn lẫn với hiện thực xã hội, thường nuôi trong lòng nhiều tình cảm đối chọi nhau, vừa thuận vừa nghịch thay phiên lấn chiếm tâm tư hàng ngày.

Nhớ lại năm 1961, tôi và Huỳnh Phan Anh, cả hai vừa tròn 20 tuổi đã nổi hứng viết lá thư ngỏ đăng trên tuần báo Mã Thượng, đối thoại với nhóm Sáng Tạo (một thế lực văn hóa văn nghệ thời đó giữa Sài Gòn). Nhóm Sáng Tạo tuyên ngôn khai tử văn nghệ tiền chiến và đòi hỏi làm lại một nền văn hoá văn nghệ mới mẻ từ con số không.

Hai chàng trai trẻ đã gióng tiếng chuông về một nền văn nghệ có tính chất lịch sử liên tục. Mọi thứ vận động văn hóa đều có tính cách thời gian và lịch sử. Tuyên chiến với quá khứ là một điều vô nghĩa, vì sáng tạo nhất là sáng tạo trong văn hóa văn nghệ luôn luôn là sáng tạo trong một không gian và thời gian:

“Từ chối đối thoại với quá khứ bao gồm ý nghĩa chối bỏ quá khứ. Thử hỏi người ta có thể làm một cuộc thanh toán với quá khứ và các anh, các anh có thể làm gì được trước quá khứ của các anh, trước nghệ thuật tiền chiến? Khi các anh dứt khoát lật nhào quá khứ, các anh đã mặc nhiên công nhận – và đây là một trong những thất bại đầu tiên – là quá khứ ấy chưa hẳn đã đi qua, đã thành xác chết. Sự hiện diện của quá khứ trong lòng nghệ thuật hôm nay, không phải là một hồi quang đơn giản mà tự nó đã là một thực tại, một vấn đề, một dấu hỏi, một thách đố…

…Bởi vậy là một vô lý nếu không nói là một nông nổi lãng mạn khi chúng ta nhân danh một nghệ thuật để lên án một nghệ thuật.

Nghệ thuật là một trong thể hiện lớn lao nhất của tự do con người…. Thái độ cần thiết là xem nghệ thuật tiền chiến như bất kỳ một nghệ thuật nào – là một công trình nhân loại, một sự sống và tác phẩm chính là thể hiện sự sống… Nói đến một xác chết nghệ thuật là một cái gì không thể quan niệm được….

….Thời đại chúng ta không thể giải thích bằng những danh từ im lìm băng giá của tâm lý học, xã hội học, siêu hình học. Sự thật và cuộc sống không nằm trọn trong những danh từ ấy. Tại sao lại phẫn nộ hoang mang, thắc mắc, quằn quại trước thực tại vì thử hỏi khi đó cuộc đời có thay đổi chút nào không hay nó vẫn tràn đầy ra đó, ương ngạnh và tự do. Nó vẫn không thay đổi với người học trò vẫn đi học, người thợ vẫn âm thầm làm việc, nó vẫn gần gũi và xa cách chúng ta muôn trùng.

Một nhà văn Mỹ, Kerouac đã nói:“Tôi sẽ phải chọn lựa giữa văn nghệ và nghề lái xe chạy trên các con đường trong nước Mỹ. Tôi nghĩ rằng tôi nên chọn nghề lái xe vì ở đó tôi sẽ không phải phát biểu gì cả mà tất cả đều có thực.”

Chúng tôi tìm thấy trong lời nói ấy một thái độ nghệ thuật lớn lao, dũng cảm mà mọi chủ trương nghệ thuật kết bằng những danh từ, những lý thuyết suông không thể so sánh được.

Vì cuộc đời vẫn tiếp diễn, bất khả xâm phạm trong khi những tác phẩm nghệ thuật vẫn tiếp tục ra đời và tạo nhiều giông bão trong những câu chuyện vô trách nhiệm quanh những tách càphê…”.

Tác giả Huỳnh Phan Anh và Dương Trần Thảo

(Trích tuần báo Mã Thượng xuất bản năm 1961 tại Sài Gòn)

Thời sinh viên và tự do tư tưởng

Huỳnh Phan Anh và tôi cùng đậu vào trường Đại học Sư phạm Đà Lạt giữa năm 1961. Hai chàng trẻ tuổi đầy ước mơ và tham vọng làm một chuyện mới trong thực trạng văn hóa thời đó.

Ở Đà Lạt trong khung cảnh nên thơ của xứ thông reo và xứ hoa đào, chúng tôi vùi đầu vào sách vở triết lý tôn giáo, xã hội học, văn chương hiện thực, hiện sinh. Giữa vòng tay của tôn giáo và giáo điều, những chàng thanh niên đó mơ làm kẻ nổi loạn, vô thần, không tin có Chúa ở trên trời.

Tôn giáo là cái mũ, cái áo mặc ngoài, con người đàng sau và bên trong vỏ bọc là gì? Thần thánh hay trần tục. Xác thịt hay cao thượng. Tất cả là sản phẩm của suy tư được nhào nặn trong thực tế va chạm của cuộc sống. Chỉ có con người tự quyết định và làm nên số phận của mình từng phút, từng giờ. Con người là sản phẩm của chính anh ta trong cuộc vật lộn với người khác, với môi trường và thế giới chung quanh. Con người tự quyết định lấy số phận của mình không ai sống dùm và sống thay kiếp sống của người khác. Tôi suy tư vậy là tôi hiện có. Tôi suy tư là tôi sống và quyết định đời sống của tôi mỗi giây phút đi qua.

Giữa khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, giữa giảng đường thênh thang lúc nào cũng ẩn hiện hình bóng Chúa, chúng tôi không một ngày đi nhà thờ cầu nguyện, cũng không một buổi ghé Chùa Linh Sơn tĩnh tâm. Chúng tôi lăn xả vào sách vở cũng như thả hồn suy tư, bay tản mạn theo khói thuốc lá, theo những dòng nhạc lãng mạn thời thượng hàng đêm ở quán Càphê Tùng. Tiếng hát u uẩn của Thuý Nga, tiếng hát da diết buồn của Thanh Thuý lúc nào cũng văng vẳng bên tai. Chúng tôi sống theo những suy nghĩ riêng vừa thu nhặt được từ sách vở hiện sinh, từ văn chương hiện thực xã hội. Sartre hay Camus ? Về tư tưởng triết học, về quan niệm văn chương hư vô hay nổi loạn. Goethe hay Kant? Jesus Christ hay Karl Marx? Tất cả chỉ là suy tư, giáo điều. Tất cả chỉ là tư duy của một thời kỳ (nghĩ như thế có chắc đúng không?!)

Con người phải làm lại từ đầu và làm lại tất cả. Đó là sự sáng tạo, sự tiến lên của dòng chảy vận động văn hoá xã hội. Một cuộc phiêu lưu, va chạm trong tư tưởng không bến không bờ, phá vỡ các công thức, các giáo điều, các lý tưởng.

Con người không phải là tượng đá. Con người luôn thay đổi, luôn hình thành. Tôi là ai ? Hôm nay và ngày mai. Đó là sự phát triển không giới hạn. Đó là tự do.

Tự do tư tưởng là phá vỡ các giới hạn, các ràng buộc. Cách mạng tư tưởng là phá xiềng tinh thần. Điểm khởi đầu cho các xáo trộn và đổi mới xã hội.

Những chàng thanh niên trí thức thời kỳ 1960-1963 sống trong tâm tình và suy tư tương tự như thế. Và vì không có một chỗ để đỡ đầu, để tựa lưng cho nên phương hướng của họ là sự vô phương hướng.

Nhớ lại giai đoạn đó tôi và bạn bè thường sống trong nỗi suy tư và tâm tình của những kẻ nổi loạn (Revolté).

Nhiều người đã nổi loạn và có lẽ đã may mắn, gặp con đường đi làm cách mạng theo kiểu cộng sản. Trong giới sinh viên Đại học Đà Lạt thời đó không thiếu những chàng trai âm thầm đi theo tiếng gọi của cộng sản. Võ Văn Điểm, Nguyễn Trọng Văn, sau nữa… Cao Thị Quế Hương… là thể hiện tích cực của những tình cảm nổi loạn, bức phá.

Đại đa số đi theo chiều ngược lại. Hiện sinh, vô thần, không chấp nhận khuôn thước, rào cản, luôn đi tìm cái mới. Trong số những người này có Huỳnh Phan Anh, Huỳnh Đạt Bửu, Võ Văn Bé, Tô Văn Lai, Huỳnh Quan Trọng…và nhiều thanh niên khác đứng giữa dòng cộng sản và tôn giáo.

Chúng tôi đi không bến không bờ

   Trước mặt là dòng sông, sau lưng là nghĩa địa

(thơ Tô Thuỳ Yên, nhóm Sáng Tạo)

Não trạng sống của trí thức Sài Gòn, trí thức miền Nam thời bấy giờ tương tự như thế. Còn ngày mai sẽ ra sao? Đó là những bến bờ không định trước được của lịch sử. Tôi và nhiều bạn bè đã rời ghế trường đại học trong hoàn cảnh suy tư đó. Chúng tôi đã bị xô đẩy và vùi dập bởi nhiều cơn sóng lớn nhỏ của lịch sử kể từ 1965 về sau này…

@ Viet-Studies

Ông Nemtsov có thể nào là mối đe dọa đối với TT Putin dù sống hay chết?

Ông Boris Nemtsov nói chuyện với các ủng hộ viên trong một cuộc biểu tình phản đối ở Moscow, 6/5/13

Ông Boris Nemtsov nói chuyện với các ủng hộ viên trong một cuộc biểu tình phản đối ở Moscow, 6/5/13

Việc nhà lãnh đạo đối lập Nga Boris Nemtsov bị bắn chết trên đường phố trong thủ đô Moscow có nghĩa là một nhân vật chỉ trích Tổng thống Vladimir gay gắt nhất đã bị loại ra khỏi sân khấu chính trị nước Nga. Tuy nhiên vẫn còn chờ xem liệu, dù sống hay chết, ông Nemtsov có vẫn là mối đe dọa đối với quyền cai trị của ông Putin hay không.

Hôm Chủ nhật, chính quyền thủ đô Nga đã chấp thuận cho mở cuộc tuần hành với số người tham gia lên đến 50.000 người trong trung tâm Moscow. Cuộc tuần hành, để thay cho cuộc biểu tình phản đối đã được hoạch định từ trước, dự kiến đông hơn nhiều, sẽ cung cấp một diễn đàn lớn cho các nhà phê bình Điện Kremlin, những người đang nghi ngờ có bàn tay chính phủ trong cái chết của ông Nemtsov.

Dân chúng tuần hành tưởng niệm ông Boris Nemtsov, 1/3/15
Dân chúng tuần hành tưởng niệm ông Boris Nemtsov, 1/3/15

Ngay cả các giới chức chính phủ Putin dường như cũng cảm thấy mối nguy hiểm mà cái chết dũng khí của vị cựu phó thủ tướng thứ nhất có thể đặt ra, gợi lên một cách không minh bạch việc một chiếc xe chạy qua bắn chết ông vào tối Thứ sáu có thể là hành động cố ý “khiêu khích” trước vụ biểu tình được hoạch định vào cuối tuần.

Là một chính trị gia năng động, đầy phong cách và nói tiếng Anh hầu như hoàn mỹ, ông Nemtsov 55 tuổi, là người đề xướng các biện pháp cải cách kinh tế tự do mạnh mẽ và đã nổi bật trên sân khấu quốc gia trong thập niên 90, trong cương vị tỉnh trưởng Nizhny Novgorod rất được lòng dân vùng

Sự nghiệp chính trị đầy hứa hẹn

Một thời được truyền thông mệnh danh là “chàng trai vàng”, (một người thành công và được ngưỡng mộ), trên chính trường Nga, ông Nemtsov sau đó được tổng thống lúc bấy giờ là ông Boris Yeltsin đề cử làm phó thủ tướng thứ nhất, một việc mà nhiều người diễn giải như hành động của nhà lãnh đạo Nga chuẩn bị người kế nhiệm ông trong Điện Kremlin.

Nhưng ông Yeltsin đã bàn giao quyền cho ông Putin, khi ông Putin đắc cử tổng thống năm 2010. Ông Nemtsov trở thành một người lớn tiếng phê phán tân lãnh đạo Nga, trong lúc Điện Kremlin bóp nghẹt tiếng nói của các tổ chức truyền thông quan trọng và phát động một chiến dịch nhắm vào những nhà tài phiệt nhiều ảnh hưởng chính trị trong thời ông Yeltsin không chịu tuân theo đường lối của chính phủ.

Ông Nemtsov trở thành đại biểu của Viện Duma, hạ viện Nga, trong nhiệm kỳ đầu của ông Putin. Ông mất ghế trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2003, cuộc bầu cử mà Đảng Nước Nga Thống nhất một đảng ủng hộ Điện Kremlin thắng lớn.

Trong những năm tiếp theo sau, ông lãnh đạo một loạt các phong trào và các đảng đối lập chủ trương cấp tiến, cùng lúc viết các bài báo tố giác chính phủ của ông Putin tham nhũng lớn.

Đoàn người tuần hành giương biểu ngữ khổng lồ với hàng chữ
Đoàn người tuần hành giương biểu ngữ khổng lồ với hàng chữ “Những viên đạn cho tất cả chúng ta, những anh hùng không bao giờ chết!” Moscow, Nga, 1/3/2015.

Năm 2013, ông Nemtsov phổ biến một bản báo cáo nói rằng các viên chức và doanh nhân đã đánh cắp đến 30 tỷ đôla trong ngân quỹ dành để tài trợ Olympics Mùa đông 2014 tổ chức ở quê nhà của ông thành phố Sochi, khu nghỉ mát nằm ven Hắc hải. Ông Nemtsov nói với đài RFE/RL vào lúc đó:

“Rõ ràng các bạn bè thân hữu của Putin đang điều hành công tác chuẩn bị cho Thế vận hội Olympic. Cũng hiển nhiên là người ta sẽ không sẵn sàng đưa bạn bè mình vào tù. Tuy nhiên chúng ta không thể nhìn tất cả những việc này một cách thụ động, vì quy mô (của các hoạt động) của họ sẽ ngày càng lớn. Mức độ biển thủ mà họ thực hiện không chỉ là một trò chơi của trẻ con mà là một mối đe dọa thực sự cho an ninh quốc gia của Nga.”
Tiếng tăm lên nhanh

Ông Boris Yefimovich Nemtsov sinh ngày 9 tháng 10 năm 1959 ở Sochi. Ông học khoa vật lý, và tốt nghiệp tiến sĩ năm 1985 tại một đại học ở thành phố Gorky trên bờ sông Volga, hiện nay được gọi là thành phố Nizhny Novgorod, cách thủ đô Moscow 250 dặm về hướng đông.

Ở Gorky, hoạt động chính trị đầu tiên của ông Nemtsov là vận động chống việc xây dụng một nhà máy điện hạt nhân trong vùng. Năm 2013 trong cuộc phỏng vấn với đài phát thanh Ekho Moskvy của Nga, ông cho biết mẹ ông, một bác sĩ  nhi khoa, là nguồn động viên cho ông trong hoạt động về an toàn điện hạt nhân. Ông cho biết:

“Mẹ tôi bắt đầu thu thập chữ ký, và tôi lo sợ họ sẽ bỏ tù, bắt mẹ tôi. Vì vậy tất nhiên tôi đứng cạnh bà để bảo đảm không ai đụng đến bà.”

Năm 1990, vào lúc 30 tuổi, ông Nemtsov thắng được một ghế trong đoàn Xô viết Tối cao Cộng hòa Nga, và sau đó tiến vào Xô viết Tối cao Liên Xô

Khi một nhóm chủ trương cứng rắn trong Đảng Cộng sản và cơ quan tình báo Xô viết KGB thực hiện mưu toan đảo chính nhà lãnh đạo Xô viết Mikhail Gorbachev tháng 8 năm 1991, ông Nemtsov ngồi với ông Yeltsin tại tòa nhà quốc hội và đứng cạnh chiếc xe tăng, nơi ông Yeltsin đọc bài diễn văn nổi tiếng trước những người  xuống đường phản đối. Ông nói trong cuộc phỏng vấn với đài RFE/RL hồi năm 2011:

“Tôi hiểu vào thời gian đó có những ngày rất quan trọng đối với nước tôi. Và thực sự nó là ngày cáo chung của chế độ cộng sản. Chúng tôi hiểu rất rõ. Những chúng tôi không đã không thực tế.”

Thúc đẩy cải cách kinh tế

Nhiều tháng sau cuộc đảo chính thất bại, ông Nemtsov được ông Yeltsin đề cử vào chức tỉnh trưởng Nizhny Novgorod và sau đó tái đắc cử. Trong thời gian làm tỉnh trưởng, ông Nemtsov hợp tác với các chính trị gia khác để đưa ra những biện pháp cải cách thị trường và tư hữu hóa nhằm phục hồi nền kinh tế của khu vực công nghiệp.

Năm 1994, ông Yeltsin đã từng gợi ý rằng một ngày nào đó ông Nemtsov có thể sẽ điều hành đất nước. Ông Yeltsin nói về ông Nemtsov trong một chuyến đi đến Nizhny Novgorod vào năm đó, “Ông ấy quá chín chắn đến nổi quý vị đã có thể đưa ông lên làm tổng thống.”

Tiếng tăm của ông Nemtsov tiếp tục lên cao và vào năm 1997 ông Yeltsin để cử ông vào chức vụ phó thủ tướng thứ nhất. Năm đó ông 37 tuổi.

Lúc ấy ông nói đùa rằng việc bổ nhiệm ông “như đặt ông trước một đội hành quyết,” mặc dù ông đã chứng tỏ xu hướng không lui bước trước một cuộc tranh đấu.

Trong một cuộc tranh luận  được truyền hình cách đây 2 năm, ông Vladimir Zhirinovsky một nhân vật chủ trương dân túy hất ly nước cam vào mặt ông Nemtsov và ông hất trả ly nước trái cây vào ông ta.

Tuy nhiên, thời gian của ông Nemtsov trong chính phủ liên bang ngắn ngủi, vào lúc Nga tiến đến tình trạng vỡ nợ tháng 8 năm 1998. Ông bị giáng chức phó thủ tướng vào tháng 4 năm đó, và đệ đơn từ chức mấy ngày sau vụ vỡ nợ, và ông Yeltsin đã chấp thuận đơn từ chức.

Thực tế nghiêm trọng hơn nhiều

Ông Nemtsov tiếp tục đồng sáng lập chính đảng Liên minh Cánh hữu (SPS) năm 1999, cùng với các cựu thành viên trong đội ngủ của ông Yeltsin. Đảng này gắn chặt với biện pháp tư hữu hóa và cải cách trong thập niên 90 mà nhiều người Nga  chỉ trích gay gắt sau khi trải qua các cuộc khủng hoảng kinh tế trong thập niên.

Năm đó, ông ra ứng cử với tư cách thành viên đảng SPS và được bầu làm đại biểu Viện Duma, giữ vai trò phó chủ tịch hạ viện.
Tuy nhiên 4 năm sau, đảng này thất bại không thắng được ghế nào trong cuộc bầu cử viện Duma, dưới sự chi phối của Đảng Thống nhất Nước Nga, dẫn đến việc ông Nemtsov bắt tay vào hoạt động chính trị đối lập không theo hệ thống.

Ông Nemtsov trở thành một nhà lãnh đạo các cuộc biểu tình phản đối của đối lập chống ông Putin và chính phủ của ông và bị cảnh sát chống bạo động bắt hết lần này đến lần khác trong các cuộc biểu tình trong thập niên qua.

Các nhóm và truyền thông ủng hộ Điện Kremlin phỉ báng ông cho rằng như một con rối của các chính phủ phương Tây, tìm cách đưa nước Nga trở lại tình trạng hỗn loạn xã hội và kinh tế như những năm trong thập niên 90.

Năm 2009, ông Nemtsov ra ứng cử thị trưởng thành phố Sochi, nhưng thất bại nặng trước ứng cử viên của Điện Kremlin trong cuộc bầu cử mà các nhà hoạt động đối lập nói rằng bị hoen ố bởi gian lận và thao túng đầy dẫy.

Có một lúc trong cuộc vận động, một kẻ tấn công đã ném ammonia vào mặt ông Nemtsov. Sau đó, ông nói ông tin là vụ tấn công do những nhà hoạt động ủng hộ Điện Kremlin thực hiện vì những chỉ trích của ông về Olympic Mùa Đông ở Sochi.

Đánh giá ông Putin thay đổi

Sau khi ông Yeltsin bổ nhiệm cựu viên chức KGB vào chức vụ thủ tướng năm 1999, ông Nemtsov thoạt đầu đề nghị tuyên dương ông Putin, gọi ông ra một nhân vật rất được chấp nhận đối với những người cấp tiến Nga và là một người thông minh, nhiều kinh nghiệm, có khả năng

Nhưng năm 2013 ông nói với ông Ekho Moskvy rằng ông chưa bao giờ ủng hộ Putin, và nói rằng mẹ ông nói với ông “đừng bao giờ tin” một người KGB.

Ông nói trong 4 năm đầu nhiệm kỳ của ông Putin – trong đó có vụ bắt ông trùm dầu mỏ Mikhail Khodorkovsky và đáp ứng của chính quyền trong vụ tấn công khủng bố vào trường học số 1 của Beslan năm 2004 – khiến ông trở thành người vĩnh viễn chống tổng thống Nga.

Nói chuyện với đài phát thanh RFE/RL năm 2011, ông Nemtsov nói, ông Yeltsin và đội ngủ của cựu tổng thống “ngây thơ” tin rằng sự cáo chung của chế độ cộng sản có nghĩa là sẽ “có đời sống tốt đệp trong vài tháng.” Ông nói:

“Chúng tôi tin rằng chúng tôi chỉ loại trừ chủ nghĩa công sản và chúng ta sẽ được may mắn. Nhưng không may là thực tế nghiêm trong hơn nhiều và phúc tạp hơn nhiều so với những gì chúng tôi tin vào lúc đó.”

@Voa

Lượm lặt tin 3-3-15

TQ điều tra con trai cựu thượng tướng

Thiếu tướng Quách Chính Cương đã bị điều tra ‘vì tham nhũng’

Trung Quốc công bố chính thức điều tra 14 sỹ quan cao cấp gồm cả một thiếu tướng, con trai của cựu Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Thượng tướng Quách Bá Hùng.Mang hàm thiếu tướng, ông Quách Chính Cương (trong hình) đang là phó chính ủy tỉnh đội Chiết Giang và đã bị điều tra vì ‘vi phạm pháp luật’, theo truyền thông nhà nước Trung Quốc hôm 2/3/2015.

Theo Reuters và các báo ở Hong Kong, ‘vi phạm pháp luật’ là cách báo chí nhà nước Trung Quốc gọi tội tham nhũng, có liên quan đến tiền bạc.

Năm nay 45 tuổi ông Quách Chính Cương là con trai của Thượng tướng Quách Bá Hùng, người từng là Ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản và nắm chức Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, cơ quan lãnh đạo quân Giải phóng Trung Quốc.

Trước đó, Tướng Quách Bá Hùng từng làm tham mưu trưởng và tư lệnh các quân đoàn quan trọng của Trung Quốc và cũng nắm Quân khu Lan Châu ở vùng phía Tây, giáp với Tân Cương.

Ở cương vị Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, ông đã thăm Việt Nam hồi năm 2010.

Chống tham nhũng không ngừng

Tướng Quách Bá Hùng từng thăm Việt Nam năm 2010

Tuy nhiên, sau khi ông về hưu năm 2013, Tướng Quách Bá Hùng có vẻ như đã trở thành đối tượng của một chiến dịch chống tham nhũng.

Hồi tháng 1/2015, một thiếu tướng cựu trợ lý cho ông đã bị bắt cũng vì cáo buộc ‘vi phạm pháp luật’.

Viên tướng này cũng từng làm việc cho Thượng tướng Từ Tài Hậu, người vừa ‘thú tội’ đã nhận tiền để bán quân hàm.

Nay chính con trai ông Quách Bá Hùng cũng chính thức trở thành ‘đối tượng điều tra’ sau nhiều tuần có tin đồn về số phận của ông này đã bị Ủy ban Kỷ luật Trung ương Đảng định đoạt.

Có vẻ như các vụ bắt quan chức cao cấp của Đảng, chính quyền và quân đội Trung Quốc vẫn diễn ra không ngừng kể từ khi Chủ tịch Tập Cận Bình nêu khẩu hiểu ‘Đả hổ diệt ruồi’.

Gần đây nhất, báo chí Trung Quốc lại đề cao thuyết ‘Tứ toàn’ của ông Tập, gồm cả nội dung ‘dùng luật trị nước’.

Hồi tháng 2/2015, có thêm một cựu quan chức cao cấp, ông Tô Vinh, từng là Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc đã bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản.

Ủy ban Kỷ luật Trung ương (CCDI) nói ông đã lợi dụng vị trí này để nhận “những khoản hối lộ lớn”.

—————————————–

Thủ đoạn lừa đảo mới trên Facebook

Kể từ khi Facebook ra chính sách yêu cầu người dùng phải cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân, nếu không sẽ bị đóng tài khoản, kẻ gian đã lợi dụng việc này để lừa đảo chiếm đoạt tiền của không ít người. Ban đầu chỉ là 50.000 đồng, rồi thêm 50.000 đồng nữa, rồi tiếp tục tăng lên 100.000 đồng hoặc 200.000 đồng, trung bình mỗi ngày, có cả chục nạn nhân sập bẫy kiểu lừa đảo này.

Tin bợm, mất bò

Sau khi trò lừa đảo “ông chú bên Viettel” bị cơ quan công an phát hiện, xử lý, những tưởng hình thức mạo danh này sẽ chấm dứt. Thế nhưng gần đây, một loại hình lừa đảo tương tự với thủ đoạn dụ người dùng nạp thẻ điện thoại lại xuất hiện. Chị N.H.Y là chủ tài khoản Facebook có tên Miranda’s Style – một shop chuyên bán hàng thời trang nữ online và trong danh sách bạn bè của chị có gần 2.000 người, cũng là những khách hàng mà chị thường xuyên có trao đổi công việc.

Chị N.H.Y cho biết: “Gần đây, Facebook có yêu cầu người dùng phải sử dụng tên thật. Mọi thông tin đã đăng ký trước đây nếu chưa chính xác bắt buộc phải điều chỉnh lại. Tuy nhiên, do không rành về Internet nên tôi không biết phải làm như thế nào. Thêm nữa, Facebook cũng buộc các chủ tài khoản có nhiều bạn bè sẽ phải chuyển đổi trang cá nhân của mình thành trang Fanpage. Nếu không đổi, họ sẽ không thể đăng nhập vào để sử dụng như trước. Trong quá trình tìm hiểu để thực hiện các yêu cầu trên, tôi vô tình thấy một tài khoản Facebook mang tên “Chuyển đổi từ trang Fanpage cộng đồng sang trang tài khoản Facebook cá nhân”. Chủ tài khoản này tự xưng là Giang Gia Huy (hay còn gọi là Huy BKAV) nguyên là giảng viên một trường đại học ở Hà Nội và nhận xử lý mọi sự cố liên quan tới việc khắc phục tài khoảng Facebook chỉ trong 3 ngày với giá rẻ. Anh ta yêu cầu phải đưa mật khẩu Facebook và thanh toán tiền trước thì mới làm giúp. Vì tin tưởng, đồng thời khoản tiền cũng không lớn, chỉ 300.000 đồng nên tôi đã gửi cho anh ta. Nhưng sau khi nhận được mật khẩu và tiền, “giảng viên” này đã… mất hút”.

lừa-đảo, Facebook, thủ-đoạn, công-nghệ-cao, chiêu, sinh-viên
Những tài khoản Facebook của cùng một người được lập ra để lừa đảo và tố cáo của thành viên diễn đàn sinh viên IT

Cũng theo chị N.H.Y, Giang Gia Huy không nhận tiền mặt, không nhận chuyển khoản mà yêu cầu khách hàng mua thẻ nạp tiền điện thoại và gửi mã số thẻ hoặc thanh toán qua cổng thanh toán điện tử Bảo Kim (baokim.vn). 3 ngày kể từ khi trả tiền mà không nhận được hồi âm và mất liên lạc, chị N.H.Y kiểm tra lại tài khoản Facebook của mình thì tài khoản này đã bị đổi mật khẩu. Đồng thời qua bạn bè, chị N.H.Y thấy Giang Gia Huy đã dùng chính Facebook của mình để đăng quảng cáo dịch vụ của anh ta và tiếp tục trò lừa đảo với những bạn bè trong danh sách bạn bè của mình.

Liên tục biến hình

Lần theo thông tin chị N.H.Y cung cấp, phóng viên đã liên lạc nhiều lần với số điện thoại 0964420xxx của Giang Gia Huy, nhưng số này luôn trong tình trạng không liên lạc được. Kênh liên lạc duy nhất với Huy chỉ là Facebook hoặc số điện thoại 0983470xxx, nhưng số điện thoại thứ hai này là loại Sim 3G và chỉ dùng để gửi và nhận tin nhắn. Còn trên Facebook của Huy, khi chúng tôi bình luận thì ngay lập tức bị xóa. Lần theo các đường link quảng cáo khác trên trang của Huy, thấy anh ta lại tự xưng là: Chủ nhiệm khoa CNTT thuộc Trung tâm đào tạo lập trình viên công nghệ cao IQT Bắc Giang. Nhưng thực tế đây là một địa chỉ ma bởi Bắc Giang không hề có trung tâm nào như vậy.

Trên diễn đàn Sinh viên IT (sinhvienit.net) cũng có khá nhiều nạn nhân của Giang Gia Huy. Nickname: Dangkimcuc – cũng là một nạn nhân cho biết: “Mình có một nick facebook bị khóa. Mày mò trên mạng, mình thấy chủ nhân số điện thoại 0964420xxx quảng cáo mở được khóa. Mình thấy trên facebook của hắn rất nhiều người bình luận là đã mở khóa được và cảm ơn nên đã tin. Hóa ra, sau này, mình mới biết được đó là những nick ảo do hắn lập ra để tự bình luận. Lần thứ nhất mình chuyển cho hắn 50.000 đồng để mua mã khuyến mãi gì đó. Lần thứ hai, mình cũng nghi ngờ nhưng tiếc cái nick nên vẫn chuyển thêm 100.000 đồng như yêu cầu. Sau đó, mình mất liên lạc với hắn”.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, sau mỗi lần bị các nạn nhân tố cáo, Giang Gia Huy lại lập một tài khoản Facebook khác để tìm kiếm những con mồi mới. Tài khoản mới nhất có tên: “ADM hỗ trợ: Mở khóa TK Facebook chuyển đổi Fanpage về Facebook cá nhân” và sử dụng số điện thoại mới là 0969997xxx. Số các nạn nhân của Giang Gia Huy rất khó thống kê, bởi sau khi Facebook của họ bị đổi mật khẩu thì không ai có thể vào để khiếu nại được nữa. Không chỉ lừa đảo trong lĩnh vực Internet, lần theo những số điện thoại này, chúng tôi được biết anh ta còn kinh doanh cả thuốc kích dục. Các nạn nhân của trò lừa này, người mất ít nhất là 50.000 đồng, người mất nhiều là 300.000 đồng. Cũng chính vì số tiền không đáng là bao nên đa số nạn nhân đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Tuy nhiên, với con số nạn nhân cả chục người mỗi ngày, số tiền hẳn không hề nhỏ.

(Theo ANTĐ)

Hội Nhà Báo Độc Lập vận động thông qua Luật Biểu Tình năm nay

Hội Nhà Báo Độc Lập đang mở chiến dịch vận động dư luận trong ngoài nước cổ võ cho dự thảo “Luật Biểu Tình” được quốc hội thông qua ngay trong năm 2015 từng bị trì hoãn nhiều lần.

Người dân biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn ngày 11/5/2014 bị Công an chận lại, không thể đến gần tòa tổng lãnh sự Trung Quốc. (Hình: LE QUANG NHAT/AFP/Getty Images)

Tuần vừa qua, Hội Nhà Báo Độc Lập tại Việt Nam công bố một bức thư ngỏ, phát động cuộc vận động cho “Luật Biểu Tình” để thể hiện quyền tự do phát biểu của công dân, từng được Quốc hội CSVN dạo đờn từ năm ngoái là sẽ thông qua trong năm nay.

Tuy nhiên, báo chí tại Việt Nam cho hay chế độ Hà Nội sẽ có thể chỉ biểu quyết cho luật vừa kể vào khóa cuối năm 2016, tức sau khi đảng CSVN đã dàn dựng sắp đặt xong guồng máy đảng và nhà nước ở kỳ họp Đại Hội Đảng khoảng Tháng Giêng cùng năm này.

“…từ Hiến pháp 1992 đến nay đã không có bất kỳ văn bản luật nào được ban hành dành cho quyền biểu tình của công dân. Nhà nước cũng thể hiện thái độ hoàn toàn thiếu thiện chí khi nhiều lần, tìm mọi cách trì hoãn việc xây dựng và đưa luật biểu tình ra Quốc hội”. Hội Nhà báo Độc Lập viết như vậy về một trong những lý do cần thiết cho cuộc vận động.

Bản hiến pháp của CSVN gần đây nhất, thông qua năm 2013, điều 25 viết rằng “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Bản hiến pháp 1992 cũng có điều khoản quy định như thế nhưng đến nay, chỉ có các cuộc biểu tình do đảng và nhà nước CSVN đứng ra tổ chức và điều động thì mới không ai bị bắt hay đàn áp. Tất cả các cuộc biểu tình khác của người dân đều bị coi là “bất hợp pháp” và đều bị cấm đoán. Thậm chí, khi tin tức biểu tình bị Công an biết được, nhiều người đã bị bắt giữ, đánh đập hoặc cấm ra khỏi nhà.

Trong tình thế người dân “bị cô lập đến mức tối thiểu”, Hội Nhà Báo Độc Lập đã hợp tác với một số luật gia, chuyên gia tổ chức xây dựng một bản dự thảo “Luật Biểu Tình” lấy căn bản là các điều ước quốc tế về quyền con người mà nhà cầm quyền CSVN đã tham gia ký kết.

Vì chế độ Hà Nội đã “hứa lèo” nhiều lần, Hội Nhà Báo Độc Lập mở cuộc vận động cho một bản dự thảo “Luật Biểu Tình” hầu “tạo tác động sâu sắc, cũng như có những hành động cần thiết đối với Nhà nước và Quốc hội Việt Nam nhằm thông qua luật Biểu tình ngay trong năm 2015.”

Ngoài “Luật Biểu Tình” còn có “Luật Trưng Cầu Dân Ý” cũng vốn được đề cập từ nhiều năm qua nhưng không hề được thấy thành luật vì nó đụng chạm tới quyền cai trị độc tài độc đảng của đảng CSVN.

Hàng chục ngàn người dân, nhiều tổ chức kể cả các tổ chức công giáo từng đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN nhưng chế độ Hà Nội vẫn giả điếc để ban hành bản hiến pháp mới 2013. Trong đó từ ngữ dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN mơ hồ hơn bản hiến pháp cũ, thực chất là không thay đổi.

Quốc Hội gồm phần lớn là các đảng viên cao cấp của đảng CSVN nên giới báo chí quốc tế từng gọi là  cái con dấu cao su (rubber stamp) chứ không phải là một định chế độc lập có thực quyền. Các đạo luật đều do các bộ ngành của chế độ soạn thảo rồi đưa cho Quốc hội biểu quyết chiếu lệ, không phải do các đại biểu quốc hội soạn thảo.

@NguoiViet